HƯƠNG ƯỚC LÀNG DƯ HÀNG-Tác giả biên tập-Dương Anh Dũng-Đình Dư Hàng

PHẦN THỨ NHẤT

CHÍNH TRỊ

 

– Tổ chức hội đồng tộc biểu.

Điều thứ 1: Cách bầu cử, các công việc, sự hành động, việc thi hành các công cụ trong làng, cùng quan kỷ của hương hội đều theo y như nghị định cai lượng của quan Thống. Sứ đã đăng ở công báo số 8  năm 1921.

Điều thứ 2: Trừ khi có việc cần cấp, còn mỗi tháng 2 kỳ hội đồng là: ngày 1 và ngày 15.

Điều thứ 3: Những người làm tộc biểu, mãn  lệ 6 năm thanh thỏa, thì thứ vị trong làng, đều sẽ được thăng một bậc.

Điều thứ 4: Các tộc biểu và thủ quỹ, thư ký, Lý trưởng, Phó lý, khi có đi việc quan, thuộc về việc công thì làng sẽ tùy theo xa gần, trích tiền công, cấp một món tiền lộ phí, lên huyện mỗi người 0,10 đ lên tỉnh 0,40 đ.

Điều thứ 5: Thủ quỹ, thư ký và lý trưởng, phó lý đều không có lương, về làng không có công quỹ, chỉ khi đã làm việc được mãn lệ thanh thỏa thì sẽ có thứ vị ở trong làng.

Điều thứ 6: Khi Hội đồng tộc biểu đương bàn việc gì thì những người ngoài Hội đồng chỉ được phép đến nghe thôi, chứ không được dự bàn, nếu ai không tuân thì Hội đồng được phép đuổi ra ngoài hoặc nghỉ phạt 0.20 đ trong lúc Hội đồng bàn định, phải có thứ tự, ai bàn nói việc gì nhiều nhất độ 15 phút thôi. Nếu ai rượu chè nói liên miên thì Hội đồng nghỉ phạt 0.20 đ.

Điều thứ 7: Trong Hội đồng chia ra làm 4 tiểu ban là: ban chính trị, ban tài chính, ban vệ sinh và ban cầm phòng để có chuyên trách.

 

HỘI ĐỒNG KỲ MỤC

 

Điều thứ 8: Trên Hội đồng tộc biểu, theo nghị định quan Thống Sứ Bắc Kỳ, làng lại còn có Hội đồng kỳ mục nữa, là những người khoa mục quan tước. Những người tòng sự 2 chính phủ về hưu có phẩm hàm, các văn vũ phẩm hàm tân cựu hội nghị viên, tân cựu chánh phó tổng đều không phải cách bãi hoặc can khoản cùng các lý trưởng mãn lệ, từ dịch và khóa sinh đều được dự Hội cả.

Điều thứ 9: Hội đồng kỳ mục không phải bầu, không hạn chế số người và số năm, hễ làng có đủ 4 người trở lên thì thành Hội đồng, Lý trưởng cứ việc kê 4 bản danh sách trình Huyện bẩm Tỉnh duyệt.

Điều thứ 10: Khi Hội đồng tộc biểu, có hội bàn việc gì, thì phải hội ý kiến Hội đồng kỳ mục, thứ nhất những việc can hệ, như việc thuộc về tòa chính trong làng, thì phải có hội đồng kỳ mục xếp y mới được thi hành.

Điều thứ 11: Trong làng có bầu 5 người xã tuần từ 1 người theo mới Lý trưởng, Phó lý làm việc quan, còn 4 người thì chia nhau đối xuất tuần phu canh phòng các điếm và đi tuần. Xã tuần và phu tuần đều không có lương vì làng không có quỹ, xã tuần hễ làm được mãu hạn 4 năm thanh thỏa thì sẽ được thứ vị bằng hương mục, còn phu tuần thì làng đã cắt tráng đinh trong làng từ 18 tuổi giở lên đến 40 tuổi, chia làm 4 ban, giao cho 4 xã tuần cứ theo mà cắt lượt đi canh phòng.

Điều thứ 12: Xã tuần và phu tuần, phải làm danh sách trình quan và theo phép hội đồng.

Điều thứ 13: Phó lý phải coi sóc đê đường cầu cống và phải cùng Lý trưởng trong nom đốc xuất xã tuần cùng phu tuần canh phòng.

Điều thứ 14: Làng có chọn bầu 1 người Kỳ mục có tuổi cẩn thận làm Thủ từ, để trông coi nơi Đình Miếu và việc tế tự.

Điều thứ 15: Làng lại bầu 4 người Kỳ mục cẩn thận chia giữ các đồ tế khí trong làng, nếu sơ xuất bất cẩn thì phải đền, không có lương, cứ 3 năm thanh thỏa thì vị thứ được lên một bậc.

Điều thứ 16: Theo lệ làng tự trước có 3 vị Xã tư, Hương trưởng và Trung đình, ai cũng phải có 3 vị ấy rồi mới được làm xã tuần và làm hương lý.

Điều thứ 17: Làng có bầu 1 người Hương  mục, để thừa biện, phù, trà hương đăng trong khi tế tự, tổn phí ấy sẽ trích ở tiền công giả hương mục, không có lương, cứ 3 năm thanh thỏa mãn lệ, thì làng sẽ cho vị thứ ở dưới Phó – Lý, phải tùy theo hương hội và Lý dịch mà làm việc.

 

SỔ CHI THU

 

Điều thứ 18: Tuy làng không có sổ chi thu, theo lệnh quan làng có làm 1 quyển sổ chi thu nhật ký trình quan phê duyệt giao cho viên chánh hội giữ, hễ có chi khoản gì, thu khoản gì, phải biên cả vào sổ ấy cho minh bạch, cứ đệ niên đến tháng 12 tây, thì Lý trưởng phải đệ sổ ấy trình quan xét duyệt.

VIỆC SƯU THUẾ

 

Điều thứ 19: Khi nào Lý trưởng nhận được bài chi và giấy sức thuế, thì phải tường hội đồng ngay để hội bàn sau bổ.

Điều thứ 20: Thuế đinh đã có ngạch của nhà nước ai phải bao nhiêu thuế và bao nhiêu ngoại phụ cứ chiểu trong thẻ thuế thâu mà nộp, không phải sau bổ nữa. Duy còn thuế điền thổ, thì cứ theo bài chỉ, tính các hạng điền thổ và ngoại phụ cộng bao nhiêu thuế, mà chia cho số điền thổ thực canh trong làng, mỗi sào mẫu là bao nhiêu, cho đủ ngạch thuế trong chỉ bài. Còn các tiền học phí, thu trạm thì sau bổ vào đinh, các tiền ngoại phí, hành thu, thì đinh chịu một nửa, điền chịu một nửa.

Điều thứ 21: Khi bổ thuế, phải có đủ 2 hội đồng và các điền hộ, bổ tính xong rồi, thì làm biên bản trình quan xét phê, giao về cho Lý trưởng cứ chiểu thế mà hành thu tới kỳ đệ nạp. Còn các tộc biểu cũng phải trông coi đốc sức các người trong biểu phải nộp thuế cho Lý trưởng, nếu biểu nào thiếu thuế nhiều thì cứ tộc biểu ấy phải chịu trách nhiệm.

Điều thứ 22: Các ông lão tự 70 tuổi giở lên, thì làng cứ theo lệ cổ biếu mỗi người là 3 sào ruộng công, không phải đóng thuế, thuế ấy các người làng sau chịu.

Điều thứ 23: Lý trưởng thu thuế, phải cứ giấy phái lai của nhà nước mà biên lai cho các người nộp thuế cho phân minh, đinh bao nhiêu , điền bao nhiêu, không được hàm hỗn.

Điều thứ 24: Khi bổ thuế, làng có bổ vào khoản ngoại phụ hành thu cho thằng sãi 5,00 đ.

Điều thứ 25: Ngày hội đồng bổ thuế, không được bày ra ăn uống tốn phí.

Điều thứ 26: Trong kỳ nộp thuế, nếu trong làng có người vắng, không về nộp thuế thì Lý trưởng cứ việc cắm lấy điền thổ của người ấy về sẽ chuộc. Còn người nào đi vắng mà không gì có bắt lấy được tiền thuế, thì bắt vào bào huynh, bào đệ người ấy phải ứng nộp thay, đợi người ấy về hội đồng sẽ bắt trả lại.

VIỆC KIỆN CÁO

 

Điều thứ 27: Trong làng có kiện về dân sự hay thương sự, thì trước hết phải trình hội đồng cùng Lý Phó trưởng để hòa giải, nếu hòa giải không xong thì sẽ trình quan.

Điều thứ 28: Khi hội đồng tiếp nhời nguyên đơn tường, thì phải mở hội đồng, lấy nhẽ chính đáng và thấu tình, thử làm hòa giải cho đôi bên, nếu hòa giải xong, thì theo kiểu trong luật mà làm hòa giải chứng giao lý trưởng trình quan sở tại vào sổ.

Điều thứ 29: Sau khi hội đồng đã lấy nhẽ công bằng hòa giải hai bên nếu không nghe thì phải làm biên bản trình quan xét, nếu sau quan xét cũng như ý kiến của Hội đồng, thì Hội đồng sẽ phạt bên nào mà Hội đồng bảo không nghe.

Điều thứ 30: Nếu việc hòa giải không xong mà Hội đồng có phải vì nguyên hay bị đi làm chứng trước tòa án, thời người thưa kiện phải chịu các tiền phí tổn.

Điều thứ 31: Còn những việc thuộc về hình sự, dẫu không co phép hòa giải, nhưng người đương sự cũng phải tường hội đồng biết.

Điều thứ 32: Khi hội đồng tiếp lời trình, thì phải hỏi duyên cớ việc ấy phát sinh tại sao, làm biên bản trình quan, không được bắt hay là để tuần phu nhiễu hại sự chủ.

 

VIỆC CANH PHÒNG

 

Điều thứ 33: Việc canh phòng là để giữ tính mệnh, tài sản cho đồng dân, là việc rất cần, nên hội đồng đã đặt ra một tiểu ban canh phòng để hiệp cùng Lý định đốc xuất xã tuần, tuần phu canh phòng nội hương ấp, ngoại đồng điền, nếu vì sự lười biếng, sơ khoáng để phát sinh ra việc trộm cướp, thời những người ấy phải chịu trách nhiệm,

Điều thứ 34: Làng có 5 người xã tuần, trừ một người theo Lý, Phó trưởng làm việc, còn 4 người xã tuần, thì chia làm 2 điếm.

Điều thứ 35: Hội đồng sẽ xem xét địa thế trong làng chỗ nào sung yếu, để lập điếm canh, vật liệu phí tổn làm điếm, làng sẽ trích tiền công để chi.

Điều thứ 36: Mỗi điếm canh có hai người xã tuần đốc xuất các tuần phu, chia làm 2 bọn, một bọn canh ở điếm, còn một bọn đi tuần trong làng hoặc ngoài đồng.

Điều thứ 37: Các tuần phu phải có mỗi người một đôi sà cạp quấn chân, một cái lon hiệu ở tay và một cái khí giới hoặc giáo, hoặc mác, hoặc gậy và một cái tù và. Những phí tổn sắm khí giới cho tuần phu, làng sẽ trích tiền công để chi, nếu không giữ cẩn thận để mất thì xã tuần phải chịu trách nhiệm, phải đền.

Điều thứ 38: Mỗi điếm có một cái trống canh to để làm hiệu lệnh, cứ tối đến thì xã tuần vào đốc ở điếm nào phải ra điếm “thu không” gọi tuần phu ra cho đủ. Xã tuần phải kiểm soát đồ đạc khí giới người nào người ấy cho đủ, rồi chia phen nhau, một bọn canh phòng một bọn đi tuần.

Điều thứ 39: Phu canh ở điếm, nếu thấy người đi đêm phải đánh một tiếng trống hỏi, nếu hỏi đến lần ba tiếng trống, mà không thấy người lạ ấy trả lời, thì phải đánh trống động liên hồi, để cho phu tuàn ở điếm khác và bọn đi tuần biết.

Điều thứ 40: Xã tuần đốc bọn phu đi tuần, nếu trong làng hoặc giữa đường gặp kẻ gian phi thì phải thổi tù và liên hồi để báo đọng cho dân làng và phu canh ở các điếm đều biết.

Điều thứ 41: Khi đang đêm thấy ở điếm canh nào có trống báo động, hoặc tù và, bọn phu đi tuần báo động, thì các điếm và bọn đi tuần cũng phải báo động tiếp theo, mà phải lập  tức đến cả ngay chỗ báo động để ứng cứu, nếu bọn nào chậm hoặc thiếu thì sẽ cứ người đốc xuất bọn ấy phạt nặng 1 đ.

Điều thứ 42: Trừ những khí giới của tuần phu, xã tuần đã lấy tiền công của làng sắm cho phải thích chữ công dân vào cái khí giới ấy, còn các nhà tư trong làng , nhà nào cũng phải sắm một hai cái giáo hoặc mác, hễ nghe có hiệu động ở chỗ nào, thì phải lập tức đem khí giới đến nới ứng cứu.

Điều thứ 43: Người phu tuần nào đến phiên canh, chẳng may bị ốm đau thì phải mượn người thay, nếu ai tự tiện bỏ thiếu thì hội đồng sẽ phạt một hào, nếu ai bỏ thiếu đến 3 lần hoặc ngang ngạnh không tuân thì hội đồng sẽ làm biên bản giao Lý trưởng trình quan trị tội.

Điều thứ 44: Trong khi trong làng chẳng may sẩy ra việc trộm cướp, bất cứ tuần phu hoặc người làng ai có can đảm đánh bắt được một tên trộm, thì làng sẽ thưởng một đồng bạc, bắt được một cướp, thì làng sẽ trích tiền công thưởng 10 đ.

Điều thứ 45: Lý trưởng, phó lý phải thường xem xét người lạ mặt vào trong làng, nếu không có hình thẻ tùy thân hay căn cước, đáng ngờ thì phải băt giải trình Quan xét.

Điều thứ 46: Trừ những việc hiếu, hỷ đã có giấy xin phép quan rồi không kể, còn ban đêm thì cấm không nhà nào được hội họp, ăn uống, cờ bạc, chèo hát, trống phách, đàn địch làm huyên náo an tĩnh trong làng, nếu ai không tuân hương sẽ phạt 0.5 đ.

Điều thứ 47: Xã tuần cùng phu tuần cũng phải trông coi cả đồng điền và hoa mầu, nếu thấy ai làm  hư hoại hoặc  trộm cắp, thì bắt trình hội đồng xét phạt từ 0.2 đ đên 1.đ.

Điều thứ 48: Việc giữ nước vào  tháo nước ở đồng điền là do hội đồng xét định, nếu thấy ai tháo trộm nước đơm cá, để đồng điền khô cạn, thì tuần phiên phải bắt giải trình hội đồng xét phạt 0.3 đ, nếu dung túng khi hội đồng xét ra thì người xã tuần, tuần phu ấy cũng bị phạt như thế.

VIỆC CẤP CỨU

 

Điều thứ 49: Gặp lúc cần cấp cứu như thủy, hỏa, đạo tặc thì trừ những người già, yếu không kể, còn người làng hễ nghe thấy hiệu động là phải lập tức mang khí giới đến nơi ứng cứu, nếu ai chậm thiếu hội đồng sẽ phạt 0.2 đ.

Điều thứ 50: Nếu ai vì sự cứu cấp ấy mà bị thương, thì hương hội sẽ xét tuỳ nặng nhẹ trích tiền công nhiều hoặc ít, cấp cho để uống thuốc. Nếu chẳng may vì nghĩa vụ mà chết thì Hương hội sẽ trích tiền công cấp cho một món tiền để tống táng là 10. đ và cả làng đi đưa.

 

VIỆC VỆ SINH

 

Điều thứ 51: Tiểu ban hội đồng vệ sinh thời thường phải đi xem xét các đường lối ngõ ngang và các nhà trong làng, bắt phải quét dọn cho sạch sẽ, nếu ai không tuân sẽ trình hội đồng nghị phạt 0.2 đ.

Điều thứ 52: Cấm không ai được vất bỏ những vật dơ bẩn ra đường lối đi lại, hay là làm nhà tiêu và nhà lợn ở bên đường, nếu ai không tuân hội đồng sẽ nghi phạt 0.50 đ. Nếu bắt được ai phóng uế ra đường đi và những nơi phần mộ thì bắt trình hội đồng sẽ phạt rất nặng 0.50 đ.

Điều thứ 53: Làng sẽ trích một món tiền công để chi cho các xóm trong làng, để sửa sang xây cầu, mỗi xóm một cái giếng ăn nước cho sạch sẽ và cấm không ai được rửa bẩn thỉu hoặc tắm giặt xuống những giếng ăn ấy. Nếu ai không tuân hễ bắt được trình hương hội phạt 0.20.

Điều thứ 54: Khi trong làng bất thần có phát ra chứng bệnh gì có thể lây được như là: bệnh đậu mùa, bệnh dịch tả….vv thì Lý trưởng phải lập tức làm giấy trình quan để xin quan thầy thuốc về chữa.

Điều thứ 55: Nếu trong làng có ai phát ra chứng bệnh thì Lý trưởng phải lập tức trình quan khám xét, bắt đem ra sở dưỡng tế chữa thuốc. Nếu vị tình giấu giếm để cho ở trong làng, hể có người kêu ra thì Lý trưởng có lỗi.

Điều thứ 56: Những súc vật ốm chết, phải đem chôn, cấm không ai được ăn thịt hoặc ném xuống hồ. Cấm không ai được làm chuồng lợn, chuồng trâu ở gần hồ ao hay là những chỗ nước có thể chẩy xuống hồ ao được, ai không tuân hội đồng sẽ nghĩ phạt 0.20 đ.

Điều thứ 57: Đường xá, cầu cống của công dân thì Phó lý phải trông coi đến luôn, nếu thấy nơi cầu hư hỏng phải trình hội đồng sửa lại.

Điều thứ 58: Các đường chung cả làng thì làng sẽ trích tiền công mà sửa chữa, cho đi lại được sạch sẽ. Còn các đường ngang, ngõ ngách của các xóm, thì xóm nào xóm ấy phải sửa chữa lấy. Nếu xóm nào không tuân, hội đồng sẽ làm biên bản trình quan nghĩ phạt. Ai làm việc gì để hại đến đường sá, cầu cống của làng, thì phải làm đền và Hương hội nghĩ phạt 0,5 đ.

Điều thứ 59: Ai muốn tháo nước hoặc tát nước qua đường thời trước phải trình Hội đồng hết, khi làm xong phải đắp đền lại như cũ, ai không tuân Hương hội sẽ nghĩ phạt 0.20 đ.

Điều thứ 60: Trong làng, nhà nào có lũy tre ở bên đường thì thường thường phải phát dọn cho sạch sẽ, quang đãng cấm không được để mọc lấn ra đường, nếu ai không tuân để hội đồng phải thuê người phát dọn thì nhà ấy phải chịu tiền phí tổn và phải phạt 0.30 đ nữa.

 

VIỆC VỆ NÔNG

Điều thứ 61: Thường năm làng phải sửa sang cống cầu và các đường khuyến nông, khơi sâu các ngòi lạch, để chứa nước, tháo nước, cho thuận tiện việc làm ruộng.

Điều thứ 62: Cấm không ai được ngăn đắp ngòi lạch mà đơm cá, để nước không được lưu thông, ai không tuân hội đồng sẽ nghĩ phạt 0.20 đ.

Điều thứ 63: Khi mùa lúa, mùa mạ đã tốt, cấm các nhà có trâu bò không được để những đứa ăn đứa ở đem trâu bò chăn ở các bờ lúa, mạ. Ai không tuân, tuần xã bắt được, Hội đồng sẽ nghĩ phạt 0.20 đ.

Điều thứ 64: Khi mùa lúa đã cấy, mùa mạ đã gieo rồi, cấm không ai được thả vịt, ngỗng ra đồng, để phá hại lúa mạ, nếu ai không tuân có người trình tới Hội đồng, thì người ấy sẽ phải đền và phạt 0.20 đ nữa.

 

CÁC CỦA CÔNG

Điều thứ 65: Các của công dân, thì lý dịch và xã tuần phải trông coi và giữ gìn, cấm không ai được lấy của công thành của riêng, ai không tuân làm tổn hại của công thì Hội đồng lại phải phạt 0.30 đ.

Điều thứ 66: Khi làng bán động sản hay là cố, bán bất động sản, thì Hội đồng phải theo lệ, cho đấu giá kín, phải niêm yết trước 10 ngày, cho mọi người đều biết ở chỗ đấu giá.

Điều thứ 67: Đến khi đấu giá, ai cao giá hơn cả thì được hội đồng phải làm biên bản cho đấu và đính theo giấy tình nguyện để lưu chiểu.

Điều thứ 68: Khi đồng điền thu hoạch xong rồi, ai muốn chăn vịt, ngỗng ở ngoài đồng, phải trình Hội đồng xét định mới được.

 

VIỆC GIAN LẬN

Điều thứ 69: Những điều gian lận, Chính phủ đã có lệnh cấm, như rượu lậu, thuốc phiện và cờ bạc thì dân làng ai cũng phải tuân theo. Nếu ai không tuân Hội sẽ khám bắt giải trình quan trị tội và phải nộp phạt cho làng 1.0 đ nữa.

Điều thứ 70: Những người phạm cấm ấy, nếu Lý trưởng hoặc hội đồng đã làm biên bản bắt giải trình quan trị tội rồi, sau nếu tái phạm, làm tổn hại phong hóa trrong làng thì Hội đồng sẽ làm biên bản phạt người ấy 2.đ , không được dự việc tế lễ Đình chung một năm.

 

VIỆC GIAO THIỆP

Điều thứ 71: Khi nào có lệnh quan sức có việc cần cấp hoặc quan tây, quan ta về làng xét hỏi việc gì thì Lý trưởng phải lập tức thông báo cho hai Hội đồng biết để ra tiếp.

Đièu thứ 72: Các người Hội đồng và chánh phó lý khi ra ứng tiếp quan trên ở công sở phải có lễ nghi chính đáng, các quan cần hỏi việc gì phải trình bày cho minh bạch. Nếu các quan muốn khám xét nhà nào về việc gì thì phải tùy hành dẫn khám. Nếu có việc gì ngăn trở phải tìm cách giữu gìn bảo hộ cho được ổn thỏa.

Điều thứ 73: Trong địa giới làng nếu thấy tin có ai bị đau ốm hoặc bị tai nạn gì, thì Lý dịch phải lập tức đến tận nơi mà tìm phương cấp cứu.

 

VIỆC GIÁO DỤC

Điều thứ 74: Làng sẽ đặt một trường Hương học dạy tạm ở văn từ, sau này làng sẽ trù tính làm một nhà trường riêng, để dạy các lớp ấu trong làng.

Điều thứ 75: Làng ta có 30 mẫu ruộng công, ít quá không tiện quân cấp, vẫn chia cho các họ, nay nghĩ trích ruộng ấy biếu các người già tự 70 tuổi trở lên, mỗi người 3 sào để làm ruộng chu lão, còn thì đêm đấu cố của để lấy tiền chi việc lương hương sử. Nếu còn thiếu và tiền bút giấy bàn gỗ thì sẽ trích tiền công chi biện.

Điều thứ 76: Trẻ con trong làng, tự 8 tuổi giở lên, giai hoặc gái đều phải cho đi học cả, nếu nhà nào thực nghèo, Hội đồng xét thực, sẽ trích tiền công cấp cho tiền bút giấy.

Điều thứ 77: Nếu trẻ em đến tuổi không cho đi học, thì bố mẹ sẽ phải phạt 0.2 đ , tiền phạt ấy sẽ biên riêng vào 1 sổ, để mua bút giấy cho học trò nghèo.

 

NGỤ CƯ VÀ KÝ TÁNG

Điều thứ 78: Người nào có căn cước minh bạch, nghề nghiệp chính đáng thì Hội đồng mới nhận cho làm nhà ký ngụ ở trong làng.

Điều thứ 79: Chi ký táng ở dồng điền của làng, bất cứ đất công dân hay đất tư gia, đều phải tường hộ đồng biết và phải nộp tiền ký táng tự 1 đ đến 5, đ.

Điều thứ 80: Những người có mồ mả ký táng ở trong làng, khi muốn đem về quê hoặc dời đi nơi khác đều phải đưa giấy xin phép của quan cho, để trình Hương hội lý dịch biết, thì mới được đem đi.

Điều thứ 81: Những mồ mả ký táng cũng theo như người làng phải để ở chỗ xa dân cư hoặc không phạm cấm, thì Hội đồng mới cho, nếu ai không tuân tự tiện táng trộm hoặc lấy trộm, bắt được sẽ giải trình quan trị tội.

 

 

 

 

 

PHẦN THỨ II

TỤC LỆ

 

VIỆC HÔN NHÂN

Điều thứ 82: Con giai, con gái trong làng đi lấy vợ, lấy chồng theo luật phải đúng tuổi thì chủ ký mới được vào sổ, nếu ai không tuân hoặc không trình Trưởng bạ vào sổ, thì thư ký sẽ trình quan phải phạt.

Điều thứ 83: Lệ nộp tiền, cheo thì con gái lấy người làng phải nộp 2 hào, hàng tổng 1.00 đ , hàng huyện 2.00 đ biệt hạt 3.00 đ, biệt tỉnh 5.00 đ phải nộp cheo và vào sổ giá thú trước khi đón dâu.

Điều thứ 84: Cấm không ai được chăng dây sách nhiễu để làm ngăn trở khi có việc cưới xin, nếu ai không tuân sẽ phải phạt 0.20 đ.

VIỆC TANG LỄ

 

Điều thứ 85: Việc tang là một việc buồn rầu, thương đau của nhà người ta, cấm không được việc theo tục lệ ngày xưa mà bày đặt ra lệ nọ, lệ kia mời làng ăn uống. Và người làng cũng không được hạch sách tang chủ phải theo lệ nọ, lệ kia nếu ai không tuân sẽ phải phạt 0.50 đ.

Điều thứ 86: Tang chủ ai muốn mời những người thân thuộc họ hàng, làng nước để hộ lễ và giúp việc hành tang thì cũng mặc lòng, nhưng coi là việc riêng của tang chủ, chứ không phải là lệ của làng.

Điều thứ 87: Đến ngày an táng, tùy nhà tang chủ muốn mời người họ mình đưa hay người thôn mình ở hoặc hội nào đưa, hay thuê người đưa cũng được. Làng không nên chấp nhất bắt ép tang chủ phải theo lệ nọ, lệ kia.

Điều thứ 88: Việc đưa đám ma là một việc trọng vì nghĩa tử là nghĩa tận, ai cũng chết có một lần, bất cứ là người về hạng nào, hễ đã có lời cáo phó thì chỉ trừ những người yếu đau thôi, còn thì nên đi đưa cả, để tỏ lòng chia buồn cùng nhau.

Điều thứ 89: Dẫu người thân thuộc hay người làng nước cũng vậy, đã đi ma an táng rồi, thời chào tang ngay ở nơi mộ địa, rồi đâu về đấy, chớ không nên lại về nhà tang chủ ăn uống.

Điều thứ 90: Người tang chủ cũng nên tạ ơn những người đi đưa ma ngay ở mộ địa, chớ không được mời khách về nhà bày đặt ra ăn uống.

Điều thứ 91: Nếu cấm hẳn không cho tang chủ được mời làng tế lễ theo như sách lễ, thì e người hiếu chủ không biết lấy gì tỏ lòng hiếu thảo với người quá cố, vậy tang chủ có muốn mời làng tế lễ, thì làng cũng cho. Nhưng không được bày ra khoản tiếp bằng cỗ bàn ăn uống. Tang chủ chỉ nên nộp một món tiền cho dân để làm việc công như sau này:

+ Hạng nhất: Đàn ông 36.00 đ, đàn bà 24.00 đ.

+ Hạng nhì: Đàn ông 6.00 đ, đàn bà 4.00 đ.

Điều thứ 92: Những người ký ngụ có nhà ở trong làng mà xin đưa ma, ký táng ở trong làng có kèn trống, phải nộp cho làng 15,00 đ.

Điều thứ 93: Việc phong hóa, trong làng nhà nào đánh cãi nhau tri hô làng nước, hoặc đương đêm chè rượu, rức lác làm náo động xóm làng hoặc có trẻ con không giữ, để ra đường chơi nghịch làm ngăn trở xe, ngựa đi lại, Hội đồng sẽ nghĩ trọng phạt nhà ấy 0.20 đ.

Điều thứ 94: Trong làng người nào hỗn loạn cuồng thiếu như con cháu đánh mắng cha, mẹ, chú, bác hoặc người dưới đánh mắng người trên, thì bất cứ ở chỗ công hay chỗ tư trong làng, có người trình Hội đồng xét thực thì Hội đồng sẽ chiểu việc nhớn nhỏ nghĩ phạt từ 0.20 đ đến 1.00 đ.

Điều thứ 95: Còn như người trên ức nhục người dưới thái quá, để đến nỗi người ta phải trình Hội đồng, thì Hội đồng cũng nghĩ phạt 0.20 đ. Đương chỗ công chúng người nào ăn nói thất lễ hoặc rượu chè bậy bạ, thì Hội đồng cũng nghĩ phạt 0.20 đ.

 

VIỆC TẾ TỰ

Điều thứ 96: Làng ta việc tế tự trong 1 năm, chi tiêu các khoản ước 175.00 đ, theo lệ cổ mỗi năm cắt 25 người tế đám, mỗi người phải ứng ra 7.00 đ để chi biện các việc tế lễ trong một năm.

Điều thứ 97: Lễ nguyên đán sửa lễ lợn rượu pháo, nến cộng 10.50 đ..

Điều thứ 98: Lễ ngày mồng 4 tháng giêng, lễ giao điệt lễ gà và rượu 3.50đ.

Điều thứ 99: Lễ mồng 7 tháng giêng giỗ hậu lễ gà 3.50 đ.

Điều thứ 100: Tối 17 tháng giêng lễ yết kỵ lễ gà 5.00 đ.

Điều thứ 101: Ngày 18 tháng giêng lễ kỵ thánh hóa, lễ lợn, pháo, nến, vàng rượu 14.00đ.

Điều thứ 102: Ngày mồng 6 tháng 2 giỗ hậu lễ gà, rượu cộng 3.50 đ.

Điều thứ 103: Mười tư tháng 2 lễ kỳ phước 3 ngày mỗi ngày sửa lễ 1 lợn và hoa quả, pháo nến cộng 101.50 đ.

Điều thứ 104: Tháng 3 ngày đinh, tế đức thánh Khổng lễ lợn 10.50 đ.

Điều thứ 105: Mồng một tháng tư lễ nhập hạ giá 3.50 đ.

Điều thứ 106: 14 tháng 7 lễ trung nguyên giá 10.50 đ.

Điều thứ 107: Tháng 9 lễ thường tâm giá 10.50 đ.

Điều thứ 108: Tháng 1 lễ chạp Thần giá 10.50 đ.

Điều thứ 109: 23 tháng chạp ở Miếu 10.50 đ.

Điều thứ 110: Tối 30 tháng chạp lễ trừ tịch 10.50 đ.

 

VIỆC KHAO VỌNG

Điều thứ 111: Tiền khao chiết can.

Điều thứ 112: Các người được văn vũ phẩm hàm, từ nhất , nhị, tam phẩm giở lên, thì tiền khao nộp tùy tâm, còn tứ, ngũ, lục phẩm phải nộp tiền khao cho làng 50.00 đ, thất, bát, cửu phẩm 40.00 đ, Chánh Phó tổng chưa có phẩm hàm 30.00 đ, Tổng sứ, Tổng đòan, xuất đội, đội trưởng, Chánh, Phó – Lý đều 20.00 đ. Hương mục 5.00 đ.

Điều thứ 113: Từ Chánh, Phó Lý trưởng giở lên và những người đương làm việc quan, chỉ phải nộp tiền khao chiết can một lần đầu thôi, còn sau hễ ai được thăng một bậc, thì chỉ phải nộp tiền vọng thôi.

Điều thứ 114: Tiền kê chân ai đã có vị hương dịch rồi mới làm Lý Phó trưởng thì thôi, nếu không sẽ phải nộp tiền kê chân, vị Hương dịch ấy 20.00 đ. Ai nộp tiền kê chân làm Tổng chức mà chưa có chân Chánh Phó lý, thì phải nộp tiền kê chân Chánh Phó lý là 30.00 đ.

 

TIỀN VỌNG

Điều thứ 115: Văn vũ phẩm hàm phải nộp tiền vọng có 3 hạng là:

– Hạng nhất: 20.00 đ.

– Hạng nhì: 15.00 đ.

– Hạng ba: 10.00 đ.

– Hạng chánh phó tổng: 8.00 đ.

Tổng – sự, tổng – đoàn, xuất – đội, đội trưởng, Chánh, phó lý 6.00 đ, Hương mục 2.00 đ, còn sau cứ lên một bậc lại phải theo vọng y như lệ.

Điều thứ 116: Vọng lão ai lên 60 tuổi phải vọng 1.20 đ, từ 70 tuổi giở lên, phải nộp tiền vọng là 5.00 đ, còn lễ thì vàng, hương, hoa quả, rượu chè tùy tâm.

 

VỊ THỨ TRONG LÀNG

Điều thứ 117: Vị thứ trên dưới ở chỗ Đình chung là đặt ra lễ văn, để cho dân làng có trật tự trên dưới, để dễ quản trị trong chốn hương thôn, những tước vị gì có quan chế thì theo quan chế, những chức vị gì của dân thì theo tục dân. Lý phó trưởng ngồi với Lý phó trưởng, Hương mục ngồi với Hương mục, Trung đình ngồi với Trung đình, còn ai không có chức vị gì thì cứ hơn tuổi ngồi trên, ít tuổi ngồi dưới.

Điều thứ 118: Kể từ ngày thi hành điều ước mới này thì những lệ cũ trong làng bỏ đi cả.

Điều thứ 119: Từ ngày thi hành hương ước này giở đi, người làng hễ ai không tuân theo thì Hội đồng sẽ tùy việc nặng nhẹ mà nghĩ phạt từ 0.2 đ  giở lên đến 1.00 đ hoặc không cho dự Đình chung tế tự một hạn, là bao nhiêu lần hoặc truất thứ vị xuống mấy bậc.

Điều thứ 120: Cứ đệ niên đến ngày vào đám thì thư ký lại phải đem sổ hương ước này ra đọc cho công dân đều nghe.

Điều thứ 121: Giở lên các điều lệ cộng 121 điều hội đồng kỳ mục và tộc biểu đã hội bàn thỏa hợp và trình Quan phê duyệt giao cho một bản về làng tuân theo, nếu sau này có điều gì không được liệu, hai Hội đồng sẽ bàn định thỏa thuận trình quan xin sửa đổi lại.

Nay làm hương ước

Hương ước này làm tại xã Dư Hàng ngày mồng 6 tháng 4 năm Bảo Đại thứ 14 tức ngày 24 tháng 3 năm 1939.

 

 

 

 

 

TRẢ LỜI VỀ CÁC CÂU HỎI CỦA HỘI KHẢO CỨU PHONG TỤC

Người giúp cuộc điều tra:

Mousiem Dương Văn  Sách, Tri huyện retraite Dư Hàng

——————————————————————-

  1. Tên làng:

– Làng Dư Hàng (餘杭社) không có tên Nôm, tổng Đông Khê (東溪總) huyện Hải An (海安縣), tỉnh Kiến An (建安省), mới sát nhập vào thành phố Hải Phòng.

  1. Thần Thành Hoàng.
  2. Làng tôi thờ đức Ngô Vương thiên tử, lịch triều sắc phong hiệu ngài là Ngô Vương thiên tử thuợng đẳng tối linh đại vương. Tên húy ngài là Quyền – Ngô Vương Quyền.
  3. Ngài là một ông vua nhất thống nước Nam ta đầu tiên, ngài là nhân Thần.
  4. Sự tích ngài đã chép tường ở Nam sử, ngài làm vua đóng đô ở thành Cổ Loa, tỉnh Bắc Ninh. Khi xưa có thái tử nhà Nguyên bên Tầù là Thoát Hoan cùng nhà Bắc Hán đem quân sang đánh nước Nam, ngài đem quân đóng đồn ở đất đền Giầm bây giờ, đền làng Lương Xâm (琅琛) để đánh giặc Tầu. Ngài đánh phá giết được giặc Tầu ở sông Bạch Đằng thuộc tỉnh Quảng Yên, cứu được dân nước Nam ta khỏi phải lầm than về sự nội thuộc, ngài hóa ngày 18 tháng giêng An Nam.

Vì ngài có công cứu dân khỏi nội thuộc, nên sau khi ngài hóa, dân sở tại làng (Lương – Xâm) truy tư công đức, lấy chỗ đền cũ làm đền thờ ngài, gọi là đền Giầm, rồi sau các làng trong 5 tổng là: tổng Lương – Xâm, tổng Trung – Hành, tổng Hạ – Đoạn, tổng Trực Cát và tổng Đông Khê đều thờ ngài cả.

  1. Từ đời vua Lê đến giờ như triều Lê, Lý, Trần, Tây – Sơn, Mạc, Hậu – Lê và triều Nguyễn bây giờ, đời vua nào cũng có sắc phong hết cả, có lẽ nhiều lắm không sao kể xiết vì không được phép sao ra.

Trước khi chưa thờ ngài, thì làng Dư Hàng và làng Hàng kênh có thờ chung một vị, hiệu là đức (Già – Vũ), ngài là người Họ Vũ xã Dư Hàng, ngài làm quan công thần Triều Trần, sau cả hai làng đều thờ đức Ngô Vương, còn đức Già – Vũ bây giờ chỉ có một thôn Bắc xã Hàng Kênh thờ thôi, tục gọi là Từ Vũ.

  1. Các làng thờ ngài Ngô Vương không làng nào có lệ giao hiếu giao lưu gì cả, chỉ có cả tổng Đông Khê bây giờ về bản triều đã sắc phong riêng cho mỗi làng một đạo rồi. Lại có một đạo sắc phong cho đồng tổng phụng sự. Vì thế, đạo sắc ấy cứ độ niên tháng 2 lại rước luân chuyển xã này sang xã khác, cứ để mỗi xã một năm, tuy có một xã rước, nhưng các xã đều phải có nghi – trượng ứng tiếp cả.
  2. Làng nào thờ ngài đều có tượng bài vị và long ngai cả, làng nào cũng có Miếu để thờ tượng, còn Đình thì chỉ thờ bài vị và long ngai và là nơi hội họp cúng tế của làng.

III. Nơi thờ ngài.

  1. Xã Dư Hàng và xã Hàng Kênh thì mỗi xã có một pho tượng, nhưng thờ chung 1 ngôi miếu, nguyên là cái gò đất cao của công hai xã, tục gọi là miếu Hai Xã. Ngày trước chỉ có ngôi miếu ngói ba gian thỏi.
  2. Nay ở Miếu ấy Hai Xã làm thêm 1 cái bái đường ở ngoài, và hai bên có hai cái hành lang mỗi cái 5 gian, rộng rãi và đẹp đẽ lắm.
  3. Chung quanh Miếu đều là đất cấm địa, không ai được làm gì ô uế cả, ở Miếu vẫn có ông thủ từ để trông nom đèn hương quanh năm. Hai xã cúng tế, hội họp đều ở Đình cả. Trong một năm chỉ có 23 tháng chạp ta thì cả hai xã làm lễ dịch mã (thay mũ áo mới) ở miếu một lần thôi, hai xã tế chung. Còn ngoài ra khi nào Giời làm hạn hán thì hai Xã mới hội đão vũ ở Miếu.
  4. Tế lễ hàng năm.

– Quanh năm tế lễ thì ngày trước sẽ tốn cũng nhiều nhưng khi cải lương đến nay, thì đã giảm đi mất một nửa rồi, hiện nay chỉ còn có lễ Nguyên Đán (mồng một tết ta), mồng 4 tháng riêng là lễ giao diệt  (đánh vật).

  1. Ngày 17 tháng giêng là ngày lễ ky, trung tuần tháng 2 ta là lễ Kỳ phúc 3 ngày.
  2. Ngày 15 tháng 7 là lễ trung nguyên, lễ thường tân là lễ gạo mới độ cuối tháng 10 ta, 24 tháng 11 là lễ chạp thần và tối hôm 30 tết là lễ giao thừa, ấy là các lễ thường, còn trong làng chẳng may sẩy ra tai nạn thời dân có làm lễ Kỳ yêu.
  3. Đồ lễ

a- Đồ lẽ dùng để cúng tế thời phải có lợn, gà, sôi, hoa quả, rượu và trầu cau…Từ khi theo cải lương đến nay thì lễ phẩm đã giảm đi được quá nửa thí dụ như khao lão thì ngày trước vọng 70 tuổi hết  15 đ. Ngày nay dân lấy chiết can bằng tiền hoặc 5, đ hoặc 3 đ cũng xong. Khao vọng phẩm hàm ngày trước phải 30 đ, ngày nay nộp chiết can hoặc 15 đ hoặc 10 đ chẳng hạn ,tùy theo sức người giầu nghèo.

b- Thường năm, các lễ phẩm tế Thần thì người tế đám cả phải liệu, còn tiền thì đã có tiền hoa lợi ruộng tư điền, vì làng tôi không có ông mạnh bái dân cứ chiểu theo sổ hương ẩm trong làng cắt ra 20 người thanh niên làm đăng cai, còn người tế đám cả lại phải chọn kỹ hơn, con nhà đàn anh, có vật lực mới được làm.

c- Khi tế xuống thì lễ phẩm ấy giao cho Lý dịch sai bảo làm cỗ, nếu có lợn giở lên , thì phải có đủ thượng hạ từ 18 tuổi mới được vào làng trở lên tới ông lão 100 tuổi  đều được dự cả, các ông lão từ 70 tuổi giở lên đã có vọng thì mỗi ông một cỗ , Tiên thứ chỉ, Lý trưởng và các người có phẩm hàm  đã theo lệ. Khao vọng rồi  đều được mỗi người một cỗ , còn đều 4 người một cỗ cả. Đầu lợn thì một nửa chia biếu từ phẩm hàm trở lên, một nửa chia biếu từ 60 tuổi trở lên.

  1. Người dự tế lễ.

     Các người phần việc dự lễ thì không có hạn định, hễ đã có quyên tiền mua thứ vị ở làng và đã có khao vọng theo lệ thì được là quan viên cả, đều được vị thứ ứng tế cả.

VII. Kiêng kỵ khi tế lễ.

Những người ứng tế đều không có tang chở gì, từ 5 tháng giở lên mới được, đã có tang thì không được ra đình, và trai giới sạch sẽ 3 ngày trước mới được ra đình cúng tế.

VIII. Đồ đạc tế lễ.

Các người dự tế, phải đội mũ mấn, ác tấc xanh, quần trắng, bít tất trắng, tóm tắt là phải tỏ ra là mình trai giới sạch sẽ.

  1. Hèm (húy)
  2. Tên húy của đức Thần thì cà làng nhi đồng, phụ nữ ai ai cũng biết kiêng cả, không ai phải bảo, và cũng không ai dám nói phạm húy bao giờ. Làng nào cũng có phong tục riêng của làng ấy, đều có khoản lệ thưởng phạt để cai trị trong làng ấy. Nói tóm lại nhà nước ta đặt ra làng nào cũng phải thờ một vị Thành hoàng là cốt để lấy thần đạo, thiết giáo đó thôi. Vì đã thờ Thần thì làng nào cũng có 1 khoản lệ để cai trị nhau cho có, trật tự trên dưới cho khỏi làm những việc bại hoại, phong hóa. Tục ta có câu: “ phép Vua thua phép làng” là thế chỉ vì dân ta phần nhiều ít học, không hiểu lẽ đó mới sinh ra lệ nọ nghạch kia, ăn uống ức hiếp lẫn nhau, đến nỗi có tiếng “miếng thịt giữa làng” đó thôi, ấy là nói đại khái thế thôi. Đến như làng tôi thì lại khác hẳn gọi là có tiếng tế tự, nhưng kỳ thực chẳng có gì, ở Đình trung chỉ thứ vị hơn nhau có quả cau, quả chuối mà thôi, còn các lệ ngạch đều giảm bớt hết, người làng không ai phải đóng góp gì cả. Nên chi đã mấy mươi năm nay, làng tôi không hề có ai kêu ca lôi thôi đến việc ăn uống, thứ vị bao giờ, không có việc đến quan phải can thiệp cả.
  3. Chỉ có khi nào có những người phạm việc gì không phải thì đồng dân tại Đình bắt lỗi cơi giầu hoặc chai rượu để lễ tạ thần và xin lỗi dân là xong. Trừ những người làm việc gì can thường phạm nghĩa, thì phạt nặng hơn một tí nữa, là anh em không bảo được, không giữ được nhau thì anh em cũng phải phạt như thế, nếu ai không tuân, là người bất thuận hương đẳng, thì ra đình không ai dám ăn ngồi với và các tư gia ai có việc mời đến làng, không được mời người ấy. Tuy rằng làng không truất thứ vị, mà cũng như là truất vậy,

Thay đổi về việc cúng tế. Gần đây thì việc tế lễ đã tinh giảm nhiều, chỉ cốt thành kính thì thôi, nơi cúng tế có sửa sang đẹp đẽ hơn nhiều, còn số người được dự tế cũng có rộng rãi, dễ dàng hơn nhiều, ngoài ra không có gì thay đổi khác trước cả.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *