Dương Tam KHa-tác giả Dương Anh Dũng

Dương Tam Kha, còn có tên là Dương Chủ Tướng, con của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, sinh năm 895 tại quê hương ở làng Dương Xá (tên nôm là làng Giàng), huyện Thiệu Hóa – Thanh Hóa. Dương Tam Kha là tướng tài của Dương Đình Nghệ, được tôn vinh là Dương Chủ tướng đứng đầu rèn luyện 3000 nghĩa sĩ tại lò võ làng Giàng. (Theo Dương Thanh Ninh, Trưởng ban Quản lý DTLS đền thờ Dương Đình Nghệ tại làng Giàng, Thanh Hóa).

Tháng 12 năm Tân Mùi (931), Dương Đình Nghệ kéo đại quân vây đánh Lý Tiến chiếm thành Đại La. Mũi tiến quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy, một mũi khác do Dương Tam Kha nắm đã kịp thời phối hợp với lực lượng của Đinh Công Trứ vây đánh quyết liệt Đại La. Chúa Nam Hán sai Thừa chí Trần Bảo đem quân cứu viện. Viện binh địch chưa sang đến nơi, thành Đại La đã rơi vào tay Dương Đình Nghệ.

Năm 938, nghe tin Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại, đang được cử làm Thứ sử châu Ái, Ngô Quyền kéo đại binh ra Bắc hỏi tội họ Kiều. Biết là Kiều Công Tiễn cầu cứu, nay mai giặc Hán sẽ nhân thể sang chiếm nước ta bằng đường thủy (sở trường của nhà Nam Hán), Ngô Quyền cử Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập đi diệt Kiều Công Tiễn ở Đại La, còn Ngô Quyền ra vùng sông Cấm (Hải Phòng ngày nay) lập thủy trận.

Dương Tam Kha diệt Kiều Công Tiễn xong cũng cùng Ngô Xương Ngập quay xuống vùng sông Cấm hội quân.

Ngô Quyền đã chọn kế sách đóng cọc nhọn dưới lòng sông Bạch Đằng để lập trận điạ mai phục (theo thần tích xã Lương Xâm, Hải An, Hải Phòng là do Ngô Xương Ngập hiến kế). Dương Tam Kha chỉ huy việc đóng cọc trên sông, sai các tướng là Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi chặt 3.000 cây gỗ lim, sến, đầu được vạt nhọn và bịt sắt đường kính 20-40 phân dài 4m đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm (hơn 1,5km). Hàng cọc được cắm xuống lòng sông thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn.

Theo kế hoạch tác chiến, Dương Tam Kha chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn, mai phục sẵn, phối hợp thủy quân đánh tạt sườn đội hình quân địch. Từ cửa biển ngược lên phía trên không xa, một đạo thủy quân mạnh phục sẵn do chính Ngô Quyền chỉ huy chặn ngay đường tiến lên của địch, chờ khi nước xuống sẽ phản công.

Trận địa bố trí xong thì binh thuyền Nam Hán kéo đến. Quân ta đợi lúc nước triều cường, đem đội khinh thuyền ra cửa sông khiêu chiến rồi giả thua chạy. Hoằng Tháo quả nhiên mắc mưu, thúc quân chèo thuyền, lũ lượt tiến qua bãi cọc đi sâu vào trong sông. Khi nước xuống, Ngô Quyền đem đại quân phản công đánh quyết liệt. Dương Tam Kha cho quân bản bộ dùng mũi tên dài ở hai bờ bắn xả vào quân giặc, rừng cọc gỗ lim nhô đầu nhọn lên mặt nước. Thuyền Nam Hán bị trúng cọc bọc sắt, đua nhau chìm, lật. Ngô Quyền và Dương Tam Kha truy đuổi giặc ráo riết. Tướng giặc là Lưu Hoằng Tháo bị Dương Tam Kha chém tại trận. Quân Hán đại bại.

Như vậy trong cuộc chiến với giặc Nam Hán, Dương Tam Kha đã tôn trọng tài năng và phục tùng làm bộ tướng cho Ngô Quyền. Ông có công lớn chỉ đứng sau Ngô Quyền. Bản thân ông đã trực tiếp diệt Kiều Công Tiễn và Hoằng Tháo. Ông đã lập công lớn giúp Ngô Quyền lên ngôi vương. Dương Tam Kha xứng đáng là danh tướng tài ba của dân tộc. Không có Dương Tam Kha thì Ngô Quyền khó có thể lập chiến công lừng lẫy đem lại độc lập cho đất nước.

Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), Dương Tam Kha bỏ qua các con Ngô Quyền và tự xưng vương. Xét ra Dương Tam Kha lên ngôi cũng hợp lẽ vì ông chỉ lấy lại ngôi của Dương Đình Nghệ khi xưa. Đúng như quan điểm ngày nay của sử gia Lê Văn Lan “Việc tự lập của Dương Tam Kha chính là việc nối lại chính thống của và từ nhà Dương. Đứng đầu và khởi đầu là Dương Đình Nghệ” Bản chất là ông thấy trách nhiệm của mình với quốc gia phải trực tiếp gánh vác trọng trách để giữ ổn định đất nước. Dương Tam Kha không phụ lời ủy thác của Ngô Quyền mà thực hiện việc ủy thác ấy phù hợp với tình hình thực tế và lợi ích quốc gia, không để người kém đức như Ngô Xương Ngập lên ngôi ngay mà để chờ Ngô Xương Văn trưởng thành, lúc ấy mới trả ngôi cho cháu.

Trong 5 năm trị vì, Dương Tam Kha đã kịp làm được một số việc lớn như cử Dương Tế Mỹ, Dương Thiên Hòa, Nguyễn Vị Bình làm xong việc phân chia địa giới, cắt cử quan lại cai trị ở các địa phương, đắp đê ngăn lũ lụt Tường Xà qua địa phận 355 ấp (năm 946).

Năm 950, Ngô Xương Văn giành lại ngôi vua từ Dương Tam Kha. Thấy Dương Tam Kha có công nuôi nấng mình và có lẽ vì phe cánh của Tam Kha cũng lớn nên Ngô Xương Văn không dám giết cậu ruột, chỉ giáng làm Trương Dương công và cho ăn lộc ở ấp Chương Dương, nay là xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Dương Tam Kha, với tấm lòng vì dân, vì nước, ông đã về Chương Dương dạy dân trồng trọt, chăn nuôi. Một lần nữa người ta thấy Dương Tam Kha biết hy sinh quyền lợi cá nhân mình để cho đất nước yên bình. Vào giữa thế kỷ X, vùng đất Chương Dương vẫn là một vùng hoang vắng, dân cư thưa thớt. Vùng đất ấy còn mang tên “Chân Giang”, có nghĩa là vùng đất nằm kề bên sông, khi nước lên thì ngập lụt, và khi mùa thu đến thì nước rút, lộ ra bãi bồi màu mỡ để cày cấy, trồng trọt. Trong một thời gian ngắn, Dương Tam Kha đã dày công cải tạo vùng đất hoang hóa thành vùng quê khá sầm uất.

Năm 953, Dương Tam Kha cùng gia quyến và thuộc hạ tiếp tục đi xuống phía Nam để khai khẩn vùng đất mới: Giao Thủy (Nam Định) – một vùng đất đai màu mỡ, dân thuần, tục hậu. Ông chiêu tập nhân dân cải tạo các bãi đất hoang hóa, sình lầy, lau lác um tùm thành những cánh đồng trù phú. Dương Tam Kha còn dạy dân làm thủy lợi, khơi sông ngòi, đắp đê phòng lụt, nhờ vậy mùa màng liên tiếp bội thu, xóm làng ngày càng sầm uất, đông vui. Cùng với việc quan tâm phát triển sản xuất, ông còn chú trọng xây dựng thuần phong mỹ tục tại nơi làng quê mới. Dương Tam Kha đã cho tùy tướng và gia đình nội ngoại khai khẩn được trên 500 mẫu ruộng và khơi ngòi thành 5 dải lập nên làng mới ứng với 5 trại thành ấp Tùng Khê, gồm: Tùng Khê, Trúc Khê, Lệ Khê, Lộ Khê và Nga Khê.

Năm Canh Thìn (980), Dương Tam Kha trở lại quê cũ làng Giàng (Thiệu Dương, Thanh Hóa). Dương Tam Kha có 3 bà vợ, sinh được 10 con trai và 9 con gái. Ông để 5 con trai ở lại tiếp tục sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp ở Tùng Khê và đưa 5 người con trở về quê Thanh Hóa. Đứng đầu chi họ Dương tại làng Giàng là người con trưởng Dương Đại Thiện, còn đứng đầu chi họ Dương ở Tùng Khê là con trai thứ hai Dương Tiên Du. Hậu duệ của ông trở thành tổ của các chi ngành họ Dương hùng mạnh ở Nam Định (Dương Cả) và Thanh Hóa.

Vào cuối đời, khi biết nhà Tống có dã tâm bành trướng xâm lược Đại Cồ Việt do Lê Hoàn- con rể làm Hoàng đế và Dương Vân Nga- con gái làm Hoàng hậu, Dương Tam Kha đã sai con trai là Dương Quý Khách lập khu phòng tuyến dự bị Lỗ Mau (Thành Đạt, Thiệu Long, Thiệu Hóa, Thanh Hóa) để phòng quân Tống chiếm được Giao Châu tràn xuống. Dấu tích còn lại sau này là các địa danh: Đồng Kho (nơi để kho), Đồng Bến (nơi chiến thuyền của thủy quân đóng), Đồng Cầu (nơi bắc cầu cho quân lính qua lại), Đồng Yên (nơi chăn nuôi, tập trung kỵ binh)… Sau khi Lê Hoàn thắng Tống, nơi phòng tuyến ấy trở  thành thực ấp của họ Dương.

Ông đã mất tại quê hương Thiệu Dương, Thanh Hóa vào ngày mùng 10 tháng 8 năm 980, thọ 85 tuổi (theo lí lịch tại đền thờ Dương Tam Kha là 16-2-981).

Là nguời tài giỏi có thế lực, có 10 con trai phương trưởng giỏi giang song Dương Tam Kha không cho các con theo nghiệp võ, tránh xa quan trường mà chỉ làm kinh tế khai thiên lập địa để chấn hưng đất nước và sau đó cũng không hề làm ảnh hưởng gì đến nhà Ngô. Ông sáng suốt nhận ra thế nước muốn sớm ổn định thì phải dẹp loạn. Ông đã có con mắt tinh đời, tin tưởng vào Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh (tên thật là Đinh Hoàn) đi đánh dẹp Bình Kiều (Triệu Sơn- Thanh Hóa) của sứ quân Ngô Xương Xí qua thăm ông, Dương Tam Kha đã gả con gái là Dương Vân Nga cho Đinh Bộ Lĩnh. Chính ông đã thuyết phục xứ quân Ngô Xương Xí theo về họ Đinh, góp phần đưa non sông về một mối, giữ vững nền tự chủ. Dương Tam Kha là người có công lớn trong việc mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế làm phồn vinh và thống nhất đất nước. Sau khi Dương Tam Kha mất, nhân dân vùng Chương Dương đã lập đền thờ suy tôn ông là Thành hoàng làng. Trong đền thờ còn lưu giữ một cuốn thần phả- Chương Dương thần kỳ ký – và 28 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến. Dương Tam Kha là vị phúc thần của 4 xã – tức 4 làng (Chương Dương, Kỳ Dương, Thư Dương, Chương Lộc) của tổng Chương Dương xưa, ông được tôn vinh mỹ tự là “Bột Hải Hoàng đế”.

Trong đền Chương Dương còn 3 bức hoành phi có 6 đôi câu đối, nội dung đều ca tụng công đức của Dương Tam Kha, trong đó điển hình là câu:

“Lục tải xưng vương truyền nội sử

Thiên thu thực ấp hiển dư linh”

Dịch nghĩa:

“Sáu năm xưng vương ngời sử sách

Nghìn thu thực ấp rạng uy linh”.

Nhiều nhà khoa bảng đã về thăm thực ấp Chương Dương của Dương Tam Kha, trước “dư linh” của ông, họ đã làm thơ bày tỏ niềm khâm phục sự nghiệp của vị Chương Dương công này. Trong tập “Sơn Nam phong vật chí”, Tiến sĩ Hà Trong Quyền (1798-1839) có bài “Quá Dương công thực phong ấp” (Qua thực ấp của Dương công). Trong đó, qua 2 câu thực của bài, ta thấy tác giả rất khâm phục tài cao, đức lớn của Dương Tam Kha:

“Nhân” vô trọng vị, xưng điền lão

“Trí” bảo hoàng đồ hoạch địa lô

Tạm dịch:

“Nhân” không tham ngôi lớn, mà chỉ nguyện làm ông già với đồng ruộng. “Trí” để giữ gìn cơ nghiệp hoàng gia, nên vạch kế phân định đất đai.

Rõ ràng, đó là cái nhìn của một nhà Nho minh triết và công tâm đối với công đức của Dương Tam Kha.

Do có nhiều công lao, Dương Tam Kha được lập đền thờ ở nhiều nơi như: Xã Chương Dương, huyện Thường TínHà Nội; Thị trấn Cổ LễTrực NinhNam Định; Xóm Kiều Nguyễn, xã Tống Trân, huyện Phù CừHưng Yên; Làng Thành Đạt, xã Thiệu Long, huyện Thiệu HóaThanh Hóa.

Kết luận bài viết, đánh giá toàn diện về Dương Tam Kha, chúng ta thấy cần loại bỏ thiên kiến hẹp hòi phiến diện của sử gia phong kiến khi xưa (Đại Việt sử ký toàn thư chép vào thời Trần sau đó 250 năm). Trả lại vị thế xứng đáng của Dương Tam Kha trong lịch sử dân tộc. Cần có sự công tâm và đánh giá đúng về công trạng của cụ. Với con mắt minh triết, nhìn lại lịch sử soán ngôi của các vương triều trong ngàn năm qua, các vua quan triều Nguyễn đã nhất trí với dân cư bản hạt nhớ ơn Dương Tam Kha, tôn cụ là phúc thần và các triều đình đã ban rất nhiều thần sắc, phong cụ là Thành hoàng bản cảnh các địa phương. Dương Tam Kha đã là Thánh nhân trong lòng người dân Việt.

Bình Vương Dương Tam Kha

(Theo chính sử)

Tướng đứng đầu trong ba ngàn nghĩa sỹ

Dương Tam Kha người xuất chúng kiêu hùng

Trừ Công Tiễn trả thù cha rửa hận

Chém Hoằng Tháo rạng rỡ Bạch Đằng Giang

 

Kế tiếp Ngô Quyền người nắm giữ ngôi vương

Mang tài trí giữ an dân bảo quốc

Rời ngôi báu người về cùng non nước

Khai khẩn đất hoang vùng Cổ Lễ, Chương Dương

Khi là tướng, người hiển hách võ công

Khi là dân, người mở mang bờ cõi

Lừng lẫy bốn phương chí anh hùng cao vời vợi

Tuổi hạc về Thanh Hóa giúp quê hương

Người đã làm rạng danh dòng máu họ Dương

Bảo vệ non sông dựng xây đất nước

Tri ân nghĩa tổ tiên từ thuở trước

Xây Lăng Người con cháu kính dâng hương.

Lời bàn:       

Xét về việc cướp ngôi, ta thấy khi Ngô Quyền mất thì Dương Tam Kha là tướng tài, hơn tuổi Ngô Quyền, có trách nhiệm chính với quốc gia dân tộc, có toàn quyền hành sử, lấy lợi ích quốc gia là tối thượng. Ông thực hiện di chúc theo cách của ông là trách nhiệm và vai trò của ông vì sự an nguy của đất nước. (Dương tộc kỷ sử chép: Dương Tam Kha còn ít tuổi, thắng trận, Ngô Quyền lên ngôi hoàng đế bỏ rơi cụ tổ Dương Tam Kha là không đúng-DAD).

Trong buổi đầu dựng nước, một vương triều đầu tiên non trẻ của nước ta hình thành. Vào thời kỳ ấy, khi Nho giáo chưa nắm giữ vị trí độc tôn trong đời sống tư tưởng của tầng lớp lãnh đạo đất nước, cũng như nhân dân thì người ta ít chú ý tới cái gọi “Chế độ tông pháp”, tức là “cha truyền con nối”. Do vậy, việc một người có tài năng, có uy tín là con trai Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ như Dương Tam Kha gạt bỏ Ngô Xương Ngập, gánh vác sự nghiệp làm chủ đất nước là một việc làm bình thường dễ hiểu. Chứng cứ là Ngô Quyền (trước Dương Tam Kha) cũng xưng vương vào năm 939 sau khi giết chết Kiều Công Tiễn. Lẽ ra, theo đúng đạo “Tam cương” thì Ngô Quyền phải trả ngôi Vương cho Dương Tam Kha là con Dương Đình Nghệ vừa là lãnh tụ, vừa là nhạc phụ của ông. Sau này, vào năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, thì Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cùng phù Vệ vương Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua. Nhưng trước nguy cơ nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Lê Hoàn không giữ chữ “Trung” như thường tình mà “rời Đinh Toàn ra nhà khác, cấm cố cả họ Đinh, lên thay thống lĩnh”. Hành động đúng đắn được lịch sử ca ngợi trên đây cũng bị các sứ thần phong kiến thời ấy phê phán tựa như phê phán đối với Dương Tam Kha trước đó.

Nhưng sau này, Lê Hoàn mở đầu một nhà Tiền Lê thắng nhà Tống, lập nên một vương triều vững mạnh thì sử sách đã ca ngợi Lê Hoàn. Trong khi tương tự, nhưng Dương Tam Kha lại mất ngôi về nhà Ngô, không duy trì được vương triều họ Dương nên lịch sử không viết lại để tôn vinh ông như Lê Hoàn mà thôi.

Một lý do quan trọng khiến Dương Tam Kha phải tự xưng vương là vì thấy đất nước có nguy cơ nhiễu loạn, nhà Ngô chỉ nắm được vùng Giao Chỉ cũ còn các khu vực khác vẫn do hào trưởng các địa phương cát cứ, mặt khác ông lại thấy hai con của Ngô Quyền hèn yếu, không kham nổi triều chính. Ngô Xương Ngập kém đạo đức, Ngô Xương Văn còn trẻ dại, nên Dương Tam Kha tự thấy mình phải gánh vác trọng trách để giữ yên đất nước. Ông nhận Ngô Xương Văn là cháu ruột làm con nuôi với mục đích khi cháu trưởng thành thì sẽ truyền lại ngôi vương cho cháu. Tâm thế này của Dương Tam Kha là rất sáng suốt bởi lẽ thực tế sau này đã chứng minh, khi con Ngô Quyền giành lại ngôi thì đã hình thành một nước có hai vua, chỉ trong thời gian ngắn, hai anh em Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập và Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đã xảy ra hiềm khích, mâu thuẫn nặng nề. Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập chuyên quyền thâu tóm mọi quyền hành, đẩy Nam Tấn vương Ngô Xương Văn vào thế không được tham gia chính trị gì nữa. Đến năm 954, Ngô Xương Ngập bị thượng mã phong mất, Ngô Xương Văn nắm chính quyền. Thấy lực lượng của mình yếu ớt, Ngô Xương Văn hèn nhát cúi đầu xin thần phục dâng nước và nhận làm phiên thuộc cho nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Thạnh, phong cho Ngô Xương Văn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm đô hộ.

Như vậy, hậu duệ Ngô Quyền đã phản lại tổ tiên dâng nước cho Nam Hán, đánh mất nền độc lập tự chủ cha ông mình gây dựng. Sau khi dẹp loạn ở Sơn Tây năm 965, Ngô Xương Văn bị trúng tên chết, cơ đồ của hai họ Dương Ngô gây dựng bị tiêu vong, đất nước chìm trong loạn 12 xứ quân. Chỉ có việc tự lên ngôi của Dương Tam Kha nên đất nước ta mới được 6 năm thái bình thịnh trị.

Dương Tam Kha là con người thuần phác nghĩa khí, biết cha mình trọng dụng Ngô Quyền là tướng tài, cho làm Thứ sử Châu Ái, ông tôn trọng tài năng của anh rể Ngô Quyền; khi ra Bắc, Dương Tam Kha phục tùng làm bộ tướng đi tiên phong diệt Kiều Công Tiễn, kể cả khi Ngô Quyền lên ngôi, ông cũng không băn khoăn gì về việc mình mới chính là hậu duệ của Dương Đình Nghệ. Khi Ngô Quyền mất năm 944, chỉ vì đại cục mà Dương Tam Kha phải tự xưng vương.

Xét ra Ngô Xương Văn cũng là kẻ vong ân bội nghĩa, không vì quốc gia dân tộc, chỉ vì ngai vàng mà bất nghĩa lừa bắt cả cậu ruột và là cha nuôi. Song vì đức độ của Dương Tam Kha quá lớn, và cũng vì biết ơn ông, nên Xương Văn không giết Tam Kha mà chỉ giáng ông xuống làm Chương Dương sứ.

Điều này cho thấy nếu Dương Tam Kha thực sự có ý cướp ngôi thì đã diệt hậu duệ nhà Ngô và lịch sử đã có một vương triều họ Dương. Nếu Ngô Xương Văn hận thù diệt Dương Tam Kha thì đất nước đã mất đi một nhân tài có công 30 năm mở mang bờ cõi, chăm lo dạy bảo cho dân chúng hai vùng Thường Tín và Nam Định cách làm ăn. Đấy chính là thành quả của tài năng đức độ, là thành công của Dương Tam Kha. Các nhà nghiên cứu sử học hiện đại thời nay đều  thống nhất cao với nhận định này.

Dương Tam Kha làm vua, đất nước tương đối ổn định và thái bình thịnh trị. Nói Dương Tam Kha lên làm vua, tự xưng là Bình Vương khiến tình hình đất nước ta lúc bấy giờ rối loạn và đó chính là nguyên nhân cho các địa phương cát cứ và loạn 12 sứ quân sau đó diễn ra là nói sai. Mầm cát cứ đã có từ năm 905, tồn tại ngay cả khi Ngô Quyền lên ngôi vương, như ngọn lửa âm ỷ cháy, chỉ từ khi đất nước có hai vua, mâu thuẫn nhau thì nó mới bùng cháy thành biển lửa loạn 12 xứ quân.

Thực ra, nếu Dương Tam Kha có điều gì đáng trách, thì chính là trách ông quá sơ hở về chính trị và quá tin tưởng vào người con nuôi, vừa là cháu gọi ông bằng cậu là Ngô Xương Văn, để cho Xương Văn giành lại ngôi vua từ tay mình một cách dễ dàng.

Có lẽ các nhà sử học thời đại ngày nay nên xóa cụm từ “cướp ngôi” và thay bằng “lấy lại ngôi”. Bởi lẽ ngàn năm sau này, các triều đại và ngay cả trong từng triều đại, việc lấy lại ngôi như thế diễn ra là bình thường theo quy luật thịnh suy của trời đất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *