Lễ hội xưa của Đình Dư Hàng – TG Dương Anh Dũng

Ngôi Đình cổ mái cong là hồn thiêng của làng quê Việt Nam, nơi Thờ phụng Thành Hoàng và là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Một trong những sinh hoạt dân gian hội tụ dưới mái đình là các lễ hội truyền thống. Trong một năm, có nhiều tuần tiết tế lễ, song lễ hội Thánh hóa là to hơn cả. Mỗi năm cứ dịp xung quanh ngày 18 âm lịch, dân làng lại nô nức mở lễ hội, song đặc sắc và độc đáo hơn cả là lễ hội Ky Phước. Đây là lễ hội 5 năm diễn ra một lần  khi đến phiên rước sắc luân lưu hàng tổng từ xã bạn về thờ (một trong các xã đang được thờ sắc luân lưu năm trước). Lễ hội năm này có quy mô hàng Tổng. Tuy là lễ hội làng Dư Hàng, song 4 xã khác cùng thờ Đức Ngô Vương đều diễn ra lễ hội đồng thời phải góp công của và cử đoàn tế khênh kiệu Long Đình đến đình Dư Hàng để hợp rước.

Dưới đây, xin mô tả chi tiết lễ Ky phước. ( Diễn ra ở năm rước sắc luân lưu hàng tổng đang được thờ ở Đình Hàng Kênh về Đình làng Dư Hàng.)

  1. Công tác chuẩn bị mở Lễ Ky phước, cầu phúc, rước sắc phong Thành hoàng:

Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày, diễn ra từ ngày 14 đến 16/2 âm lịch hàng năm. Đây là dịp để tưởng nhớ, tri ân bậc thành hoàng, đồng thời cầu cho “quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu”. Gắn liền với không gian lễ hội làng Dư Hàng là các di tích đình Hàng Kênh, miếu Hai Xã… Đình làng Dư Hàng, năm này là không gian chính diễn ra lễ hội, các hoạt động chủ yếu của hội làng Hàng diễn ra tại đây. Vào ngày lễ Ky phước, 4 xã còn lại của tổng Đông Khê cũng tổ chức lễ hội riêng tại Đình làng mình. 

Trước khi tiến hành Lễ Ky phước, nhân dân trong làng cử ra một Ban hành lễ để điều hành lễ hội theo truyền thống trọng thể, những người trong Ban hành lễ là các cụ cao niên trong làng và các vị chức sắc hàng tổng (Chánh, Phó Chánh tổng) và hàng xã (Lý trưởng, Tiên chỉ …). Những người tham gia trong thời gian diễn ra lễ hội phải kiêng kỵ nhiều điều: Gia đình không có tang ma, con cái song toàn, mạnh khỏe, kiêng kỵ chuyện chăn gối…

Việc tế lễ Đức Thánh Ngô Vương được dân làng Dư Hàng chuẩn bị rất chu đáo. Để lễ hội diễn ra trang trọng, các bậc chức sắc từ chánh tổng, lý trưởng cho đến các cụ tiên chỉ và mọi thành viên của làng ra đình bàn bạc và phân công cụ thể.

Vào ngày tất niên (30 tết) các chức sắc (lý trưởng, lý phó, lềnh trưởng, khán thủ, các cụ cao niên) đến đình họp bàn để mở lễ hội và bầu ra ban khánh tiết và ban tế thần:

Ban khánh tiết (ban tổ chức) gồm các vị đương chức được phân công từng người phụ trách các phần việc và bầu ra ban tế thần.

– Ban tế thần: Chọn 10 người làm cai đám và 36 trai tráng khỏe mạnh từ 18 tuổi đến 24 tuổi cùng 10 người con gái trẻ – tất cả những người này phải chưa có chồng hoặc chưa có vợ.

Hương ước làng quy định: Ban tế thần được bầu 10 người, tất cả 10 ông cai đám là những người đứng đắn, đức độ, tuổi từ 24 trở lên, gia đình hòa thuận, không vi phạm vào bất cứ quy định của nhà nước cũng như hương ước của làng đề ra. Tiêu chuẩn này được bổ cho tộc họ và xét từ 4 đời trở xuống, sau khi đã phân bổ đều cho các dòng họ.

Trong số 10 ông cai đám có một ông phụ trách chung gọi là ông đám cả, ông nào có người cha cao tuổi nhất trong số 10 ông thì được làm đám cả.

Trong khi làm đăng cai, nếu ông nào có tang trở thì được hoãn đăng cai, cả năm 10 ông đăng cai đều phải ăn chay, chỉ được đi dự đám hỉ như cưới xin, khao vọng, không được đi dự đám hiếu như ma chay, sang cát v.v… và không được làm công việc uế tạp như gánh phân tro.

Các ông đăng cai có quyền phạt vạ những ai vi phạm luật lệ của làng xã trong ngày hội Ky phước kể từ tiên chỉ cho đến thứ dân.

Các ông đăng cai phải bỏ tiền của riêng để làm các lễ vật như saú:

Ông đám cả: Lễ vật phải biện gồm một mâm ngũ quả, một mâm cỗ chay và một mâm cỗ mặn cúng trong ngày lễ thường tân (lễ ăn cơm mới vào tháng 9 âm lịch).

Ông thứ nhì: Làm lễ giỗ Ngô Quyền vào ngày 18 tháng Giêng âm lịch. Lễ vật gồm 1 con lợn nặng khoảng 60 kg, 4 mâm xôi và 10 chai rượu.

Các ông thứ ba, thứ tư và thứ năm: Làm lễ ba ngày làng mở hội Ky phước, mỗi ông đảm nhiệm một ngày, mỗi ông phải làm hai mâm cỗ thết đô vật, trong đó có 1 con gà luộc rút hết xương làm giả hình phượng vũ, một con cá trê hấp làm giả hình “Lão ngư vọng nguyệt”.

Các ông thứ sáu, thứ bảy, thứ tám và thứ chín “Làm lễ thượng điền, hạ điền” (lễ lên, xuống đồng).

Ông thứ mười: Làm lễ tống cựu nghinh tân – lễ thay mười ông đăng cai mới vào ngày 30 Tết âm lịch, cúng xong cho trai làng ăn để nhớ ơn những người xưa làm đình không lấy công.

Tổng Đông Khê có 5 làng: Đông Khê, Phụng Pháp, Nam Pháp, Hàng Kênh, Dư Hàng. Cả 5 làng đều thờ Ngô Quyền nhưng các đời vua  chỉ ban một đạo sắc chung giữ trong một hòm sắc, vì vậy cứ 5 năm một lần đến lượt làng nào được rước sắc về đình làng mình để đóng đám, gọi là mở Kỳ phước. Năm 1945 là năm cuối cùng đình Dư hàng được rước sắc sau đó do chiến tranh tục lệ lễ Kỳ Phước bị đứt đoạn, do vậy hòm sắc gồm 6 đạo đến nay vẫn được lưu giũ tại Đình Dư Hàng.,

Mọi công việc chuẩn bị cho hội đình được cả làng chuẩn bị với tinh thần phấn khởi, khẩn trương và trách nhiệm cao. Từ đình, chùa cho đến đường làng, ngõ xóm đều được quét dọn sạch sẽ. Việc chuẩn bị đồ tế tự, vật phẩm dâng cúng đã được ban đăng cai nhận mộng oản, ruộng kê tiến hành trong suốt cả năm. Việc phơi phóng quần áo lễ thần nghênh thánh, cờ, quạt, lọng, tàn, kiệu được giao về các giáp. Việc bao sái, lau chùi ngai, bài vị, hương án, cửa võng, các đồ thờ tự, khí tự và bày biện đồ nghi lễ được các cụ trong làng đảm trách.

Việc đầu tiên là chọn một cụ ông cao tuổi, khỏe mạnh, có nhiều kinh nghiệm, có phẩm hàm, uy tín, đức độ, gia đình có nếp, có tẻ, kinh tế khá giả và phải xin tiền đài âm dương thì mới được đứng chủ tế, mạnh bái. Sau đó, các thành viên được phân công:

– Bồi tế gồm từ 6 – 10 người giúp chù tế, đứng sau chủ tế và đứng ở chiếu tư.

  • Đông xướng, Tây xướng gồm hai người phụ trách xướng phần nghi thức trong lúc tế lễ và đứng đối nhau bên cạnh hương án.

– Chấp sự gồm 12 người đứng đôi bên chủ tế, có trách nhiệm đẫn chủ tế khi ra vào và trợ xướng, đồng thời là những người phụ trách việc dâng hương, dâng rượu, chuyển chúc văn, đọc chúc văn.

Bầu xong ban tế, ngày hôm đó chủ tế phải biện cỗ ra đình trình Thánh, sau cáo gia tiên trước khi vào hội. Nếu cha mẹ còn thượng tại thì chủ tế phải mặc áo thụng đỏ, sắm riêng một cỗ để mừng cha mẹ.

Chủ tế là biểu trưng cho sự tốt đẹp, trong sạch, là đại diện của dân làng giao cảm với thần thánh, vì vậy được dân làng rất trọng vọng, kính nể. Toàn bộ chủ tế và các thành viên trong ban tế trước và trong thời gian lễ hội phải sống chay tịnh, trong sạch.

Ban tế lễ phải luyện tập tại đình nhiều lần cùng phường nhạc để tạo nên sự phối hợp thuần thục, nhịp nhàng và trang nghiêm trong buổi lễ, bởi vì “phi nhạc bất thành lễ”.

Đội rước kiệu cũng tập tại sân đình, cai kiệu điều khiển các chân kiệu từ nâng kiệu, bước đi, đổi vai cho đến hạ kiệu. Đội cờ do cai cờ phụ trách, các sân chơi đấu cờ, chọi gà đều được kẻ vẽ lại cho rõ.

Đối với 36 trai tráng, khi chuẩn bị vào đám, trước đó từ 1 đến 2 tháng tập trung tại đình tập luyện và ngủ luôn ở đình.

Việc viết và đọc chúc văn được giao cho lý trưởng hoặc phó lý, đôi khi chánh tổng trực tiếp tham gia. Khi viết xong chúc văn, các chức sắc của làng được mời tới duyệt. Bản chúc văn hoàn thành, người viết chúc văn cùng ban khánh tiết biện một lễ nhỏ vào đình lễ thần chứng giám.

Cùng với ban tế, những người được phân công như: Lềnh trưởng – chức dịch phụ trách phần hội và quản lý phân công các dòng họ làm các công việc:

– Quét dọn đường làng, ngõ xóm.

– Lau chùi, sắp xếp lại các đồ đồng, đồ sứ, đồ vải, từ màn thờ đến y môn.

– Phân bổ mỗi dòng họ chuẩn bị một mâm lễ gồm xôi trắng, gà, lợn, rượu và hoa quả …

Ngoài phần chuẩn bị cho tế lễ, lềnh trưởng và các chức dịch cùng các cụ cao niên phân công từng người phụ trách phần hội hè như:

– Mời các đô vật ở các làng đến thi đấu.

– Tập luyện các đội hát chèo, ca trù, hát cửa đình – hát thờ.

– Tập hợp các hội: cờ tướng, cờ người, tổ tôm điếm của các làng và của các xã khác về tham dự.

– Phân công 10 cô gái được tuyển chọn về nấu cỗ và 35 cô phụ việc cho ban tế thần.

Tất cả các công việc đã chuẩn bị, được làng duyệt lại lần cuối trước khi mở hội Kỳ phước 10 ngày.

  1. Diễn biến lễ hội:

Lễ hội đình Dư Hàng, mở lễ Kỳ Phước đón sắc luân lưu do vậy có quy mô hàng tổng. Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày (từ 14 đến 16 tháng Hai).

Khoảng 7 giờ tối ngày hôm trước (13/2 âm lịch), dân làng phải tập trung ở đình để tế nhập tịch ở bên trong đình (tế nội tán). Hồi đó không có tế nữ quan – các quan tế đều là nam giổi – tế nam quan. Ban tế có khi lên tới 26 người, trong đó có một mạnh bái và 5 – 6 bồi tế, còn lại là chấp sự. Khi tế, đến đoạn tiến tước (người chấp sự tiến lên, tay cầm nậm rượu hoặc chén rượu) và quân hiến (người chấp sự chắp tay tiến lên trước hương án rót rượu) thì có đôi nữ đi sau (mỗi bên một người), vừa đi vừa múa tay không theo điệu nhạc lưu thủy.

Lễ vào đám bắt đầu từ ngày 14 tháng 2, trừ mấy vị chức sắc và tế đám (người được phân công chịu trách nhiệm ngày hội) phải ngủ lại đình tối hôm trước (13/2 âm lịch), còn tất cả dân làng phải tập trung sớm ở đình từ 5 giờ sáng để đi rước sắc. Trình tự đám rước như sau:

Sáng sớm 14 tháng 2, trống gióng giả ba hồi chín tiếng gọi hội vang dội cả làng. Đúng giờ, các vị chức sắc, các vị bô lão và dân làng đã tề tựu đông đủ trong nghi lễ trang nghiêm tại sân đình làng mình và tiến hành rước kiệu đến đình đang giữ sắc phong. Đám rước rực rỡ cờ quạt, tàn, lọng, kiệu bát cống, kiệu long đình, chấp kích, bát biểu… lộng lẫy vàng son, tưng bừng và náo nhiệt.

Đi đầu là cờ ngũ hành hình vuông, mỗi cờ mang một màu và tượng trưng cho một hành: kim (trắng), mộc (xanh), thuỷ (đen), hỏa (đỏ), thổ (vàng); Tiếp đến là xe rưổc voi, ngựa; đi sau là đội trống chiêng, trống cái do hai người khiêng, chiêng cũng vậy, hai người đánh chiêng trống mặc áo lương, đầu đội khăn xếp màu đen; Đi sau chiêng trống đại là đội trống con, kèn, thanh la, chũm chọe; tiếp đến là đội chấp kích, bát biểu; Đi trước đội bát biểu và sau đội kèn trống là hai người cầm biển rước sơn son thếp vàng, trên hai mặt biển rước có chạm chìm chữ Hán “Tĩnh Túc, Hồi Tỵ” (thấy thì phải tránh); Tiếp theo là một người cầm cờ đuôi nheo hình tam giác, mặc võ phục, chân đi hia, tay múa cờ, vừa đi tiến lên, lùi xuống nhịp nhàng theo hình “chữ ất”, theo điệu nhạc lưu thủy, mặt hướng về phía kiệu thánh; tiếp theo là đội cờ tiết mao gồm 6 người, minh mặc võ phục, đầu đội mũ giáp trụ, vai vác cờ (cán cờ tiết mao là một thanh gỗ dài chừng 2,50m, đầu cán chạm nổi hình rồng, miệng rồng ngậm, một đoạn dây dài làm bằng các đốt gỗ được tiện tròn công phu, giữa các đốt gỗ dùi thủng lỗ để luồn dây cước, cứ cách khoảng 25 – 30 cm lại có một tua ma tết bằng mao ngựa).

Sau đội cờ tiết mao là 2 người cầm trống khẩu – thủ hiệu (trống có tay cầm, mục đích gõ ra hiệu cho đoàn rước dừng nghỉ hoặc đi tiếp); Tiếp đến là kiệu hương, thường là kiệu kiểu long đình, trên long đình đặt mâm hoa và bát hương, do 4 trai đinh khỏe mạnh khiêng, mặc trang phục áo nậu đỏ, đầu chít khăn đỏ, đi song song với long đình là 2 người cầm lọng che; đi sau kiệu hương là 6 quan hộ vệ, mình mặc võ phục, đầu đội mũ giáp trụ, vai vác thanh long đao; Tiếp theo là các đô vật, đội vật gồm 12 người, đi đầu đội vật là 2 người bê 2 ông phỗng và 2 người bê ghế đặt phỗng, còn lại 8 đô vật chia làm 4 đôi, khi dừng kiệu nghỉ chân thì 2 đôi vật biểu diễn trước kiệu, nhưng chỉ là vật vờn biểu diễn, không vật đập đất; đi sau đội vật là đôi càm cạp đội lốt hạc; Tiếp sau là phường bát âm gồm: thanh la, trống, chiêng nhỏ, đàn, sáo, nhị… thường tấu điệu nhạc lưu thủy; sau phường bát âm là đội múa sênh tiền; rồi đến 2 ông cầm trống khẩu; Tiếp theo là kiệu bát cống – kiệu thánh gồm 32 người thay nhau khiêng, 16 người khiêng và 16 người đi kèm chờ khi đổi kiệu. Trên kiệu có tàn màu vàng che long ngai, trên long ngai đặt hộp sắc phong, 2 đèn nến và bát hương. Kiệu thánh là trung tâm của đoàn rước. Những người khiêng kiệu là những trai đinh khỏe mạnh trong làng và phải là trai tân, tất cả đều mặc áo nậu đỏ. Những người được lựa chọn tham gia đoàn rước kiệu là vinh dự của bản thân, gia đình và dòng họ; tiếp theo kiệu thánh là các đoàn tế nam quan của địa phương và 4 xã cùng tổng Đông Khê tham gia, các chức sắc, bô lão đi theo hộ giá; sau cùng đoàn rước là nhân dân tham gia đông đảo.

Đoàn rước theo lộ trình: Xuất phát từ đình Dư Hàng,rẽ trái vào đường miếu Hai Xã rẽ phải qua chùa Kênh đi đường Nguyễn Công Trứ đến đình  Hàng Kênh. Từ ngoài cổng làng các vị chức sắc, bô lão và dân làng Hàng Kênh, nơi đang giữ sắc phong đứng nghênh tiếp đoàn rước đình Dư Hàng trong trang phục lễ hội đẹp đẽ, chỉnh tể. Đoàn rước đến sân đình, kiệu được đặt giữa sân. Bên trong đình mọi nghi thức chuẩn bị cho buổi tế lễ được chuẩn bị sẵn sàng. Chủ tế mặc áo thụng đỏ có bố tử, đội mũ võ quan, hai bồi tế mặc áo vàng, đội mũ quan văn. Chủ tế, bồi tế đi hia, chấp sự mặc áo thụng đen, đội mũ tế và không đi hia. Đông xướng, Tây xướng đứng sẵn ở hai bên hương án. Trên hương án có hai đài rượu lễ được phủ vải đỏ, bày sẵn chén và bình rượu.

Ở giữa đình trải một chiếu cạp điều cho chủ tế. Hai bên lùi xuống một bậc trải hai chiếu cạp xanh cho bồi tế, hai bên sát vách đình treo giá chiêng, giá trống, phía ngoài đặt quán tẩy có chậu đựng nước thơm cho chủ tế, bồi tế rửa tay trước khi vào làm lễ.

Các vị chức sắc, bô lão của hai làng an tọa, dân làng đứng ở sân đình trang nghiêm, thành kính. Trống cái vang lên ba hồi và lễ đón sắc phong được bắt đầu.

Sau hiệu lệnh “khởi chinh cổ” (nổi chiêng, trống), tất cả đội kiệu, đội cờ vào vị trí sẵn sàng. Ông chủ tế vào lễ thánh và bước vào hậu cung hai tay cung kính nâng hộp sắc phong Thành hoàng Ngô Vương, bước đi dưới lọng vàng che, hai bên có hai hậu vệ đầu đội nón dấu, áo nậu xanh, quần chẹt gấu, cầm gươm theo hầu. Ông chủ tế cùng hai hậu vệ bước ra sân đình đì tới kiệu bát cống. Các tay kiệu nâng kiệu lên ngang tầm ngực. Ông chủ tế đặt hộp sắc phong vào trong kiệu và đi lùi ra.

Tiếng pháo hiệu nổ vang, cuộc rước bắt đầu, khi kiệu long đình vừa đi đến nghi môn thì dừng lại để sắp xếp lại thứ tự. Tham gia đoàn rước còn có đội tế và 16 tay khiêng kiệu bát cống của đình Hàng Kênh đi kèm, chờ khi đổi kiệu. Trình tự rước sắc về ngược lạị như khi đi đón sắc phong với lộ trình từ đình Hàng Kênh rẽ trái theo đường đường Nguyễn Công Trứ qua chùa Kênh, vào đường miếu Hai Xã, về đình Dư Hàng.

Vào ngày rước Đức Thánh Ngô Vương, nhân dân trong vùng và khách thập phương nô nức kéo về trẩy hội, nhân dân hòa vào sau đoàn rước, hưởng ứng hai bên đường để chiêm ngưỡng anh linh Thánh, cầu Đức Thánh ban phát sức khỏe, phúc lộc đến mọi nhà, “nhân khang vật thịnh, mưa thuận gió hòa”, mùa màng bội thu.

Kiệu thánh rước về tế an vị tại đình làng Dư Hàng. Trong đình, Ban hành tế tiếp tục thực hiện tế lễ, đọc chúc và hóa chúc.

Lễ rước kết thúc, các trò bách hý (trò chơi dân gian) diễn ra sôi nổi. Cùng thời điểm này, các điểm di tích thờ ngài đều diễn ra các trò chơi dân gian, nhưng nổi bật nhất và đông vui nhất vẫn là các trò chơi diễn ra tại đình Dư Hàng. Tiêu biểu như các trò: Thi nấu cỗ, đấu vật, đánh cờ người, đu tiên, tổ tôm điếm, đi cầu thùm, bắt vịt…Tương truyền, Ngô Vương thường tổ chức đấu vật nhằm rèn luyện sức khỏe và giải trí cho quân sĩ và được dân gian hóa bằng các trò chơi nhằm duy trì qua nhiều thế hệ, truyền thống này đã  ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân và trở thành một trò chơi giải trí trong mỗi dịp lễ hội, đồng thời cũng thể hiện tinh thần thượng võ dân tộc.

Dưới đây là các trò chơi:

  1. Thi nâu cô:

Ban giám khảo của cuộc thi được bầu chọn gồm các vị chức sắc của 5 làng, sau khi kết thúc thời gian quy định, các vị giám khảo tiến đến các mâm cỗ chấm điểm. Mâm cỗ nào đạt giải nhất thì được cung tiến vào cung cẩm dâng lên ban thờ Đức Ngô Vương. Người đạt giải nhất được thưởng tiền, vóc lụa, còn các mâm khác cũng được thưởng tiên hoặc vóc lụa nhưng ít hơn mâm đạt giải nhất.

* Đấu vật:

Các đô vật của làng mở hội Ky phước được vật trước, rồi mới đến các đô vật các làng. Đô vật đóng khố xanh, đỏ. Thắt lưng buộc một giải băng bện tròn kiểu dây thừng to để giắt khố cho đẹp. Trước khi vật, hai đô vật vái thần 4 vái, rồi vờn nhau tìm miếng vật. Lệ vật ở đây đô vật nào bị nhấc bổng lên hoặc vật nằm ngửa (đập đất) là thua. Giải thưởng gồm vải lụa, tiền. Hội vật diễn ra trong 5 ngày liền. Đô vật giữ giải trong ngày, ngồi có lọng che. Ngày cuối cùng, chung kết các đô vật nhất của 5 ngày vật với nhau.

* Cờ người:

Một bên nam, một bên nữ đều là trai tân và gái đồng trinh. “Quân cờ người” được chọn là con nhà khá giả ở trong làng để có điều kiện may quần áo đẹp. Người làm trọng tài có bàn cờ con bên trong theo dõi cuộc đấu.

Lễ hội đình Dư Hàng không chỉ là sự kiện để dân làng tri ân, tôn vinh, tưởng nhớ tổi Đức Ngô Vương, anh hùng dân tộc, ông tổ Trung Hưng, người xây nền móng vững bền cho độc lập của dân tộc mà còn là một dịp trọng đại để dân làng kính cáo lên Đức Thánh những công việc đã thực hiện trong năm; cầu mong Ngô Vương bảo trợ, ban phúc, lộc, thọ cho dân làng. Lễ Hội đình Dư Hàng đồng thời cũng là dịp để dân làng giao lưu, gắn kết cộng đồng, góp phần xâỵ dựng phát triển cộng đồng làng xã.

Phó trường ban trường trực ban Quản lý DTLS Đình Dư Hàng Dương Anh Dũng

Tham khảo theo tư liệu cổ  

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *