“Làng Vẻn và Nữ tướng Lê Chân”-tác giả-Dương Anh Dũng

Nhân bộ sách Lịch Sử Hải Phòng được xuất bản tôi xin góp một số tư liệu nghiên cứu về vùng đất Dư Hàng kênh và An Biên để nêu ra một luận thuyết về Bà Lê Chân với việc khai phá đất Hải phòng. Tôi là người Trang Kênh Dương liền kề Trang An Biên nên lịch sử hình thành làng tôi sẽ tương đồng với làng An Biên (Làng Vẻn).

Tôi có bài viết về vấn đề Làng Vẻn và nữ tướng Lê Chân dưới đây.

I- Các tài liệu hiên nay sưu tầm được

  • Các tài liệu về Huyện Kinh Môn (nay là thị xã Kinh môn)  ghi: “Ngày xưa, khi nữ tướng Lê Chân lập trang An Biên khai phá khu vực Hải Phòng ngày nay, chắc chắn Kinh Môn không xa biển”.

-Theo Tạ Hòa Phương trường ĐHKHTN VN trong tác phẩm “Đến với vùng văn hóa Kinh Môn” của Hội khảo cố Việt nam và UBND huyện Kinh Môn: “Vào động Thánh hóa phía sau chùa Nhẫm Dương ta còn thấy trần động khá bằng phẳng – dấu tích bào mòn trần hang của sóng biển trong kiểu hang hàm ếch vào thời xa xưa , khi nơi đây còn ngập chìm trong sóng biển của thời kỳ Pleistocen muộn. Dưới mức trần hang, nếu để ý quan sát, ta còn có thể thấy được 3 ngấn biển cổ còn lưu dấu ấn khá rõ. Điều đó chứng tổ mực nước biển dừng lại lâu không chỉ một lần và cảnh quan các núi đá vôi ở Kinh Môn vào những thời kỳ đó chẳng khác gì so với các đảo đá vôi trên vịnh Hạ Long ngày nay. ”

2-  Theo bách khoa toàn thư mở (để tham khảo): Bà Lê Chân sinh 8-2 năm canh dần (năm 20 sau CN). Tháng 3-40 Nhà Đông Hán xâm lược nước ta. Chủ tướng là Tô Định không lấy được Bà Trưng (ở Mê Linh) đã sát hại Thi sách, Không lấy được Lê Chân (ở An Biên Đông Triều) đã sát hại cha mẹ bà Lê Chân. Bà Lê Chân cùng người làng đến An Dương Hải Phòng khai phá đất đai lập trang An Biên. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa (cuối năm 40) bà Lê Chân đã theo về làm tướng. Thu phục 65 thành trì, bà Trưng lên ngôi. Bà Lê Chân về lại trang An Biên củng cố lực lượng và làm kinh tế. Năm 42 nhà Hán sai Mã Viện sang xâm lược. Đội quân của bà Lê Chân chặn đánh Mã Viện tại cửa Bạch Đằng sau đó rút về Mê Linh cùng hai bà Trưng chống giặc. Do quân Mã Viện quá mạnh, Hai bà Trưng thua trận, trầm mình trên sông Hát, bà Lê Chân rút về Kim Bảng Hà Nam, sau thua trận phải tự vẫn, đó là năm 43. Bà Lê chân 23 tuổi.

3-Theo Thần tích xã Nại Từ:  Ngày 11-2-39 Tô Định giết hại Thi sách., tháng 2-40 Hai Bà Trưng khởi nghĩa chiếm Trị sở nhà Hán tại Luy Lâu Bắc Ninh, thừa thắng đánh sang lưỡng Quảng thu phục 65 thành trì, dựng nước.

4-Theo cổng thông tin điện tử Hải Phòng: Bà quê làng An Biên (Vẻn) Đông Triều Quảng Ninh. Tháng 3- 40 Nhà Hán xâm lược nước ta. Biết bà xinh đẹp tướng giặc là Tô Định muốn cưới làm vợ, không được đã sát hại cha mẹ bà. Quyết chí trả thù, bà tìm thầy học võ. Khi tinh thông võ nghệ bà dẫn người làng đến Trang An Biên An Dương – Hải Phòng chiêu tập binh mã. Có lực lượng Bà đã lên xứ Đoài tham gia đội quân khởi nghĩa của Hai bà Trưng. Khới nghĩa thắng lợi thu được 65 thành trì, bà Trưng lên ngôi. Bà Lê Chân được phong làm tướng và về lại trấn ải vùng Đông Triều Quảng Ninh và An Biên Hải phòng củng cố lực lượng và làm kinh tế.

5- Theo cổng thông tin điện tử Hà Nam, (tóm tắt bài của tác giả Mai Khánh đăng ngày 4-7-2013)

Bà Lê Chân sinh ngày 8-2-Canh Thìn (20 SCN). Quê làng An Biên Đông Triều. Năm 18 tuổi (năm 38 SCN) Tô Định ép cưới bà không được đã sát hại cha mẹ bà. Bà tìm thầy học võ nghệ, sau đó dẫn dân làng đến An Dương (Hải Phòng ngày nay) khai hoang lập xóm ấp mua sắm vũ khí chiêu tập binh mà. Nghe tin hai bà Trưng mưu dại sự, bà kết giao và được hai bà phong tướng cử trấn ải miền ven biển.

Tháng 3-40 Hai bà Trưng Khởi nghĩa, bà Lê chân đem quân lên Luy Lâu hợp lực cùng Hai Bà đánh đuổi Tô Định về nước, sau hai tháng đánh sâu vào đất địch thu phục 65 thành trì bà Trưng lên ngôi vua.

Năm canh tý bà 21 tuổi, được Hai bà Trưng phong là Thánh Chân công chúa và cử về lại vùng An Dương. Bà đã thành lập Trang An Biên mang tên làng cũ ở Đông Triều. Bà tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng và phát triển kinh tế.

Tháng 4-42 nhà Hán cho Mã Viện sang báo thù, Bà Lê Chân mang quân từ cửa biển đánh lên, lập căn cứ ở Hoàng Mai ven sông Hồng, sau đó bà về Mê Linh hội quân cùng Hai Bà. Quân Hai bà chủ động tiến đánh Mã Viện, ban đầu thắng lợi sau không thắng được giặc mạnh. Hai bà Trưng rút về Cẩm Khê chân núi Ba Vì. Bị vây hãm, Hai Bà rút  quân, qua sông Đáy thì Hai Bà tuẫn tiết. Lê Chân cùng Đô Dương rút về Ninh Bình và Thanh Hóa để tiếp tục chống giặc. Bà Lê Chân chọn vùng Lạt sơn (Kim bảng Hà Nam) làm căn cứ chặn giặc cho Đô Dương rút quân. Chưa củng cố được căn cứ vững chắc thì quân giặc tấn công, Bà ở lại cố thủ và cho binh lính rút lui, Không chống cự nối thế giặc mạnh bà lên núi Giát Dâu gieo mình tuẫn tiết. Khi ấy là ngày 13-7-Quý Mão, bà mới 24 tuổi.

6-Theo cuốn Lịch Sử Hải Phòng mới xuất bản, (Căn cứ vào các bản Thần tích Đền Suối-Đông Triều; Đền An Biên –Hải Phòng, Đền Lạt Sơn-Hà Nam-trang 305-309) : Bà Lê Chân quê Trang An Biên Đông Triều. Năm 20 tuổi bà đã tinh thông võ nghệ không lấy chồng Tô Định hỏi làm vợ không được đã sát hại cha mẹ bà. Bà Lê Chân lánh nạn về vùng sông Cấm (Hải Phòng) chiêu mộ nghĩa sỹ họ hàng khai khẩn đất mới, tích tụ lương thực . Qua ba năm dựng lên một ấp đặt tên là Trang An Biên, mở chợ ven sông tiện mua bán. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, bà Lê Chân tuyển 100 thanh niên huyện An Dương tham gia. Khi Tô Định thua chạy về nước, Hai bà sai Lê Chân về Trang An Bên xây đồn binh phòng giặc Bắc. Chỉ vài năm vùng  này trở lên giầu có. Ba năm sau Hán Quang Vũ sai Mã Viện sang đánh báo thù. Hai bà triệu Lê Chân về bàn kế chống giặc, ban đầu quân giặc thua nhưng sau dùng kế hiểm đánh bại quân Hai Bà. Thua trận, cuối cùng hai bà và  Bà lê Chân cũng nhảy xuống sông tự vẫn.

(Cứ theo số học thì bà Lê Chân 20 tuổi, cộng “qua ba năm” cộng “chỉ vài năm” cộng “ba năm sau” cộng một năm đánh Mã Viện thì khi bà Lê Chân tuẫn tiết ở Giát Dâu  bà phải 29 tuổi (!). Thực ra bà sinh năm Canh Thìn (20 SCN) mất năm Quý mão (43 SCN) thì bà chỉ 24 tuổi đây là một tồn nghi của sách Lịch sử Hải Phòng).

7– Theo Thần tích làng Phong Nội-Bình Dân- Kim Thành do Hàn lâm lễ viện, Đông các đại học sĩ, Nguyễn Bỉnh soạn ngày tốt đầu xuân, (1572).

Năm 40 sau Công Nguyên cụ Dương Ngọc người Gia Lộc, (ở trang Đoàn Lâm, xưa gọi là Trường Tân), phủ Hạ Hồng, làm tướng của Trưng Vương được giao nhiệm vụ đi tuần du ven biển: “ Trưng Trắc mến tài năng, phong làm Chỉ huy sứ, Thượng tướng quân. Tướng binh trước tiên tuần phòng các miền hải khẩu. Một ngày ông đem quân đến trang Phong Nội, quận Trà Hương, phủ Kiến Thụy, trấn Hải Dương (xưa là bộ Dương Tuyền, nay là xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương) ở đầu địa giới… Như nội dung thần tích ta hiểu miền ven biển hồi đầu Công nguyên chính là huyện Kim Thành và vùng Kinh Môn giáp biển khi ấy cũng chỉ mới là vùng thị xã Kinh Môn và phường Hiến Thành ngày nay. Ngày ấy Phủ Hạ Hồng và Phủ Kiến Thụy là thuộc địa phận tỉnh Hải Dương ngày nay chứ chưa là địa phận Hải Phòng bây giờ như nội dung trang 307 cuốn LSHP.

8- Theo cuốn “Đình Dư Hàng và quê tôi” Nhà xuất bản Hải Phòng phát hành năm 2019 khai thác từ cuốn “Lịch sử Đảng bộ phường Dư Hàng Kênh” :

Từ trước công nguyên, vùng đất phường Dư Hàng Kênh là hệ thống cồn cát, bãi đầm lầy dọc ven biển năn lác hoang vu, nằm ở phía tây nam tỉnh Đông (Hải Dương ngày nay).

Tại vùng bãi lau sậy ven sông Lạch Tray, thời xa xưa chỉ có người thập phương lưu lạc tá túc làm nghề đánh cá và hái lượm sản vật tự nhiên. Riêng dẻo đất Dư Hàng Kênh khi ấy là vị trí cao nhất của cả vùng, chưa có dân cư sinh sống. Vào thế kỷ thứ X, vùng đầm bãi này mới đủ độ cứng để hình thành đất ở.*

Năm 938, Ngô Quyền từ Thanh Hóa kéo quân ra ven sông Cấm, sông Lạch Tray, lập đại bản doanh ở Lương Sâm và đóng quân khắp vùng đón đánh quân Nam Hán. Sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, một số binh lính ở lại khai khẩn đất đai lập nghiệp, dân cư khắp nơi tụ dần về đông đúc. Khoảng năm Ất Hợi 1215 cuối triều Lý đến năm Mậu Thân 1248 đầu triều Trần, hình thành trang ấp lấy tên là trang Kênh Dương, huyện Nghi Dương, tỉnh Hải Dương, tục gọi là tỉnh Đông.

Đến thời nhà Minh đô hộ (khoảng năm 1407-1427), dân làng phiêu tán khắp nơi, đồng ruộng bỏ hoang, cửi canh dẹp bỏ. Năm 1427 có cụ Nguyễn Khâm về thôn Đoài tái lập trang Kênh Dương và được đổi tên thành làng Hàng Kênh, có nghĩa là thuyền bơi trên kênh lạch, tên làng chỉ ra vùng đất Hàng Kênh có nhiều mương lạch, dân cư đi làm đồng và thu hoạch về bằng thuyền bè.*

Theo địa giới hành chính làng Hàng Kênh xưa:

…….

 – Bắc giáp các làng Gia viên, An Biên.”

9- Theo Kết quả nghiên cứu về địa chất của Doãn Đình Lâm trong tài liệu TIẾN HOÁ TRẦM TÍCH HOLOCEN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG…Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam http://www.idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/2005/A288/a7.htm:

“Các nghiên cứu trong khu vực và lân cận từ trước tới nay đều cho rằng mực nước biển dâng cao nhất trong Holocen tại thời điểm khoảng 6000 năm BP và đạt độ cao khoảng 3-4 m trên mực biển trung bình hiện tại. Sau 6000 năm BP mực nước biển bắt đầu hạ xuống  Quá trình hạ thấp mực nước biển trong Holocen giữa-muộn tại vùng nghiên cứu là một quá trình dao động tắt dần theo hình sin.

10   -Theo Tiến sĩ Địa lý học Nguyễn Thanh Sơn (Hội KHLS quận Lê Chân, Hải Phòng): “Trong giai đoạn biển tiến sau băng hà lần cuối (Biển tiến Flandrian), ở vùng bờ Tây vịnh Bắc Bộ mực biển đạt tới độ cao cực đại 4-6m, vào thời gian cách nay 4-6 ngàn năm. Sau đó biển lùi về vị trí thấp hơn hiện nay chừng 3-4m vào thời gian cách nay khoảng hơn 3 ngàn năm. Sau đó biển tiến trở lại, đạt độ cao 3-3,5m vào thời gian cách nay chừng 2,5-3 ngàn năm. Tiếp theo là đợt biển lùi, có lẽ biển đã lùi về vị trí thấp hơn hiện nay khoảng 1,5m vào thời gian cách nay 1-2 ngàn năm. Vào khoảng thời gian cách nay chừng 1 ngàn năm, mà rõ nhất là khoảng 700 năm trước biển lại tiếp tục lấn vào lục địa đạt tới mực nước như hiện nay [Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Hữu Cừ, Trần Ngọc Diệp. Tiến hóa của bờ Tây vịnh Bắc Bộ trong Pleistocen muộn-Holocen. Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế “Biển Đông 2012”, Nha Trang, 12-14/9/2012. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, tr.309-321].”

Đàm đạo với tác giả, Tiến sỹ đã cho nhận xét “Điều này đã giải thích về các ngấn nước biển bào mòn chân các hòn núi nhỏ tại Thủy Nguyên và trần hang động tại Kinh Môn, còn dấu vết đến này nay. Có nghĩa là vùng Hải Phòng Thủy Nguyên nằm trong vùng châu thổ sông Hồng xa xưa chỉ là vùng bãi biển. Mãi sau này khi biển ngừng dao động vào khoảng 1000 năm trước  cùng với quá trình bồi đắp của các con sông Cấm, sông Lạch Tray  mới hình thành đất đai thành phố ta ngày nay.”

11- Theo TSGS Nguyễn Quang Ngọc PCH hội KHLS VN trong cuốn sách “Nông thôn và đô thị Việt nam-Lịch sử, thực trạng, khuynh hướng biến đổi” có đoạn nêu nghi vấn : “Tìm hiểu kỹ hơn làng An Biên (Đông Triều) và làng An Biên (Hải Phòng), chúng tôi đoán rằng có thể vào thời Trần , dòng họ Lê ở An Biên (Đông Triều) tự nhận là con cháu Lê Chân đã tiến xuống vùng đất cửa biển lập ra làng quê mới và tôn Lê Chân lên làm Thành Hoàng. Trên cơ sở truyền thuyết về một anh hùng Lê Chân có thật ở vùng quê gốc, họ thêm thắt những chi tiết mới.

12- Theo bài viết của tác giả Chế Trung Hiểu hội sử quận Lê Chân trong bài viết “Về thăm bãi cọc Cao Quỳ” đã viết “Thời chống quân Nguyên  đất Trúc Động chỉ là những hòn đảo, cư dân sống dưới chân các ngọn núi đá Điệu Tú, Thiểm Khê, Mai Động, Trúc Động…” (các địa danh trên thuộc các xã Liên Khê, Lưu Kiếm huyện Thủy Nguyên).

13- Nghiên cứu về văn bia của xã Hàng Kênh và xã Dư Hàng trong Tổng Đông Khê và Huyện An Dương:

-Xã Hàng Kênh và Dư Hàng liền kề với xã An Biên cùng nằm trong Tổng Đông Khê, Huyện An Dương.

-Theo bia  số 4 lập 1764 xã An Biên có ba người đóng tiền từ 5 mạch đến 15 quan. Trong khi các xã khác có trên 10 người…

-Theo bia số 5 lập năm 1783 . Gồm các xã Đông Khê, Phụng Pháp, Hàng Kênh, Dư Hàng, An Biên. Xã An biên có 68 người có học và đỗ đạt, tương đương các xã khác trong tổng. (Phụng Pháp 70, Dư Hàng 54, Đông Khê 48, Hàng Kênh 44).

 

Nhận xét:

a-Về thời gian và các sự kiện xảy ra còn chưa nhất quán, song ta có thể suy sự việc như sau:  Nhà Đông Hán chiếm nước ta từ trước khi Tô Định sang làm Thái thú  thay tích Quang năm 34 đến năm 40 Tô Định đã kịp gây tội ác giết Thi Sách và cha mẹ bà Lê Chân. Bà Lê Chân (có thể đã được cha ông truyền dạy võ nghệ tinh thông) đã  dẫn dân làng xuống miền ven biển gây dựng lực lượng. Sau đó bà đã đem quân theo hai bà Trưng Khởi nghĩa. Những tháng cuối năm 40 Khởi nghĩa Hai bà thắng lợi. Bà Trưng lên ngôi. Bà Lê Chân quay lại chốn cũ xây dựng lực lượng và phát triển kinh tế thành một vùng sầm uất. Năm 42 Mã Viện sang đánh, Bà Lê Chân cùng Hai Bà Trưng chống giặc, năm 43 Hai Bà Trưng thua trận tuẫn tiết, sau đó bà Lê Chân cùng Đô Dương tiếp tục chiến đấu nhưng quân giặc quá mạnh cuối năm 43 bà Lê Chân cũng tự vẫn theo.

Với khoảng thời gian ngắn  từ 40-43  bà Lê Chân đã làm được những việc: Đầu năm 40, Sau khi cha mẹ mất bà tìm thầy học võ nghệ tinh thông, sau đó dẫn dân làng từ An Biển Đông Triều về An Dương khai khẩn lập trang An Biên (chỉ mấy tháng). Giữa năm 40 theo hai bà trưng đánh giặc thu 65 thành trì sau đó  năm 41 lại về An Biên củng cố lực lượng phát triển kinh tế . Năm 42 Mã Viện sang bà Lê Chân lại cùng Hai Bà Trưng chống giặc và mất năm 43. Từ Đông Triều đến Hải Phòng và Vĩnh Phúc rất xa phương tiện đi lại thô sơ, trong khoảng thời gian ngắn ba năm bà Lê Chân khó làm được nhiều những việc như thế. Ngành sử nước nhà cần có sự nghiên cứu theo phép suy luận biện chứng logic, để có sự thống nhất về cuộc đời và sự nghiệp của bà cũng như việc bà Lê Chân có về Hải Phòng không?.

    b- Về thần tích của cụ Dương Ngọc cho ta biết:

Thời Hai Bà Trưng vùng Gia Lộc (Hải Dương ngày nay) là Phủ Hạ Hồng, do vậy nội dung tại trang 307 cuốn sử Hải Phòng viết, Trưng Vương  “lập sẵn đồn lớn ở Hạ Hồng” là ở Hải Dương chứ không ở Hải Phòng. Tướng Dương Ngọc đi “tuần phòng các vùng hải khẩu, đến trang Phong nội (Bình dân Kim Thành ngày nay) điều này đã chỉ ra thời ấy ven biển chính là vùng Kim Thành và các khu vực liền kề, Hiến Thành thuộc thị xã Kinh Môn ngày nay.

-Phủ Kinh Môn xa xưa, thời hai bà Trưng đầu Công nguyên chỉ là vùng bán sơn địa Giáp Sơn-Hiến Thành, sau nhiều thế kỷ đất liền lấn ra biển thành vùng Thủy Đường, An Dương, các vùng đất mới hình thành đều vẫn mang tên Phủ Kinh Môn. Mười bốn thế kỷ sau năm 1469 vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước mới chính thức đặt tên tỉnh Hải Dương, trong đó có Phủ Kinh Môn. Khi này Phủ Kinh Môn đã lấn biển mở rộng dần ra đến địa bàn là thành Phố Hải Phòng ngày nay.

c- Căn cứ diễn biến độ cao mực nước biển từ khoảng thế kỷ 10 TCN đến Thế kỷ 10 SCN trong bài viết của tiến sĩ Địa lý học Nguyễn Thanh Sơn ta thấy:

Thế kỷ 10 trước công nguyên đến thế kỷ 5 trước công nguyên, mực nước biển cao hơn ngày nay 3-3,5 m.

Đầu công nguyên đến thế kỷ 10-13 sau công nguyên mực nước biển thấp hơn ngày nay 1,5 m.

Biểu diễn bằng đồ thị độ cao mặt nước biển biến động theo thời gian ta thấy những năm đầu công nguyên nằm giữa giao điểm hai đợt biển tiến và lùi, có mực nước biển xấp xỉ như ngày nay . Điều này cho ta nhận xét là trải qua hàng nghìn năm TCN, vùng đất Hải Phòng chìm sâu dưới mặt nước 3-3,5m, đến đầu công nguyên mới lộ ra nền đất khi này còn là vùng bãi biển lau sậy chưa có mặt bằng để hình thành Trang Ấp đủ rộng để có dân cư canh tác sinh sống thành vùng đất trù phú như nhiều tài liệu mô tả về trang An Biên. Khi mực nước biển xuống thấp mặt đất lộ ra sẽ hình thành dòng chảy của các con sông, rồi phù sa sẽ bồi đắp dần lên châu thổ sồng Hồng và sông Thái Bình, nhiều năm sau sẽ thành vùng đất phì nhiêu màu mỡ cho dân cư từ vùng cao chuyển đến sinh sống, không loại trừ người ở làng Vẻn Đông Triều đến Hải phòng cũng nằm trong bối cảnh ấy.

d- Xét về lịch sử dân tộc thì các cuộc khới nghĩa của Lí Nam Đế, Triệu Quang Phục năm 550-600, vùng Đầm Dạ Trạch Hưng Yên thuộc châu thổ sông Hồng vẫn chỉ là đấm bãi hoang vu. Đến thời Ngô Quyền đánh quân nam Hán (938) tại vùng biển Hải Phòng  thì những vùng gò cao có mặt bằng có thể thế đóng được quân là 17 xã thuộc lục tổng trải rộng khắp cả vùng đất ngày nay là thành phố Hải Phòng. (minh chứng là năm 1853 vua Tự Đức sắc phong cho sáu tổng Gia Viên, Đông Khê, Hạ Đoạn, Trực Cát, Trung Hành, Lương Xâm gồm 17 xã là Đông Khê, Phụng Pháp, Hàng Kênh, Dư Hàng, An Biên, Vĩnh Lưu, Hạ Đoạn, Đoạn Xá, Vạn Mỹ, Trực Cát, Đông Xá, Cát Bi, Gia Viên, Lạc Viên, Thượng Lý, Hạ Lý, An Chân là các nơi có dấu tích xưa Ngô Quyền đóng quân được thờ Ngô Vương làm thành Hoàng). Đến thời Trần Hưng Đạo đánh quân Nam Hán (1288) vùng Cao Quỳ Thủy Nguyên vẫn còn là cửa sông đầm bãi mênh mông, chỉ có các vùng cao như Liên Khê, Lưu Kiếm là đóng được quân. Theo cuốn “Lịch sử Đảng bộ “Phường Dư Hàng Kênh”NXB Hải Phòng ấn hành năm 2014 tại trang 8: “Mảnh đất Dư Hàng Kênh nằm ở vị trí cao nhất huyện An Dương”, “ Từ thế kỷ thứ 10, vùng đất này mới đủ độ cứng để tiếp nhận những người đầu tiên đến cư trú” và “căn cứ vào gia phả của các dòng họ thì Trang Kênh Dương được thành lập trong khoảng thời gian 1215-1248”. Trong bài viết về bãi cọc Cao Quỳ (của Chế Trung Hiếu, hội KHLS quận Lê Chân) cho ta biết Thời Trần đánh giặc Nguyên Mông  vùng Thủy Nguyên vẫn chỉ là những hòn đảo cư dân sống dưới chân, thì Phủ Kinh Môn mở rộng đến Thủy nguyên vẫn chưa thành đất liền.     Làng Hàng Kênh giáp sông Lạch Tray, hình thành từ thế kỷ XII-XIV làng Vẻn, giáp với làng Hàng Kênh ở phía Bắc giáp sông Rế, sông Tam Bạc (chi lưu của sông Cấm). Cùng nền đất với làng Hàng Kênh, do vậy cùng thời với sự hình thành làng Hàng Kênh làng An Biên (vẻn) cũng chỉ mới được hình thành, nếu sớm hơn cũng trước đó một thời gian. Điều này trùng với tài liệu về địa chất thủy văn vùng châu thổ sông Hồng trong đó có Hải Phòng.

e-Một dẫn chứng, đân làng Vẻn có ít ruộng, dân Hàng Kênh đất rộng không khai phá hết, năm Quang Bảo nhà Mạc (1554) dân làng Vẻn phải sang vỡ hoang xâm canh tận mãi khu vực giáp Cầu Gù thôn Nam Hàng Kênh. Dân làng Hàng Kênh gọi khu đó là Đầm Vẻn (là khu đầm nông và rộng thuận tiện cho cấy vụ chiêm) để nói về cánh đồng xâm canh của người làng Vẻn. Sau này do khó khăn về đi lại, làng Vẻn cho làng Dư Hàng (sau khi chia tách) thuê lại ruộng. Đến năm Gia Long, hai bên thỏa thuận làng Dư Hàng lấy Đầm Vẻn, làng An Biên “lấy một số diện tích tương đương với Đầm Vẻn về phía bắc cánh đồng Hậu giáp làng An Biên từ đường xe lửa (ngày nay) đến chùa Vẻn và cả trại chợ Cột Đèn (trại Ký Lợi cũ) trước cửa chùa Kênh”. Tuy đã thuộc làng Dư Hàng   nhưng dân làng vẫn quen gọi cánh đồng đó là khu Đầm Vẻn. (Theo Thanh bì giản bạ làng Hàng Kênh trang 42).

g -Căn cứ các số liệu về đóng góp và sự đỗ đạt của xã An Biên trong các văn bia của huyện An Dương và tổng Đông Khê tính ra xã An Biên có sự học hành và đóng góp cho hàng Huyện hàng Tổng ít hơn hoặc tương đương các xã khác, đặc biệt không có người đỗ đạt trước năm 1764, do vậy suy ra sự lập nghiệp của dân làng An Biên cũng chỉ như  các xã cùng tổng không thể đến sớm hơn hàng

nghìn năm trước (ở những năm đầu công nguyên).

  Nhận xét qua các chứng cứ thu thập được :

Sự thật có thể hình dung là những năm đầu công nguyên, bà Lê Chân từ quê gốc ở làng An Biên Đông Triều dẫn dân làng xuống thuyền đi khai khẩn vùng biển, song vùng biển đó chính là vùng thị xã Kinh môn (ngày nay) khi ấy còn là ven biển (giống như Trang Phong Nội xã Bình dân Kim Thành), không phải vùng ven biển là An Dương Hải Phòng, vì cách đây 2000 năm, vùng Hải phòng vẫn chỉ là đầm bãi, nước biển mới hạ thấp sâu hơn mặt nước biển ngày nay..

Theo tiến trình lấn biển, hàng nghìn năm sau vùng đất Kinh Môn được mở rộng dần về phía đông nam thành các huyện Thủy Đường, Nghi Dương, An Dương, An lão (An Biên nằm trong huyện An Dương). Dân cư từ xa xưa, tiến theo các vùng đất mới hình thành để khẩn hoang sinh sống. Thời Mạc, 1527-1592 hai làng Hàng Kênh, Dư hàng thuộc huyện An Dương vẫn nằm trong  phủ Kinh Môn. Theo văn bia tại đình Dư Hàng, năm 1783, xã An Biên cùng xã Dư Hàng đều thuộc Tổng Đông Khê huyện An Dương. Đầu năm 1887 nha Hải phòng được thành lập gồm các huyện Thủy Đường,  Nghi Dương, An Dương, An lão và một phần của Kim Thành. Tháng 9 năm 1887 nha Hải Phòng đổi thành tỉnh Hải phòng, như vậy cái tên Kinh Môn đến thế kỷ thứ XVI vẫn là tên gọi cho vùng đất Hải Phòng.

Như vậy có thể tin là dân làng của bà Lê Chân  khai khẩn đất mới lấn biển chỉ vào khoảng thế kỷ thứ 10 và mang tên làng An Biên cổ của Đông Triều đặt cho làng mới (Làng An Biên ngày nay) dân làng rước bài vị bà Lê Chân theo để thờ. Khi Vua Trần Anh Tông (1293-1314) sắc phong cho bà Lê Chân là Thành Hoàng làng An Biên dân làng mới làm Đình Miếu thờ bà. (ở Vĩnh Báo cũng có một nhóm con cháu của bà khai khần đất đai, cũng đặt tên làng là An Biên ở Hưng Nhân).

Phải chăng bà Lê Chân cùng dân làng khai khẩn đất ven biển ( khu vực thị trấn Kinh Môn ngày nay) vào những năm 40 SCN mà người đời sau  nghĩ  là bà khai khẩn đất Kinh môn ở vùng ven biển là vùng Hàng Kênh và An Biên (sau này thuộc Hải Phòng ???).

    II-Về các di tích thờ phụng bà Lê Chân

Theo lệ cổ làng quê Việt nam sau thế kỷ XV đều có các công trình: Chùa thờ Phật, Đình Miếu thờ Thánh (Miếu thờ Tượng, đình mở lễ hội tế lễ Thánh và làm việc làng). Quần thể Đình An Biên, Chùa An Biên (Chùa Vẻn) An Biên cổ miếu (đền Nghè) có khả năng được xây dựng hoàn chỉnh trong thời nhà Nguyễn. Chùa Vẻn thuở xưa nằm ở khu Nhà Hát lớn hiện nay, năm 1884 do chính quyền pháp lấy đất quy hoạch và làng An Biên đã đổi được Đầm Vẻn lấy đất thôn Bắc của làng Dư Hàng nên dân làng Vẻn đã chuyển Chùa về vị trí đường Tô Hiệu hiện nay. Đình An Biên trước kia ở xứ đồng Mạ, (đền Nghè bây giờ), có khả năng xây dựng ở sau thế kỷ thứ XIII khi vua Trần Anh Tông (1293-1314) phong bà Lê Chân là Thành Hoàng làng An Biên. Ban đầu đền Nghề chỉ là An Biên Cổ Miếu thờ bà Lê Chân (Tương tự như Miếu Hai Xã của làng Hàng Kênh thờ cụ Vũ Chí Thắng), sau khi Đình chuyển về  khu Cát Dài được xây dựng theo quy mô của Đình làng thời phong kiến gọi là Đình An Biên. Ngôi miếu khi ấy được nâng cấp xây dựng lại thành Đền Nghè (năm1924 – 1927), tên này cũng chưa chuẩn vì Đền và Nghè là  cùng một nghĩa.

Nhận xét:

Tư liệu về thời gian xây Đình, Chùa, Miếu của làng Vẻn đã chỉ ra thời gian dân làng An Biên định cư tại Hải Phòng có thể chỉ từ thời Lý – Trần và phát triển rực rỡ vào thời nhà Nguyễn. Chứ không  có mặt từ đầu công nguyên, thời điểm này chỉ có trong dã sử và huyền thoại.

Kết luận.

  Viết về bà Lê Chân ngày ngay hầu như các nhà nghiên cứu chỉ dựa vào thần tích và truyền thuyết là những tư liệu dân gian, mà không  có sự soi sáng của khảo cổ học, địa chất học, lịch sử học và dân tộc học về thời điểm hình thành vùng đất non trẻ, vùng biển Hải Phòng. Ta thử lý giải xem tại sao các địa danh ở Hải phòng (Lê Chân- Hưng Nhân) là trùng tên với ở quê gốc của bà, điều này có thể hiểu là con cháu của bà sau khi khai khẩn vùng ven sông Tam Bạc và vùng Hưng Nhân Vĩnh Bảo  mới lấy tên ở quê cũ đặt cho vùng đất mới là An Biên ?
Ta biết ơn bà Lê Chân và dân làng, con cháu bà đã có công cùng bách gia trăm họ khai khẩn đất Hải Phòng. Bà Lê Chân được vua Trần Anh Tông phong sắc là Thành Hoàng làng An Biên, thì bà xứng đáng là Thánh nữ dân Hải Phòng thờ phụng, tôn lên làm Thành Hoàng của cả thành phố. Ý kiến của nguyên chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Trần Huy năng rất chuẩn xác là phải gắn lịch sử Hải Phòng với Nữ tướng Lê Chân. Ý kiến này rất sáng suốt, song cần nghiên cứu thêm, khả năng cao là Bà không trực tiếp dẫn con cháu đến đất Hải Phòng bây giờ để khai phá, bỡi lẽ Bà đã về theo tiên tổ từ  những năm 43 SCN, mà Hải Phòng khi ấy hầu hết còn là bãi biển. Điều này trùng với quan điểm của GS TS Nguyễn Quang Ngọc người Hải Phòng là Phó Chủ tịch hội KHLS Viết nam.

Về nội dung cuốn LSHP viết về bà Lê Chân chưa nhất quán còn nhiều mâu thuẫn tại các dữ liệu, hành văn rườm rà trùng lặp. Nên chăng viết liền mạch về sự kiện và công tích của bà căn cứ  nhận định của người viết sử theo phép suy luận biện chững và logic, các phần mâu thuẫn để riêng ở mục tồn nghi cho người đời sau suy xét.(Trang 305 đã viết tóm tắt đầy đủ sự nghiệp của bà, trang 306 nói lại việc bà về lại trang An Biên, trang 307 mô tả lại việc bà giao chiến với Mã Viện, trang 308 mô tả trận cuối đánh Mã Viện, trang 309 nói lại công trạng của bà Lê Chân và các nơi thờ phụng các nội dung trùng lắp này chỉ cần viết chi tiết một lần theo nội dung trang 305 cho đầy đủ chỉn chu là được).

III     Tồn nghi cần nghiên cứu làm rõ cho nhất quán. (các sai khác và mâu thuẫn trong các tại liệu hiện nay)

  • Năm sinh năm mất của bà Lê Chân :

– Năm sinh: Theo BKTT mở và Cổng TTĐT Hà Nam thì bà sinh 8-2-CanhThìn (năm 20). Theo Cổng TTĐT Hải Phòng thì không rõ năm sinh.

– Năm Mất: Theo BKTT mở, bà mất năm 43 theo cổng TTĐT Hà Nam thì bà mất ngày13-7 Quý mão ( khi 23 tuổi-năm 43 ). Theo cuốn “Lịch sử Hải Phòng” thì cộng ra năm Bà  mất là khoảng 29 tuổi năm 49 (!).

2- Bà Lê Chân dẫn dân làng khai phá vùng biển?: Theo BKTT mở năm 40 khi cha mẹ bị sát hại bà đến An Dương Hải Phòng khai hoang. Theo Cổng TTĐT Hải Phòng, năm 40 cha mẹ bị sát hại bà đi tìm thày học võ khi tinh thông mới đến Trang An Biên (sau năm 40). Theo cổng TTĐT Hà Nam năm 18 tuổi cha mẹ bị sát hại bà đi học võ sau mới đến An Dương (khoảng năm 40).Theo cuốn LSHP thì năm 40 cha mẹ bị sát hại bà đã tinh thông võ nghệ cùng dân làng đến An Biên ( sau năm 40).

Việc bà đến Hải phòng thời gian nào ?  bà đã có võ trước đó hay sau khi cha mẹ bị sát hại mới học võ? Các tài liệu còn chưa nhất quán.

3- Nhà Hán xâm lược năm nào ?:Theo BKTT mở và cổng TTĐT HP là tháng 3-40; Theo thần tích xã Nại Từ thì tháng 2-39 Tô Định đã giết hại Thi Sách (nghĩa là xâm lược trước 39); Theo cổng TTĐT Hà Nam năm 38 Tô Định ép cưới bà Lê Chân (nghĩa là xâm lược trước 39). Thực chất nhà Hán xâm lược nước ta thời Hán Quang Vũ ( năm 25-41). Theo Đại Việt sử ký toàn thư phần I quyển III : năm 29 Hán Quang Vũ giao Tích quang làm thái thú Giao chỉ đến năm 34 Tô Định được cử sang thay Tích Quang khi này Tô Định mới gây tội ác làm cho dân ta căm phẫn mà khởi nghĩa chống lại.

4-Bà Trưng khởi nghĩa năm nào: Theo BKTT mở là cuối năm 40; theo thần tích xã Nại Từ là tháng 2-40.Theo cổng TTĐT Hà Nam là tháng 3-40.

5-  Mã Viện sang báo thù năm nào: Theo BKTT mở là năm 42, Cổng TTĐT Hà Nam là 4-42, theo cuốn LSHP thì cộng số năm là khoảng năm 48.

Xin kính đề nghị lãnh đạo thành phố, các ban ngành chuyên môn về văn hóa và lịch sử xem xét nghiên cứu và có nhìn nhận khách quan về Sự kiện liên quan đến bà Lê Chân và thành Phố Hải phòng như nội dung tôi đã đề cập trong bài viết.

Trong bài viết này tôi chỉ viện dẫn các tư liệu và suy luận theo thực tế để đi đến nhận định là Bà Lê Chân không cùng con cháu đến khai phá đất đại lập trang An Biên tại Hải Phòng, mà việc này nhiều đời sau con cháu bà mới thực hiện.

 

Hội viên hội khoa học lịch sử Quận Lê Chân

Phó trưởng ban thường trực BQLDTLS đình Dư Hàng.

Dương Anh Dũng đt: 0947831589

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *