Dương Khuê-tác giả Dương Anh Dũng

Dương Khuê-Người họ Dương tiêu biểu

Dương Khuê (楊奎, 18391902), tự Giới Nhu, hiệu Vân Trì,  Danh sĩ đời Tự Đức.Tục gọi ông Nghè Vân Đình vì ông quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng HòaHà Nội). Là quan nhà Nguyễn, và là nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19.

Dòng họ Dương Khuê, là hậu duệ của Cụ Dương Công Phùng gốc Hoằng Nồng vào Hà Tĩnh, chi ngành  thứ ba  ra định cư ở Lạc Đạo con cháu chuyển đến vùng Vân Đình (Hà Tây) từ thời chúa Trịnh Cương (1709-1725).

Xuất thân trong một gia đình nhà Nho. Ông là cháu nội cụ Đốc học ở tỉnh Sơn Tây Dương Đức Ứng, húy Thụy, con cả cụ Đô ngự sử Dương Quang, anh ruột danh sĩ Dương Lâm. Thời niên thiếu, Dương Khuê rất thông minh, nổi tiếng văn hay chữ tốt, bạn bè ai ai cũng kính mến.

Nhờ chuyên cần, học giỏi, Dương Khuê ứng thí đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên); nhưng vào kinh thi Hội, thì bị hỏng khoa đầu. Được Tùng Thiện Vương mời về nhà dạy con cháu học, ông nán lại chờ khoa thi sau.

Năm MậuThìn (1868),Thời vua Tự Đức, khi 29 tuổi ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Khi này là lúc bang giao với Pháp ở vào giai đoạn khó khăn, vua Tự Đức nhân thời thế đó ra đề thi là “Chiến hay hòa”. Trong bài văn Dương Khuê làm có câu: “Độc bệ hạ chi chiếu nhi bất thống khóc giả, phi nhân thần dã” (Đọc chiếu của bệ hạ không khóc lên đau đớn thì không phải là người thần vậy), để nói lên nỗi đau thương của ông trước tình hình của đất nước. Tự Đức vốn là một nhà vua rất ưa chuộng văn thơ cho nên sau khi thi đỗ, vào triều bệ kiến, nhà vua thấy ông tiến sĩ mới  có lời phê rằng: “Trẫm kiến tiến sĩ Dương Khuê bẩm chất ty nhược, yếu nghi gia tâm điều dưỡng, vị quốc trừ dụng…”. Và nhà vua đặc ban cho một miếng quế để dùng vào việc thuốc thang.

Ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính.

     Đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang.

Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng.

Dương Khuê và vụ án ở Định-Yên: Năm 1878 ở Nam Định-Hưng Yên xảy ra một vụ nhũng lạm công quỹ khổng lồ mà số thiếu hụt về tiền, gạo, thóc lên tới hàng trăm ngàn quan. Vua Tự Đức phái quan Khoa đạo Trần Đình Liêm cùng với Bố chính Đồng Sĩ Vịnh, Án sát Nguyễn Duy Kế đến tận nơi điều tra. Trong vụ này Bố chính Phan Đức Trạch (đã chết) đã bị thuộc hạ cáo buộc là đã lấy từ kho tiền đưa cho Dương Khuê vay 100 lạng bạc (10000 quan) và Vũ Khoa vay 150 lạng bạc (15000 quan). Các lời khai của Dương Khuê và Vũ Khoa không làm triều đình hài lòng, nên Dương Khuê bị phạt trảm giam hậu (nghĩa là bị tạm giam, trong thời hạn 3-5 năm phải trả lại số tiền đã lấy, nếu không trả được thì sẽ bị thi hành án tử), Vũ Khoa bị giáng cấp và đổi nhiệm sở. Sau này nhà vua gia ân, chuẩn cho 2 ông được làm việc chuộc tội và được khai phục chức vị cũ.

Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ ” của mình, khen bài hát tặng người tình cũ của Dương Khuê tình ý lâm ly văn cách nhẹ nhàng vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam ĐịnhNinh Bình.

Năm 1897, Toàn quyền Paul Doummer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guống máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.

Trong suốt khoảng thời gian làm việc trong chốn quan trường, Dương Khuê thường ở nhiều nơi, việc cai trị trung hậu thanh liêm, không bao giờ động đến tiền của nhân dân. Vì vậy, những khi ông bị thuyên chuyển đi nơi khác thì dân chúng địa phương đi đưa tiễn rất đông, còn có người níu xe mà khóc. Cũng giống như văn nho đồng thế hệ, Dương Khuê có một lối sống hào hoa, phong nhã, lấy rượu xướng ca trăng thanh gió mát để khiển hứng.       Ông rất sành về đánh trống chầu và ham thích thú hát ả đào. Cả cuộc đời của Dương Khuê làm quan nhưng ông sống thanh liêm, trong sạch, ăn ở với mọi người đầy tình yêu thương và có một tấm lòng yêu nước thầm kín. Với tâm trạng buồn chán của một nghệ sỹ trước cảnh nước mất nhà tan, ông đã chọn cho mình lối thoát ra ngoài cuộc sống ấy bằng thú cầm, kỳ, thi, họa và thú hát ả đào.

Trong sự nghiệp sáng tác thơ của ông, nổi tiếng là bài Hồng hồng, Tuyết tuyết, đây là bài thơ phổ cập cho những người bắt đầu hát ca trù. Hai anh em Dương Khuê, Dương Lâm, cùng với các tài tử văn nhân như: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm… góp phần làm nghệ thuật ca trù trở nên nổi tiếng. Dương Khuê vốn rất giỏi về tài Hán văn và văn Nôm. Tác phẩm của ông chủ yếu trong tập Vân Trì thi tập và một số thơ văn câu đối. Thơ ca Nôm của ông có những nét riêng rất đặc sắc, nhất là trong thể loại Ca trù. Nói chung Dương Khuê khá đa tài và ông là người có tài năng nghệ thuật khá hoàn hảo cả bằng Hán văn lẫn chữ Nôm. Tìm hiểu thơ ông có thể phân làm ba loại chính:

Thứ nhất là thơ ca Đường luật với lời lẽ trịnh trọng, ung dung như các bài Ngũ thập tự thọ, Tự vịnh, Đánh cờ, Tiễn đưa sứ thần… Thứ hai là thơ lục bát, thường là những bài thơ nhỏ, ngắn nhưng hé mở cho ta thấy đó là một tâm hồn biết sống say mê, nặng tình cùng non sông đất nước như Hà Nội tức cảnh, Hỏi thăm bạn ở Hưng hóa, Lời hẹn…. Thứ ba là văn Ca trù, đây là thể loại sáng tác sở trường của ông nên ở thể loại này có nhiều bài tuyệt tác và trở thành mẫu mực như bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết (Gặp cô đào cũ), Nhân vong cầm tại, Tiễn đào Cần, Tặng cô đào Cúc… Phần thứ ba có thể xem là phần quan trọng nhất trong thơ văn của Dương Khuê bởi nó thể hiện được cá tính và địa vị văn chương của tác giả, địa vị của nhà văn sành nghe hát ả đào với sở trường sáng tác Hát nói.

Trước đây, ông vẫn được xem là một đại biểu của khuynh hướng “thoát ly hưởng lạc” trong văn học Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ 19. Song gần đây, bước đầu giới nghiên cứu đã có cách lý giải mới đối với phần tâm sự của ông gửi gắm trong thơ văn. Là một viên chức buổi giao thời, đường làm quan không mấy suôn sẻ…, vì thế các sáng tác của ông, chính là một phương tiện giúp ông giải tỏa những bất mãn đối với hiện thực. Thơ văn ông truyền tụng hầu hết là những bài hát nói, đặc sắc hơn cả là bài “Đề: Động Hương Tích”.

Tuy có làm thơ chữ Hán, nhưng ông nổi tiếng nhờ những bài ca trù. Với sự tinh luyện về ngôn ngữ và sự hài hòa trong thanh điệu của ông, khiến những bài ấy luôn cuốn hút người nghe bởi lời ca – thơ của  Dương Khuê đã đạt đến trình độ “thanh thoát, uyển chuyển và hóm hỉnh”.

Dương Khuê mất ngày 6 tháng Ba năm Nhâm Dần (1902) thọ 63 tuổi). Nghe tin, bạn thân ông là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ nổi tiếng nhan đề Khóc bạn để viếng ông (trong đó mở đầu bằng câu: “Bác Dương thôi đã thôi rồi”.

Có thể nói cùng với Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê là nhà nho tài tử cuối thế kỷ XIX, “có vai trò trong sự “giữ gìn” dòng mạch văn chương tài tử từ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đến Tản Đà và Thơ mới, và góp phần làm phong phú hơn kho tàng văn học, văn hóa Việt Nam.

 

 

 

 

 

Dương Lâm tự Vân Hồ, Thu Nguyên, Mộng Thạch, biệt hiệu Quất Tẩu, Dương Công, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1851, trong một gia đình nhà nho thanh bạch, có truyền thống hiếu học, tại làng Vân Đình, tổng Phương Đình, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Thân phụ ông là Dương Quang, một người nổi danh trong giới học sĩ, được các bậc danh công quý trọng; thân mẫu là Bùi Thị Tôn, con gái Thượng thư họ Bùi làng Thịnh Liệt, một họ lớn sản sinh nhiều nhà văn học nổi tiếng như Bùi Xương Trạch, Bùi Huy Bích. Ông là em ruột nhà thơ Dương Khuê, kém Dương Khuê 12 tuổi. Thuở nhỏ Dương Lâm đã có ý thức rèn luyện trí, đức, nối nghiệp thi thư, phát huy truyền thống văn học của họ Dương và họ Bùi; về sau ông trở thành một trong những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỷ XX. Dương Lâm đỗ Tú tài năm 1867, vào Huế thi Hội năm 1868. Năm 1873, thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, ông cùng thân phụ chiêu mộ dân giữ thành đánh giặc. Sau hơn hai tháng chống cự, Pháp buộc phải rút lui, trả lại bốn tỉnh mà chúng đã chiếm; Dương Lâm và thân phụ được triều đình ban thưởng hàm Hàn lâm viện Cung phụng. Năm 1878, Dương Lâm đỗ Giải nguyên; năm 1884 ra dạy học ở Ý Yên. Dạy học chưa được bao lâu ông nhận được sớ triệu làm Tri huyện Hoài Yên. Do chứng kiến việc triều đình Huế dâng đất nước cho Pháp, Dương Lâm chán nản, lấy cớ chăm sóc thân phụ già yếu, xin nghỉ việc quan một năm. Năm 1887, ông lại được triệu ra làm Bang tá, một chức vụ nhỏ tại Nha Kinh lược. Cuộc đời và tư tưởng của Dương Lâm chịu ảnh hưởng của nhiều biến cố lịch sử đau thương trong lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX. Quan lộ của Dương Khuê gập ghềnh, quanh co. Sử sách và văn thơ của ông cho biết, nhiều lần ông phải viện cớ từ quan, về nhà dạy học, viết sách, viết báo. Năm 1888, Dương Lâm nhận chức Án sát ở Hưng Hóa. Trong thời gian đương chức, ông cho thả hàng trăm tù nhân. Sau sự kiện này, ông bị đổi về làm ở Bố chính Sơn Tây, hàm Quang lộc khanh; rồi được cử làm Bố chánh ở miền rừng Lục Nam (Bắc Giang) có nhiều thổ phỉ quấy phá. Năm 1890, Dương Lâm lập công dẹp giặc Tàu, giặc thổ phỉ, cứu thoát hàng trăm phụ nữ, trẻ em sắp bị bán sang Tàu. Nhớ ơn ông, dân làng Quỷnh đã lập đền thờ ngay lúc ông còn sống. Hồi nhớ về sự kiện đó, trong Hành trạng Dương Lâm đã viết: Nực cười cái kiếp làm quan/ Xoay nhau cho mỏi dặm trường mới cam/ Đổi trị lỵ Lục Nam Bố chánh/ Rừng núi xanh quanh tỉnh bốn bề/ Giặc Quách Mãn, tướng Lưu Kỳ/ Vừa Thanh, vừa Hán phân chia đánh thành… Năm 1891, Dương Lâm về Hà Nội, chuyển sang viết văn, làm chủ bút Đại Nam đồng văn nhật báo, một tờ báo đầu tiên do người Việt chủ trương ở Bắc Kỳ: Qua Canh Dần đến năm Tân Mão/ Cuộc Đồng văn nhật báo đặt ra/ Văn chương cái nợ với ta/ Dứt đi lại buộc đến ba bốn lần (Hành trạng)… Năm 1892, ông nhận chức Tuần phủ Thái Bình, giúp dân chống “thủy tai khắp cả toàn kỳ”. Năm 1895, đổi về Nha Kinh lược Bắc Kỳ, giữ chức Tham tá. Sau Pháp chiếm giữ, buộc vua Thành Thái ra dụ giải tán Nha Kinh lược, Dương Lâm phải thôi giữ chức Tham tá, nhưng bù lại ông được triều đình Huế cử giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán, hàm Thượng thư, chuyên về viết sử cho triều đình, sau đó triều đình còn cử ông đứng đầu ban Tu thu sửa đổi phép học, phép thi. Song do buồn nản cảnh vua nhỏ mải lo vui chơi đàn hát, lại gặp cảnh gia đình có tang, Dương Lâm sớm cáo quan về nhà dạy học. Năm 1900, ông nhận được chiếu chỉ cử làm Tổng đốc Bình Định – Phú Yên, hàm Thái tử Thiếu bảo. Trong suốt hai năm làm quan ở đây, ông đã ba lần xin từ chức về nuôi dưỡng mẹ già, dạy học và viết sách giáo khoa. Cuốn Tự học Hán tự tân thư của ông được soạn trong giai đoạn đó. Dương Khuê có nhiều công đối với dân, với nước: giữ thành đánh Pháp, cứu dân đánh thổ phỉ, đuổi giặc Tàu, viết sử nước nhà, viết sách thường thức sơ học… Ngoài cuốn Tự học Hán tự tân thư nêu trên, Dương Lâm còn soạn viết: Nam sử phú, Bắc kỳ châu quận canh hoán phân hợp chú, Vân Dương văn tập, Vân Dương thi tập; Dương gia thi tập, Trung học Ngũ kinh toát yếu, Văn sách tân thức hợp tuyển, Túy hậu nhàn ngâm tập, Vân Đình biểu văn khải trướng toàn tập, Vân Đình Giải nguyên Dương Lâm văn tập phụ tạp văn, Tấu nghị tiền tập… Theo Dương Thiệu Tống trong sách Tâm trạng Dương Khuê, Dương Lâm (2000), Dương Lâm cũng có một số bài thơ, phú sách, câu đối trong các sách Cường dư văn chiến, Hà Đông danh đối liên thi văn tập, Phúc Giang thi văn tập, Tạp sáo tân biên, Tinh nghĩa sao tập… Các tác phẩm của ông chủ yếu đề cập đến lịch sử, các chính sách canh nông, địa lí cương vực, văn hóa, văn minh… Sử sách nhắc đến Dương Lâm ở nhiều vai trò: nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo và nhà viết sử. Khác với các tác phẩm của anh mình, vốn được ghi chép và bình luận nhiều dưới thời Pháp thuộc vì không ảnh hưởng gì đến chính trị thời cuộc. Các tác phẩm của Dương Lâm ít được phổ biến hơn, có lẽ vì phần nhiều đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến thời kỳ người Pháp xâm lăng Việt Nam và nói lên cảm nghĩ của tác giả về các sự kiện lịch sử ấy Dương Lâm chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo nhưng cũng có tư tưởng thức thời. Ông tiếp biến hài hòa cái mới, từ bỏ cái lạc hậu, một mặt giáo huấn con cái đạo lí truyền thống, mặt khác lại phê phán cung cách giáo điều, cứng nhắc; có lúc ông noi theo sử sách, có khi ông điều chỉnh thiên về thực tiễn trước mặt. Ở ông chữ Trung – Hiếu vẫn có sức nặng, nhưng cách nghĩ, cách nhìn về những chuẩn mực đó đã có nhiều đổi khác. Ông đặt chữ Hiếu, chữ Nhân lên trên chữ Trung: Thờ vua ngày tháng còn dài/ Mà ngày thờ mẹ ngắn rồi phải lo… Thơ văn của Dương Lâm miêu tả, ngợi ca hình ảnh anh hùng Nguyễn Trãi, Quang Trung; phản ánh sự kiện thổ phỉ Quách Mãn ở Lục Nam, . Ông ghi lại việc giải tán Nha Kinh lược sứ ở Bắc kỳ, nạn lụt năm Quý Tỵ (1893), thời tàn của Nho học, con đường mới của các chí sĩ yêu nước, sự kiện xuất bản tờ báo đầu tiên ở Bắc Kỳ. Thơ văn của ông đã bộc lộ tự nhiên, chân thực hoài bão “mở giang sơn mi mục” của một nhà nho, tâm trạng dằn vặt, giằng co gay gắt trước những biến động lịch sử của một trí thức yêu nước, tinh thần phản tỉnh, phê phán thời cuộc nghiêm khắc của một vị quan thương dân. Dương Lâm thẳng thắn phê phán, trách vấn Hoàng Cao Khải, người đã đàn áp phong trào văn thân ở Bắc Kỳ, đẩy ông lên miền rừng cao diệt thổ phỉ. Song, cái tiến bộ, đáng trọng nữa của Dương Lâm được thể hiện ở chỗ, ông luôn giữ vẹn lòng thủy chung với đất nước. Ông băn khoăn đặt ra hàng chục câu hỏi về thế sự đau buồn, về chủ quyền của non sông gấm vóc; tỏ bày một cách bình dị nỗi hổ thẹn, uất hận trước sự xâm lăng của ngoại bang, đồng thời cũng luôn tự vấn, tự trào, tự phê phán mình đã bất lực sống làm tôi tớ, cảm khái bi thương trước cuộc “mất không”: Ngoảnh mặt lại mấy phen dâu bể/ Thương cuộc đời mà vui vẻ với riêng ai?… Dương Lâm cũng nói về chữ “nhàn”, song chữ nhàn ở ông luôn có điều kiện kèm theo, được đặt sau trách nhiệm đối với dân tộc, lịch sử. Ở Dương Lâm ý thức “xốc vác non sông” được đặt lên hàng đầu và trở thành bổn phận của kẻ làm trai. Sinh trưởng trong giai đoạn ý thức hệ cũ suy tàn, Dương Lâm cũng có cảm thức “trống rỗng”, “người thừa”. Ông bị đặt giữa bi kịch của thời đại, buộc phải đối diện mà lựa chọn giữa tân học và cựu học, giữa xuất và xử, giữa tị thế và nhập thế. Ông đánh giá bản thân minh như sau: Chân cựu học dựa theo tân học/ Trong tân thư còn học cựu thư/ Ai khen, khen cũng bằng thừa/ Ai chê thì cũng xin ừ rằng chê… Có lúc ông chọn con đường ra làm quan, nhưng ở vị thế ấy ông lại không thể chấp nhận biến mình thành bù nhìn, giương mắt trông “phường thi tố”. Có khi ông chọn con đường lui về ở ẩn, chấp nhận nghèo túng, vậy rồi ông lại bị triệu ra nhậm chức. Dương Lâm, một nhà nho hành đạo, cố gắng đi về phía nhà nho ẩn dật nhưng không thành. Dương Lâm, một nhà nho muốn vùng vẫy trong cơn dâu bể, nhưng lại thấy cho dù có bạc đầu đi nữa thì chuyện khanh tướng công hầu ở đời đâu phải dễ. Dương Lâm mang nhiều uẩn khúc, ôm mãi mối uất hận riêng tây không biết ngỏ cùng ai. Ở bài Phú thị tử đệ, ông viết: Tâm uất uất kỳ thùy ngữ/ Đông gia thực, Tây gia trúc/ Bán sinh chi trần lộ dĩ phi (Lòng uất hận không biết ngỏ cùng ai/Ăn nhà Đông, ngủ nhà Tây, nửa kiếp đường trần đã lỡ). Cuối đời Dương Lâm an ủi tổng kết: Trăm năm đống Quất vùi ba thước/ Ghi lại nhân gian một tấc son. Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1920. Đúng một tháng sau, triều đình có sắc chỉ truy phong Dương Lâm là Khánh Vân Nam tước. Ngày nay tấm văn bia ghi sắc chỉ đó vẫn còn được giữ nguyên vẹn tại lăng mộ Dương Lâm ở Tảo Khê (Ứng Hòa, Hà Nội). Do ông có tước Hàm Thiếu bảo, quê Vân Đình nên người đương thời thường gọi là cụ Thiếu Vân Đình. Các cháu nội của hai ông Dương Khuê, Dương Lâm kế tiếp cha ông cũng là những văn nghệ sĩ, nhà khoa học nổi tiếng như: nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư-Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, Nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh (đang làm việc cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ), nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ kiêm thi sĩ Dương Hồng Kỳ. Dương Lâm xứng đáng là một nhân sĩ văn tài của họ Dương.-Tác giả Dương Anh Dũng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *