Chùa Đồng Thiện – Chùa Hải Ninh –Tác giả Dương Anh Dũng

Ngôi chùa xa xưa nằm trên đất Phật của tám đời vua nhà Lý tại vùng Kinh Bắc. Là ngôi chùa do ngài Dương Danh Thành, tỉnh Bắc Ninh đỗ tiến sĩ năm 1838, đến năm 1849 ông dựng ngôi chùa thờ Phật gồm bẩy gian tiền đường ba gian hậu cung bằng gỗ lim một tầng lợp ngói đặt tên là chùa Linh Ứng. Năm 1933 ông Dương Bá Trang người thừa tự đã cúng chùa cho Hội Đồng Thiện chuyển về Hải Phòng. Năm 1936 Hội Đồng Thiện hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Phòng đã quyên góp công của với lòng hảo tâm của thiện nam tín nữ, di chuyển công trình về ven bờ Bắc sông Lạch Tray, vùng Đôn Niệm, xây dựng thành ngôi chùa mang tên tự là “Hải Ninh”. Tọa lạc giữa một vùng đất đẹp khoảng 20 mẫu bắc bộ, ngôi chùa được xây dựng chính là mục đích làm nơi Phật ngự để che chở cho dân thôn bản hạt và cho những hương hồn người quá cố.

Chùa Đồng Thiện thuộc hệ phái Bắc Tông, chùa tọa lạc tại số 432 khu phố II đường Thiên Lôi phường Vĩnh Niệm quận Lê Chân. Nằm giữa ngã ba, sát mặt đường, cổng chùa nhìn thẳng ra phố Đồng Thiện. Ngôi chùa, xây dựng từ xưa trải qua mưa nắng đã xuống cấp, được nhà chùa trùng tu xây dựng lại hoàn chỉnh có diện mạo như ngày nay. Năm 1991  khởi công xây dựng ngôi bảo điện, sau 5 năm là xong. Tiếp đó là xây dựng các công trình phụ trợ đến năm 1998 là hoàn thành toàn bộ công trình. Cùng với xây dựng các công trình thờ tự, nhà chùa đã đúc chuông, đúc tượng, xây nhà bia , vườn tháp…tạo dựng ngôi chùa thành một quần thể kiến trúc văn hóa tín ngưỡng danh thắng nối tiếng ở Hải Phòng.

Khuôn viên đất chùa bắt đầu từ hết vỉa hè đường Thiên Lôi là Tam quan ngoại, gồm hai bức tường gạch thấp nối với  hai cột trụ phía trên đắp hai cây đèn, trên đỉnh là búp sen của nhà Phật.

Qua khoảng sân hẹp đến Tam quan thứ nhất.Tam quan xây bằng gạch đất nung có chiều cao tên 10 m chiều ngang 15 m chia làm ba cổng. Cổng chính xây ba tầng mái, cổng phụ xây hai tầng mái, phía trên đắp nổi tên chùa ba chữ Hải Ninh Tự, hai bên trụ cổng là hai câu đổi thể hiện thiên chức đặc biệt của ngôi chùa giữa khuôn viên nghĩa trang:

  • Hải Ninh riêng một bầu trời cảnh Phật tiêu dao người bốn bể.
  • Đồng Thiện chung ba thước đất hương hồn phảng phất khách trăm năm.

Bước qua cổng tam quan thứ nhất, tâm hồn khách thập phương khai mở với khung cảnh lung linh như tranh vẽ. Một hồ sen bát ngát,  tọa lạc giữa hồ là tượng phật Di Đà tiếp dẫn tạc bằng đá xanh nguyên khối  cao hơn 4 m, nặng hơn 10 tấn. đứng trên tòa sen, dưới là đầm sen ngát thơm hương sắc như cảnh bồng lai. Phía trên bờ hồ trước Phật tượng là hương án với bát hương công đồng tín thí chủ đến chùa đều có khoảng lặng dừng chân thắp hương cung kính cầu Phật ban phúc lộc an lành.

  Chùa Đồng Thiện có kiến trúc với dáng bề thế, khang trang gồm nhiều tòa ngang dãy dọc, mặt quay hướng Đông Bắc. Chùa có hai lớp tam quan dọc theo đường “Thần đạo”, Qua tam quan thứ nhất, đi bên hồ nước tròn có chu vi gần 400m quanh năm đầy nước trong xanh, hoa sen nở rộ sẽ đến cổng tam quan thứ hai dẫn vào kiến trúc chính của chùa.

Cổng tam quan thứ hai là một loại cổng có ba lối đi thường thấy ở chùa chiền theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam. Với cửa giữa lớn hơn cửa hai bên mang ý niệm “ba cách nhìn” của Phật giáo gồm có “hữu quan”, “không quan” và “trung quan”, thể hiện cái sắc (giả), cái không (Vô thường) và trung dung của cả hai.

Với kiến trúc Tam quan xây dựng theo lối cổng có gác uy nghi, bề thế một gian, hai tầng tám mái chung quanh để thoáng không xây tường che, bốn bức dựng bốn cột tròn, kê trên chân tảng hình đôn đá, mái lợp ngói vẩy rồng rêu phong cổ kính, đao cong hình lá lật thâm thấp, thâm u, tạo nên một quần thể thống nhất tượng trưng cho thái cực. Hai tầng tám mái là biểu tượng của lưỡng nghi (âm và dương). Ngôi nhà vuông tượng trưng cho tứ tượng, tám mái là biểu tượng của “bát quái”. Người xưa quan niệm rằng: thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật hữu hình. Xa xưa có người về cõi Phật thì tam quan còn là nơi quàn linh cữu của vong linh, nơi các vị tăng ni lập đàn cầu siêu thoát.

Tam quan thứ hai này kiêm luôn gác chuông to lớn hiếm thấy ở các ngôi chùa Việt Nam khác. Đây chính là là tháp chuông cao 12 m chu vi 55 m, bốn trụ cột gỗ lim cao 10 m đường kính 60 cm, xung quanh có 12 cột quân  đường kính 40 cm. Nối từ cột cái đến cột quân là những bộ xà đùi, xà đại, bảy, kẻ được trạm trổ rất công phu và nghệ thuật.

Tháp chuông được chia làm ba tầng để treo ba quả hồng chung. Tầng thứ nhất treo quả đại hồng chung cao 2 m đường kính 1 m nặng 1600 kg, tầng thứ hai treo quả trung hồng chung nặng 800 kg, cao 2 m , tầng trên cùng treo quả tiểu hồng chung.

Qua tam quan thứ hai là vào khu chánh điện, một khoảng sân rộng lát gạch đất nung đón chào khách thập phương. Một ngọn giả sơn trấn tự uy nghi nhiều cảnh hoa khoe sắc. Trước Bảo điện là đại lư hương bằng đá xanh và hai cây mẫu đơn cổ kính, Hai bên Bảo điện là hai lầu bia, phía phải là bia ghi danh tính các hội viên khai sáng hội Đồng Thiện, phía trái là bia thờ Hậu Phật.

Khu Đại Hùng Bảo Điện là công trình bề thế, cao 15 m, rộng 350 m2 mang kiến trúc hình chữ “công” xây dựng theo lối chồng diêm phong cách “Mái đao Long chầu Phượng mớm”. Cung tiền gồm 7 gian 2 tầng mái có cổ đẳng, cung trung gồm 3 gian ống muống có cổ đẳng, cung hậu gồm 5 gian làm thành 3 tầng mái có cổ đẳng. Phía ngoài là năm bộ cửa lớn, mỗi bộ 4 cánh, thượng song hạ bản. Trên nóc chùa hai phía là đôi kìm ngậm nóc, chính giữa là bình Cam Lồ có phù điêu hổ phù đỡ phía dưới.

Với tâm hồn thanh tịnh thành kính, bước vào đại điện là một vùng huyền thoại phật đài. Điểm nhấn so với cách bài trí của chùa cổ miền Bắc là pho tượng Phật nằm ngay sau hương án. Pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nằm nghiêng về bên phải với 2 chân duỗi thằng, ngài đặt tay trái trên đùi và tay phải đặt dưới tai. Toàn bộ khuôn mặt đều bộc lộ sự thỏa mái và thư giản. Phật Thích Ca Nhập Niết Bàn là một vị chân tu đắc đạo và trở thành bậc Giác ngộ Chánh Đẳng Chánh. Ngài là người bỏ lại thân xác của mình tại nơi trần tục và hồn đã đi vào cõi thiên.

. Từ trên thượng điện tượng phật được xếp nghiêm cẩn từ cao xuống thấp, trên cao thờ các tượng Tam thế phật, bên dười là tòa cửu long. Đặc biệt còn có 1 tượng Phật tuyết sơn (khổ hạnh) cổ xưa được tạc từ thời Lê được tôn trí nơi đây. Tả hữu hậu cung là hai tòa Bồ tát Quan Âm Thiên Thủ và Bồ tát Địa Tạng cưỡi Kỳ lân. Chính giữa tiền đường là tượng Thích Ca Niết bàn bằng đồng.Trung tâm tiền điện phía trước tượng Phật nằm là hương án. Hai bên có tượng Hộ pháp trừng ác và khuyến thiện mỗi pho cao 3 m nặng 2 tấn.. Bên trái tiền điện thờ Đức Ông, bển phải tiền điện thờ Thánh Hiền. Hai đầu hồi tiền điện thờ ban thập điện, mỗi đầu hồi là 5 tượng phật ngồi uy nghi tự tại.

Hai bên sân phía ngoài Đại điện là hai dãy nhà, Bên phải là dãy nhà 10 gian, Trên nóc có ba chữ nho đắp nổi là  “Ký Đường Hậu”. Gian đầu hồi để thờ Tam tòa Thánh mẫu, tiếp đến là  nhà vong và nhà khách. Bên trái đại điện là dãy nhà Tổ Đường, nơi thờ các vị tổ sư đã viên tịch và là nơi tiếp khách của Chùa, trên nóc có ba chữ nho đắp nổi là  “Phụng Tổ Đường”.

Phía sau Bảo điện là nhà bia dựng 6 văn bia 1 văn bia nhỏ rộng 60 cm, cao 1 m trán bia ghi năm chữ “Đồng Thiện hậu bia ký”. Nội dung bia nói về lai lịch chùa gốc tích tại Bắc Ninh chuyển về, bia khắc sau khi chùa đựng xong vào năm 1936. Còn lại năm văn bia cao 2,5 m, rộng 1,2 m,  hai bia ghi danh tính các vị được thờ là hậu Phật , hai bia chép về lịch sử hình thành ngôi chùa, một bằng chữ nho một bằng chữ quốc ngữ, một bia có nội dung là “Phương danh Phật tử cung tiến đúc chuông”.

Nguyên văn bia “ Bia lịch sử chùa Hải Ninh” như sau:

Trong kinh Phật dạy người làm việc thiện thì vạn sự tốt lành sẽ đến. Được Phật độ đó là phúc là do Phật mà Phật ở tâm. Hội Đồng Thiện sáng lập năm 1912 có 1107  hội viên thiện nguyện cùng góp của nhà đóng để tập phúc. Hội có khu đất 20 mẫu tại thôn Nghĩa Xá huyện  Hải An tỉnh Kiến An. Ban đầu lập thành một Nghĩa trang để mai táng những người mệnh một cùng các Phù thi tử lộ. Lập ra các nhà Dạ lữ Viện, hưng công trợ bần phù dục anh Nhi. Việc phúc có tâm loại thì làm chùa là thứ nhất. Được biết ở thôn Tiền Khắc Niệm, tỉnh Bắc Ninh có ngài Dương Danh Thành đỗ tiến sĩ năm 1838, năm 1849 dựng ngôi chùa thờ Phật gồm bẩy gian tiền đường ba gian hậu cung bằng gỗ lim một tầng lợp ngói đặt tên chùa Linh Ứng, Năm 1933 ông Dương Bá Trang người thừa tự đã cúng chùa cho Hội Đồng Thiện về Hải Phòng chùa dựng theo phương khôn chính tây nam hướng trông về phương Cấn chính Đông Bắc, Nơi đây vẻ kỳ tú tự nhiên như tô vẽ dòng Lạch Tray từ biển đổ về hình tượng rồng chầu, đỉnh phủ Liễn gối sau cao thẳm thế như hổ phục, phía tây có Đền thiêng phía ram có thôn ấp trước mặt đường thông muôn nẻo. Đây chính là địa linh nhân kiệt. Đức Nam Hải đại Vương hiển thánh các vị hưng công hội chủ thiện tín bản hội cùng hưởng ứng năm 1936 hoàn tất. Từ cổng vào có đài tiếp dẫn lầu chuông vời vợi soi bóng mặt hồ. Điện chính giữa, tả hữu có nhà tổ, nhà hậu, trước sau có sân gạch, vườn cây cảnh trang nghiêm thanh tịnh thế giới một bầu riêng chiếm. Danh lam muôn thủa lưu truyền. Để kỷ niệm đặt tên chùa Hải Ninh lại thỉnh các bậc trưởng lão đại đức tăng sớm chiều niệm hương cúng Phật rắc mưa pháp hoa sen đọc kinh lành Phật dạy. Năm 1951 đúc chuông lớn tiếng ngân vang ba cõi thấu suốt mười phương. Năm 1976 Ni sư Thích Diệu Tâm trụ trì. Tòa Phật điện vì lâu năm dột nát, năm1990 Ni sư họp cùng bản hội thiện tín quyết tâm trùng tạo đổi thay. Lại được trợ duyên của hòa thượng Thích Chân Thường trụ trì chùa Quan Âm Pháp Quốc. Sau đó tìm người tài vẽ kiểu, kén thợ giỏi thi công, xây mới cổng chùa tưởng hoa rực rỡ, chở đá quý tạc tượng Phật di đà tiếp dẫn giữa hồ sen, chọn gỗ tốt cột chạm xà hoa văn tinh xảo, dựng 7 gian tiền đường 2 tầng mái ngói nối tòa Bảo Tháp ba tầng cao ngất tôn nghiêm sau chùa xây gác để kinh, nhà giảng pháp quy mô hoành tráng, rỡ ràng, mây lành che khắp, sáng ngời ánh đạo chiếu xa, thật là đệ nhất thiền thiên hiếm có. Tất cả các hạng mục trong chùa đều được sửa sang hoặc là mới như: Kim thân Phật tượng, Bồ Tát tượng quang được đúc bằng đồng, tạc từ gỗ quý, rèm châu khảm ngọc lung linh, cửa vàng đài son sáng láng, đúc chuông đồng treo Bảo Phướn. Tòa báu trang nghiêm Phật ngự liên đài, vườn kỳ khoe sắc muôn hồng ngàn tía. Năm 1998 công thành viên mãn. Theo lệ cũ hằng năm tiết Thanh Minh vu Lan, lại lập trai đàn thỉnh Phật chuông trống bát nhã vang lừng, đuốc tuệ sáng soi khắp chốn. Cầu Quốc thái dân an, cầu Âm siêu Dương khánh. Người người đến chiêm bái, ai ai đều khởi thiện tâm, tiêu trừ tục chướng, công đức đó thật là khôn tả. Nay ni sư cùng bản hội thiện tín thập phương noi dấu tích xưa theo dòng thiền tổ, xây đài Minh kính, trồng gốc bồ đề hoằng dương Phật pháp, đâu phải chỉ phúc báo cho riêng mình, mà vì bốn ơn sâu nặng, làm rạng rỡ tổ tông lưu truyền hậu thế. Nhân khắc lên bia này để cho đời sau chiêm ngưỡng. Đối cảnh sinh lòng thánh thiện đắp bồi tô điểm sửa sang, trang lý già lam tố hảo. Để bia này tồn tại cùng thời gian công đức ấy thật là vô lượng.

Bài Minh:

Hải Ninh ngôi bảo sái

Cao ngất giữa trời xanh

Sông chầu về muôn ngọn

Núi sừng sững một tầng

Đường thông đi muôn ngả

Cửa đón khách 10 phương

Địa linh sinh nhân kiệt

Vượng khí tác hiền lương

Chùa cổ nay trùng tạo

Cảnh rực rỡ tôn nghiêm

Hoa tử khai giao lộ

Đuốc tuệ sáng đường mê.

Đồng Thiện chung tích đức

Phúc tuệ hưởng dài lâu.

Trụ trì bản tự :  Tỷ Khiêu ni Thích Diệu Tâm

Hội chủ:            Vũ Văn Phổ, Nguyễn Văn cát, ( tự Cát Tường),  Lương Văn An.

Ủy viên bản hội: Đào Công Hùng, Trần Duy Phụng, Nguyễn Cát Thành, Phạm Văn Xảo, Trần Văn Thân.

Tiết Vu Lan Mậu Dần 1998- Phật lịch 2542

Nguyễn Cát Thành : thư ký Hội Đồng Thiện kính soạn.

Tiếp sau nhà bia là tòa nhà 2 tầng, tầng trên là nhà Pháp (thư viện –nơi lưu giữ kinh tạng), tầng dưới là giảng đường là nơi giảng dạy giáo lý nhà Phật cho các tăng ni về tu tập.

Phía trái nhà Giảng Pháp là khu vườn Tháp. Với 7 tòa tháp ba tầng lưu giữ di hài của các vị tiền tổ và hậu lai, chính giữa là ngôi tháp bằng đá xanh tinh sảo thờ Hòa thượng Thích Chân Thường Ngài là nguyên viện chủ chùa Quan Âm-Pháp Quốc, người đã hỗ trợ tài chính cùng các Phật tử thập phương chung tay xây dựng chùa Đồng Thiện. Quần thể vườn tháp tôn lên vẻ bề thế nguy nga của ngôi chùa đẹp của quận Lê Chân Thành phố Hải Phòng.

Một điều đặc biệt là giữa không gian linh thiêng ngôi chùa có 3 cây “Sala” cổ thụ, sừng sững tỏa bóng mát, rợp một vùng. Cây “sala” thuộc họ Dầu, là loại cây thân gỗ cao gần 20 mét, lá hinh bầu dục mọc sole. Nhánh hoa đâm chồi thẳng ra từ thân cây phân bố cả ở gần gốc, chùm hoa “sala” có thể dài tới hơn 1 mét, bung nở vào sáng sớm với 6 cánh màu hồng dầy tỏa ra như đóa sen. Nhị hoa xếp thành chiếc búp màu trắng che khuất phần nhụy bên dưới trông giống đầu kỳ lân. Theo một sự tích nhà Phật được truyền từ đời này sang đời khác. Tương truyền rằng xưa kia Đức Phật đã chọn rừng cây “sala” trong vườn “Lumbini” để nhập diệt và cũng là nơi mà bảy lần trong tiền kiếp Ngài đã nhập diệt. Khi sắp nhập Niết bàn, những cánh hoa “sala” bay khắp rừng, phủ kín mọi nơi như để tiễn đưa Đức Phật.

Từ đó, hoa “sala” trở thành biểu tượng hướng đến sự bất diệt, thường còn, chân ngã, chân lạc sau đó là biểu tượng của lòng nhân đức, bao dung, thông thái. Trải qua hàng ngàn năm hoa “sala” được sự tín ngưỡng tôn thờ như loài hoa Phật thiêng liêng được trồng trang trọng nơi cửa chùa, am thất, tịnh xá…Chùa Đồng Thiện linh thiêng là ngôi chùa hiếm có ở Hải Phòng có trồng loại cây nhà Phật này.

Là ngôi Chùa với thiên chức độ trì cho chúng sinh bản hạt, chùa còn chức năng lớn là che chở cho những người quá cố an nghỉ tại nghĩa trang quanh chùa linh hồn nương nhờ của Phật. Hàng năm ngoài các các kỳ sóc vọng (Tuần răm, mùng một) bản chùa còn tổ chức nhiều khóa lễ. Đặc biệt trong tiết vu Lan, nhà chùa đã tổ chức tụng kinh cầu siêu cho hằng hà sa số các chân linh và làm cơm chay khao lao các chúng sinh nương tựa cửa chùa..

Trụ trì Chùa từ 1934-1952 là Hòa thượng Thích Tâm Nhiên, thế danh Vũ Duy Quách người làng Bát Tràng Hà nội. Ngài đã đỗ Bảng nhãn song từ quan xuất gia tu tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Năm 1934 về trụ trì tại chùa Hải Ninh  tháng 10-1952 ngài viên tịch tại Chùa. Sau 10 năm hội Đồng Thiện trông coi Chùa, năm 1964 hội đã cung thỉnh sư cụ Thích Tịnh Nguyệt về kế đăng trụ trì. Cùng về với sư cụ còn có đệ tử là sư thầy Thích Diệu Tâm. Sư cụ Tịnh Nguyệt quê Sa Đéc, sau năm 1975 sư cụ giao quyền trụ trì cho sư thầy Thích Diệu Tâm để về quê tu dưỡng đến mãn báo thân năm 1991. Sư thầy Thích Diệu Tâm từ nhỏ đã xuất gia, tu tại chùa Vọng Cung Nam Định được sư cụ Tịnh Nguyệt nhận làm đệ tử. Về chùa Hải Ninh theo sư cụ, sư thầy đã tu tập Phật pháp, các đệ tử qui ngưỡng rất đông. Sư thầy đã để lại nhiều công quả, hình bóng và ân đức của sư thày đã in đậm trong lòng phật tử thành phố cảng. Ngày 5-2 năm Đinh Dậu, trải qua 80 mùa sen nở, sư thầy viên tịch. Trụ trì chùa hiện nay là sư thày Thích Diệu Minh.

Chùa Đồng Thiện nằm giữa khu vực Cầu Rào và Cầu Niệm, vùng giáp ranh giữa thành phố với vùng tự do, kháng chiến chống Pháp, là nơi tập kết của cản bộ ta hoạt động vào ra nội thành qua đường đò Đạt phía sau Chùa. Kháng chiến chống Mỹ, Chùa là nơi đóng quân của hậu cần các đơn vị pháo cao xạ bảo vệ hai cầu.

Chùa Đồng Thiện là ngôi chùa độc đáo nhất của thành phố Cảng, với bề dày trên 80 năm nhưng là ngôi chùa nổi tiếng về sự an lành, nơi nương náu tin cậy của quảng đại chúng sinh nhờ cửa Phật. Đến với chùa Hải Ninh là đến với Phật và cũng là đến với hương linh những người quá cố trong gia đình giòng họ đã quy và nương nhờ cửa Phật. Bởi lẽ đó, danh xưng của tổ chức quyên góp hưng công xây dựng ngôi chùa đã trở thành tên thường gọi cho ngôi chùa này là chùa Đồng Thiện. Là điểm đến cuối cùng đầy hấp dẫn trong chuỗi du lịch của các di sản tâm linh quận Lê Chân.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *