Chúc văn họ Dương Hải Phòng

CHÚC VĂN HỌ DƯƠNG DƯ HÀNG KÊNH

 

 

Duy Việt Nam Quốc

Hải Phòng thành

Lê Chân quận

 

Dư Hàng Kênh phường

Ngày 01 tháng 12

Tuế thứ Mậu Tuất niên

Kính cáo anh linh tiên tổ họ Dương Việt Nam

Kính cáo anh linh tiên tổ họ Dương Dư Hàng Kênh

Kính thưa chính quyền đoàn thể và khách quý thập phương

Cùng toàn gia năm ngành Dương tộc

MỪNG HÔM NAY

Đất Dư Hàng Kênh trù phú

Tiết cuối năm thuận khí giao hòa

Con cháu 5 ngành họp mặt tưởng nhớ ông cha

Cờ tổ họ uy linh phấp phới

Mái nhà thờ cổ kính rêu phong

Che chở cháu con 17 đời họp mặt…

NHỚ THUỞ XƯA

Thủy tạo thái tổ Dương Phúc An

Thái tổ Dương Mậu Sùng

Cùng chư vị tiên tổ:

 

 

Dương Đại Giác

Dương Huyền Chân

Dương Văn Lũng

Dương Văn Tả

Dương Phúc nhân

Theo dấu chân xưa chiến trận

Từ Thanh Hóa đất Lam Kinh

Mấy thuở Bạch Đằng

 

Vó ngựa chiến chinh thiên di tứ hải

Dần tụ hội về lập nghiệp đất Kinh Dương

Chặt sú, đào năn xẻ mương lập ruộng

Thành thôn Đoài trù phú ruộng mật bờ xôi

Nuôi sống cháu con kế nghiệp đời đời.

Từ một gốc một nguồn

Cây tổ phụ sinh 5 cành

Xum xuê, hoa thơm, quả ngọt

Rạng rỡ mãi mai sau…

TRẢI MẤY THUỞ CAN QUA

Dòng họ Dương thôn Đoài

Anh hùng hào kiệt

Cụ Trưởng họ Dương Bá Du theo cờ nghĩa Tây Sơn

Gặp tao loạn lên Kinh Môn dựng nghiệp

Gá nghĩa họ Trần mở đất Hiệp Sơn

Nẩy lộc ba nhành sinh sôi quần tụ

Mắt dõi về đất tổ Hàng Kênh

 

– Cụ Khóa Lược, cụ Cai Trang đúc chuông chùa

                                                         vun bồi quả phúc

Cụ Huyện Sách làm đình

                            thờ Thánh độ muôn dân

Cụ Dương Mưu huấn học tỉnh Đông

                      đem chữ Thánh mở mang dân bản hạt.

Thời kháng chiến, cụ Dương Văn Tuế, Dương Văn Hoán

Xung cảm tử quân giữ yên làng xóm

Ông Dương Văn Phi đánh trận Điện Biên,

     giữ 15 cân vàng cho Tổ quốc không mảy may suy suyển

 

Ông Dương Văn Bái- Trưởng ban Giao thông 

Ông Dương Văn Vĩnh tòng quân Nam tiến

        

Hòa bình về

Ông Dương Văn Thao chủ tịch xã nhà

Vẻ vang thay dòng giống Dương gia

Đã kết tụ đỉnh cao trí lực

Anh Dương Anh Điền làm Bí thư, Chủ tịch

Thành phố Hải Phòng rực rỡ tinh hoa…

NAY CHÚNG CON

Hưởng phúc lộc tổ tiên

Con cháu trăm nhà yên bề sinh sống

Bàn tay tài hoa ươm trồng

Kỳ hoa dị thảo tô điểm cho đời

Lao động cần cù tảo tần hôm sớm

 

Trên kính dưới nhường

Chăm lo tuổi già

Bảo ban con trẻ

Giữ gìn đạo đức gia phong

Ân đức tổ tiên truyền bao thế hệ…

 

MỪNG NĂM QUA

Con cháu họ Dương kết đoàn một khối

Xây quê hương tươi đẹp làng Hàng

Điểm tô nhà thờ họ Dương tố hảo khang trang

Toàn Dương tộc nức lòng hồ hởi

Nhớ ngày giỗ tổ.

Năm ngành cháu con

Từ bốn phương hội tụ tìm về

Tấm lòng thành

Chúng con dâng nén tâm hương

Kính thỉnh

Liệt tổ, liệt tông họ Dương Việt Nam 

Thủy tổ họ Dương Dư Hàng Kênh

Đồng lai chứng giám,  phù trợ tử tôn…

Đồng kính thỉnh

Chư vị bản thổ linh thần

đồng lai giám cách

Cẩn cáo

Cẩn cáo

Cẩn cẩn cáo…

 

CHÚC VĂN HỌ DƯƠNG HẢI PHÒNG

 

Duy Việt Nam Quốc

Hải Phòng thành

Ngày 22 tháng 2 năm Đinh Dậu

Kính cáo anh linh tiên tổ họ Dương

Kính thưa toàn gia Dương tộc

Cùng khách quý thập phương

 

MỪNG HÔM NAY

Đất Hải tần phòng thủ

 

Tiết Đinh Dậu thái hoà

Dân Hải cảng hoan ca

Sắc xuân về tươi mới

 

Cờ Tổ quốc rợp trời phấp phới

Cờ Dương tộc hùng tráng uy linh

Thành phố Cảng tàu bè muôn ngả trùng khơi

Trăm nhánh Dương gia tụ về một cõi

NHỚ THỦA XƯA

Dòng giống Lạc Hồng

Thủy tổ Dương lạc hầu, Dương lạc tướng

Theo giúp vua Kinh Dương Vương dựng nước

Viễn tổ Dương Minh Tiết

Khởi tổ Dương Minh Thắng

 

 

 

 

 

Cao tổ Dương Thi Sách

Dương Thanh đại tướng nam bang

Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ

Bình vương Dương Tam Kha

Liệt tổ liệt tông từ mấy nghìn năm trước

Dòng máu họ Dương đỏ bừng trong huyết quản

Chảy mãi tới hôm nay…

 

CHÚNG CON NGHE

Tiếng trống đồng vang vọng ngàn xưa

Đưa con cháu Dương gia từ:

Hoan châu, Ái châu, Phong châu, Đại la, Kinh bắc…

Theo nguồn suối mạch sông về đất Hải Phòng

Cùng Dương Tam Kha chém giặc Hoằng Tháo

Bạch Đằng Giang rực rỡ chiến công

Theo Lê Lợi dựng cờ đại nghĩa

Vó ngựa chiến binh áo vải tụ về

Chính biến Lê Nghi Dân

Hoàng hậu Dương Thị Bí, Ngự y Dương Phiếm Ái

Xuôi phủ Hạ Hồng lập ấp

Thầy đồ gốc Nghệ mang chữ thánh hiền

Từ Vân Đình về làng hoa Đằng Hải ngát hương thơm

 

 

Rời nam châu thổ sông Hồng về đất Cổ Am

Vang danh tiến sĩ Dương Đức Nhan

Học rộng soạn “Tinh tuyển chư gia thi luật”

Từ Chí Linh về Ngũ Lão- Thuỷ Nguyên

Thiên đô ngự sử Dương Tông Hải lừng danh đi sứ Bắc

 

THẾ MỚI BIẾT

Đất lành chim đậu

Mẹ biển Đông ôm ấp con dân

Dãi nắng, dầm mưa, phát cỏ, lập làng

Chặt sú, đào kênh, tôn vườn, lập ruộng

Chân cứng, đá mềm, ngô lúa sinh sôi

Đất Hải Tần nối tiếp đời đời

Cây Dương tộc xanh chồi sâu rễ

Lê Chân, Hải An, Kiến Thuỵ, Thuỷ nguyên,

Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương …

Dương Phúc, Dương Văn, Dương Anh,

Dương Thanh, Dương Đức…

Nối dõi tông đường dòng giống dài lâu…

NAY CHÚNG CON

Hưởng ân đức tổ tiên

Trăm nhà phúc lộc

Công, nông, thương, trí… trăm nghề

Góp bàn tay khối óc làm vẻ vang Dương tộc

Hiếu nghĩa bề trên, chăm lo con trẻ

Kết nối doanh nhân, chấn hưng kinh tế

 

 

 

 

 

 

Khởi nghiệp anh tài, trí tuệ thăng hoa

Kế tục mạch nguồn, tài đức ông cha

Tôn tử Dương gia đời đời dựng nghiệp

Nghe trống hội vang vang

Nô nức chúng con

Quây quần tụ hội

Dưới cờ tổ thành tâm kính vái

Mong ơn trên che chở muôn nhà…

 

CHÚNG CON NGUYỆN

Mang trí lực dựng xây Tổ quốc

Lấy dũng nhân bồi đắp non sông

Cho quê hương Hải cảng phồn vinh

Để Dương tộc trường tồn vạn thủa…

Chúng con dâng nén tâm hương

Kính thỉnh

Liệt tổ, liệt tông, Việt Nam  Dương tộc

Đồng lai chứng giám, phù trợ tử tôn…

Kính thỉnh

Chư vị bản thổ linh thần đồng lai giám cách

Cẩn cáo

Cẩn cẩn cáo.

 

Dương Lâm tự Vân Hồ, Thu Nguyên, Mộng Thạch, biệt hiệu Quất Tẩu, Dương Công, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1851, trong một gia đình nhà nho thanh bạch, có truyền thống hiếu học, tại làng Vân Đình, tổng Phương Đình, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Thân phụ ông là Dương Quang, một người nổi danh trong giới học sĩ, được các bậc danh công quý trọng; thân mẫu là Bùi Thị Tôn, con gái Thượng thư họ Bùi làng Thịnh Liệt, một họ lớn sản sinh nhiều nhà văn học nổi tiếng như Bùi Xương Trạch, Bùi Huy Bích. Ông là em ruột nhà thơ Dương Khuê, kém Dương Khuê 12 tuổi. Thuở nhỏ Dương Lâm đã có ý thức rèn luyện trí, đức, nối nghiệp thi thư, phát huy truyền thống văn học của họ Dương và họ Bùi; về sau ông trở thành một trong những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỷ XX. Dương Lâm đỗ Tú tài năm 1867, vào Huế thi Hội năm 1868. Năm 1873, thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, ông cùng thân phụ chiêu mộ dân giữ thành đánh giặc. Sau hơn hai tháng chống cự, Pháp buộc phải rút lui, trả lại bốn tỉnh mà chúng đã chiếm; Dương Lâm và thân phụ được triều đình ban thưởng hàm Hàn lâm viện Cung phụng. Năm 1878, Dương Lâm đỗ Giải nguyên; năm 1884 ra dạy học ở Ý Yên. Dạy học chưa được bao lâu ông nhận được sớ triệu làm Tri huyện Hoài Yên. Do chứng kiến việc triều đình Huế dâng đất nước cho Pháp, Dương Lâm chán nản, lấy cớ chăm sóc thân phụ già yếu, xin nghỉ việc quan một năm. Năm 1887, ông lại được triệu ra làm Bang tá, một chức vụ nhỏ tại Nha Kinh lược. Cuộc đời và tư tưởng của Dương Lâm chịu ảnh hưởng của nhiều biến cố lịch sử đau thương trong lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX. Quan lộ của Dương Khuê gập ghềnh, quanh co. Sử sách và văn thơ của ông cho biết, nhiều lần ông phải viện cớ từ quan, về nhà dạy học, viết sách, viết báo. Năm 1888, Dương Lâm nhận chức Án sát ở Hưng Hóa. Trong thời gian đương chức, ông cho thả hàng trăm tù nhân. Sau sự kiện này, ông bị đổi về làm ở Bố chính Sơn Tây, hàm Quang lộc khanh; rồi được cử làm Bố chánh ở miền rừng Lục Nam (Bắc Giang) có nhiều thổ phỉ quấy phá. Năm 1890, Dương Lâm lập công dẹp giặc Tàu, giặc thổ phỉ, cứu thoát hàng trăm phụ nữ, trẻ em sắp bị bán sang Tàu. Nhớ ơn ông, dân làng Quỷnh đã lập đền thờ ngay lúc ông còn sống. Hồi nhớ về sự kiện đó, trong Hành trạng Dương Lâm đã viết: Nực cười cái kiếp làm quan/ Xoay nhau cho mỏi dặm trường mới cam/ Đổi trị lỵ Lục Nam Bố chánh/ Rừng núi xanh quanh tỉnh bốn bề/ Giặc Quách Mãn, tướng Lưu Kỳ/ Vừa Thanh, vừa Hán phân chia đánh thành… Năm 1891, Dương Lâm về Hà Nội, chuyển sang viết văn, làm chủ bút Đại Nam đồng văn nhật báo, một tờ báo đầu tiên do người Việt chủ trương ở Bắc Kỳ: Qua Canh Dần đến năm Tân Mão/ Cuộc Đồng văn nhật báo đặt ra/ Văn chương cái nợ với ta/ Dứt đi lại buộc đến ba bốn lần (Hành trạng)… Năm 1892, ông nhận chức Tuần phủ Thái Bình, giúp dân chống “thủy tai khắp cả toàn kỳ”. Năm 1895, đổi về Nha Kinh lược Bắc Kỳ, giữ chức Tham tá. Sau Pháp chiếm giữ, buộc vua Thành Thái ra dụ giải tán Nha Kinh lược, Dương Lâm phải thôi giữ chức Tham tá, nhưng bù lại ông được triều đình Huế cử giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán, hàm Thượng thư, chuyên về viết sử cho triều đình, sau đó triều đình còn cử ông đứng đầu ban Tu thu sửa đổi phép học, phép thi. Song do buồn nản cảnh vua nhỏ mải lo vui chơi đàn hát, lại gặp cảnh gia đình có tang, Dương Lâm sớm cáo quan về nhà dạy học. Năm 1900, ông nhận được chiếu chỉ cử làm Tổng đốc Bình Định – Phú Yên, hàm Thái tử Thiếu bảo. Trong suốt hai năm làm quan ở đây, ông đã ba lần xin từ chức về nuôi dưỡng mẹ già, dạy học và viết sách giáo khoa. Cuốn Tự học Hán tự tân thư của ông được soạn trong giai đoạn đó. Dương Khuê có nhiều công đối với dân, với nước: giữ thành đánh Pháp, cứu dân đánh thổ phỉ, đuổi giặc Tàu, viết sử nước nhà, viết sách thường thức sơ học… Ngoài cuốn Tự học Hán tự tân thư nêu trên, Dương Lâm còn soạn viết: Nam sử phú, Bắc kỳ châu quận canh hoán phân hợp chú, Vân Dương văn tập, Vân Dương thi tập; Dương gia thi tập, Trung học Ngũ kinh toát yếu, Văn sách tân thức hợp tuyển, Túy hậu nhàn ngâm tập, Vân Đình biểu văn khải trướng toàn tập, Vân Đình Giải nguyên Dương Lâm văn tập phụ tạp văn, Tấu nghị tiền tập… Theo Dương Thiệu Tống trong sách Tâm trạng Dương Khuê, Dương Lâm (2000), Dương Lâm cũng có một số bài thơ, phú sách, câu đối trong các sách Cường dư văn chiến, Hà Đông danh đối liên thi văn tập, Phúc Giang thi văn tập, Tạp sáo tân biên, Tinh nghĩa sao tập… Các tác phẩm của ông chủ yếu đề cập đến lịch sử, các chính sách canh nông, địa lí cương vực, văn hóa, văn minh… Sử sách nhắc đến Dương Lâm ở nhiều vai trò: nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo và nhà viết sử. Khác với các tác phẩm của anh mình, vốn được ghi chép và bình luận nhiều dưới thời Pháp thuộc vì không ảnh hưởng gì đến chính trị thời cuộc. Các tác phẩm của Dương Lâm ít được phổ biến hơn, có lẽ vì phần nhiều đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến thời kỳ người Pháp xâm lăng Việt Nam và nói lên cảm nghĩ của tác giả về các sự kiện lịch sử ấy Dương Lâm chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo nhưng cũng có tư tưởng thức thời. Ông tiếp biến hài hòa cái mới, từ bỏ cái lạc hậu, một mặt giáo huấn con cái đạo lí truyền thống, mặt khác lại phê phán cung cách giáo điều, cứng nhắc; có lúc ông noi theo sử sách, có khi ông điều chỉnh thiên về thực tiễn trước mặt. Ở ông chữ Trung – Hiếu vẫn có sức nặng, nhưng cách nghĩ, cách nhìn về những chuẩn mực đó đã có nhiều đổi khác. Ông đặt chữ Hiếu, chữ Nhân lên trên chữ Trung: Thờ vua ngày tháng còn dài/ Mà ngày thờ mẹ ngắn rồi phải lo… Thơ văn của Dương Lâm miêu tả, ngợi ca hình ảnh anh hùng Nguyễn Trãi, Quang Trung; phản ánh sự kiện thổ phỉ Quách Mãn ở Lục Nam, . Ông ghi lại việc giải tán Nha Kinh lược sứ ở Bắc kỳ, nạn lụt năm Quý Tỵ (1893), thời tàn của Nho học, con đường mới của các chí sĩ yêu nước, sự kiện xuất bản tờ báo đầu tiên ở Bắc Kỳ. Thơ văn của ông đã bộc lộ tự nhiên, chân thực hoài bão “mở giang sơn mi mục” của một nhà nho, tâm trạng dằn vặt, giằng co gay gắt trước những biến động lịch sử của một trí thức yêu nước, tinh thần phản tỉnh, phê phán thời cuộc nghiêm khắc của một vị quan thương dân. Dương Lâm thẳng thắn phê phán, trách vấn Hoàng Cao Khải, người đã đàn áp phong trào văn thân ở Bắc Kỳ, đẩy ông lên miền rừng cao diệt thổ phỉ. Song, cái tiến bộ, đáng trọng nữa của Dương Lâm được thể hiện ở chỗ, ông luôn giữ vẹn lòng thủy chung với đất nước. Ông băn khoăn đặt ra hàng chục câu hỏi về thế sự đau buồn, về chủ quyền của non sông gấm vóc; tỏ bày một cách bình dị nỗi hổ thẹn, uất hận trước sự xâm lăng của ngoại bang, đồng thời cũng luôn tự vấn, tự trào, tự phê phán mình đã bất lực sống làm tôi tớ, cảm khái bi thương trước cuộc “mất không”: Ngoảnh mặt lại mấy phen dâu bể/ Thương cuộc đời mà vui vẻ với riêng ai?… Dương Lâm cũng nói về chữ “nhàn”, song chữ nhàn ở ông luôn có điều kiện kèm theo, được đặt sau trách nhiệm đối với dân tộc, lịch sử. Ở Dương Lâm ý thức “xốc vác non sông” được đặt lên hàng đầu và trở thành bổn phận của kẻ làm trai. Sinh trưởng trong giai đoạn ý thức hệ cũ suy tàn, Dương Lâm cũng có cảm thức “trống rỗng”, “người thừa”. Ông bị đặt giữa bi kịch của thời đại, buộc phải đối diện mà lựa chọn giữa tân học và cựu học, giữa xuất và xử, giữa tị thế và nhập thế. Ông đánh giá bản thân minh như sau: Chân cựu học dựa theo tân học/ Trong tân thư còn học cựu thư/ Ai khen, khen cũng bằng thừa/ Ai chê thì cũng xin ừ rằng chê… Có lúc ông chọn con đường ra làm quan, nhưng ở vị thế ấy ông lại không thể chấp nhận biến mình thành bù nhìn, giương mắt trông “phường thi tố”. Có khi ông chọn con đường lui về ở ẩn, chấp nhận nghèo túng, vậy rồi ông lại bị triệu ra nhậm chức. Dương Lâm, một nhà nho hành đạo, cố gắng đi về phía nhà nho ẩn dật nhưng không thành. Dương Lâm, một nhà nho muốn vùng vẫy trong cơn dâu bể, nhưng lại thấy cho dù có bạc đầu đi nữa thì chuyện khanh tướng công hầu ở đời đâu phải dễ. Dương Lâm mang nhiều uẩn khúc, ôm mãi mối uất hận riêng tây không biết ngỏ cùng ai. Ở bài Phú thị tử đệ, ông viết: Tâm uất uất kỳ thùy ngữ/ Đông gia thực, Tây gia trúc/ Bán sinh chi trần lộ dĩ phi (Lòng uất hận không biết ngỏ cùng ai/Ăn nhà Đông, ngủ nhà Tây, nửa kiếp đường trần đã lỡ). Cuối đời Dương Lâm an ủi tổng kết: Trăm năm đống Quất vùi ba thước/ Ghi lại nhân gian một tấc son. Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1920. Đúng một tháng sau, triều đình có sắc chỉ truy phong Dương Lâm là Khánh Vân Nam tước. Ngày nay tấm văn bia ghi sắc chỉ đó vẫn còn được giữ nguyên vẹn tại lăng mộ Dương Lâm ở Tảo Khê (Ứng Hòa, Hà Nội). Do ông có tước Hàm Thiếu bảo, quê Vân Đình nên người đương thời thường gọi là cụ Thiếu Vân Đình. Các cháu nội của hai ông Dương Khuê, Dương Lâm kế tiếp cha ông cũng là những văn nghệ sĩ, nhà khoa học nổi tiếng như: nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư-Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, Nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh (đang làm việc cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ), nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ kiêm thi sĩ Dương Hồng Kỳ. Dương Lâm xứng đáng là một nhân sĩ văn tài của họ Dương.-Tác giả Dương Anh Dũng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có bỏ lỡ gì không?