Lịch sử Họ Dương Việt nam

                

 

Lời tác giả

 

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

                                            (Hồ Chủ tịch)

                                    ***

“Hỡi người Dương tộc vinh quang

Đừng quên lịch sử vẻ vang họ mình”

 

Họ Dương là một trong số những dòng họ lớn, thuần Việt khai sinh cùng dân tộc, có vị trí quan trọng trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam. Là dòng họ võ công văn trị có mặt đóng góp cho non sông đất nước ngay từ thuở sơ khai. Ngày ấy đã có các quan Lạc hầu, Lạc tướng tài năng giúp các Vua Hùng dựng nước, các anh hùng đảm lược thuở nước ta mới giành quyền tự chủ. Đó là Lạc hầu, Lạc tướng Dương Minh Tiết, Dương Minh Thắng, anh hùng dân tộc Dương Thanh, Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha. Đó là những hoàng hậu, vương phi được ghi nhận đầu tiên và cuối cùng trong sử sách nước nhà, người đầu tiên là Dương Thị Diễm, tiếp theo là Dương Thị Như Ngọc, Dương Vân Nga, Dương Thị Nguyệt… và cuối cùng là Dương Thị Thục.

Do vậy, có một bộ sử ghi chép lại như một bức tranh toàn cảnh về dòng họ là một việc rất cần thiết, sẽ đóng góp quan trọng cho kho tàng lịch sử nước nhà, góp phần thiết thực cho việc khơi ra, xử lý và giải ảo một số tồn nghi của họ Dương nói riêng và cả lịch sử dân tộc nói chung, những vấn đề vẫn còn gây băn khoăn cho người Việt bấy lâu nay. Cuốn “Lịch sử họ Dương Việt Nam” này sẽ góp phần nhỏ bé ban đầu khơi thông lịch sử của họ Dương trong dòng chảy lịch sử của dân tộc.

Là người “ngoại đạo”, không có chuyên môn, viết về sử họ chỉ vì lòng yêu họ, không tránh khỏi sự thiếu chuẩn mực về bố cục cũng như nội dung yêu cầu cần có của cuốn sử, do vậy sẽ còn nhiều thiếu sót. Ngoài ra, nguồn tư liệu khai thác nhiều chiều thông qua lăng kính chủ quan của tác giả sẽ có chỗ chưa chuẩn chỉnh.

Ngày 25-9-2017, tôi được Hội đồng họ Dương Việt Nam phân công vào Ban biên soạn bộ sách “Lịch sử họ Dương Việt Nam” (nay ban này đã giải thể).

Được ông Dương Công Minh – Chủ tịch Hội đồng họ Dương Việt Nam động viên khuyến khích, từ những tư liệu đã khai thác, tích lũy được, tôi biên soạn và phát hành cuốn sách này, nhằm góp một tiếng nói để người trong họ thêm hiểu biết và có một góc nhìn khác về lịch sử của họ Dương Việt Nam.

Rất mong nhận được cuốn sử, các vị lãnh đạo, các vị có trách nhiệm, các vị có tâm trong dòng họ, các nhà sử học, các tác gia, những người am tường lịch sử dòng họ, chiếu cố đọc, luận đàm cùng tác giả và có lời phê bình, phản biện bổ sung góp ý.

Cuốn “Lịch sử họ Dương Việt Nam” do tôi biên soạn có cập nhật tư liệu đến 6-2020, cùng các tác phẩm khác của người yêu họ, của người được mời viết về lịch sử muôn mặt của họ Dương sẽ là tài sản vô giá của họ ta, và là nén nhang thơm thắp lên tri ân tiên tổ. Đồng thời là món quà quý cho mỗi người họ Dương Việt Nam.

 

 

 

Chương I

VÀI NÉT VỀ CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

 

I-  Bàn về nguồn gốc người Việt Nam

Cộng đồng người nguyên thủy cổ đại tiến hóa thành người khôn ngoan ở đâu đầu tiên trên đất Việt ngày nay, thì chính đó là điểm phát sinh và cũng là cái nôi của bách gia trăm họ người Việt.

Theo nhiều nghiên cứu mới nhất của các nhà khảo cổ, các nhà khoa học lịch sử, nhất là công trình nghiên cứu về hệ gen loài người.

Ngày 29-9-1998 xuất hiện một sự kiện gây chấn động giới khoa học. Công nghệ khảo sát ADN người đang sống cho ra khám phá chưa từng có. Báo cáo Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc (Genetic Relationship of Populations in China) đưa ra kết luận: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi từ 160.000 đến 180.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm cách nay, con người từ châu Phi theo ven biến Ấn Độ tới Việt Nam. Sau thời gian chung sống ở đây, người từ Việt Nam di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ và 40.000 năm trước lên khai phá Trung Hoa rồi từ đó vượt eo Beringa chinh phục châu Mỹ…”

Chúng ta có thể hình dung như sau: điểm đầu tiên người cổ đại đến nước ta là lưu vực sông Hồng, sông Mã, tập trung nhất là ở Thanh – Nghệ – Tĩnh quần tụ lại và tiến hóa thành người khôn ngoan là người Việt Nam chúng ta, khi ấy được gọi là người Lạc Việt. Sau khi tiến hóa, trải qua nhiều thiên niên kỷ, người Lạc Việt vác rìu đá vượt qua bãi đá Sa Pa, Hà Giang lên phương Bắc, quần tụ tại vùng nam sông Dương Tử, lập nên nền văn minh Lạc Việt, trung tâm là Lương Chử, Hàng Châu (Chữ Nho gọi dân ta là dân tộc Việt -越- gồm bộ tẩu-走- là đi và bộ việt  -戊- là cái rìu, nghĩa là người vác rìu đi). Tạo thành các nước vùng Bách Việt mang nhiều dòng họ, trong đó có họ Dương. Sau này một bộ phận giao tranh và hòa huyết với người Mông Cổ bắc sông Dương Tử thành người Hoa Hạ (người Hán).

Bộ phận còn lại tại bản địa tiếp tục tăng dân số và hoàn thiện tổ chức xã hội dẫn đến thành lập quốc gia là nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương đóng đô ở Ngàn Hống – Can Lộc- Hà Tĩnh (theo truyền thuyết tại Hùng Vương Ngọc Phả) sau rời đô ra Việt Trì lập nước Văn Lang của 18 đời Vua Hùng khoảng thế kỷ VII TCN. Vùng Thanh – Nghệ là điểm đầu tiên người cổ đại đến và là nơi phát tích người Việt ở nước ta đúng như kết luận của GSTS Nguyễn Thanh Liêm công bố tháng 5-2019 đăng trên tạp chí Di truyền quốc tế vào đầu năm 2020, khi nghiên cứu về hệ gen người Việt là: “Người cổ đại từ châu Phi men theo biển cạn đến vùng Đông Nam Á tại miền ven biển và tiến hóa di cư dần từ Nam lên Bắc”.

Theo cuốn “Lịch sử Việt Nam” 15 tập của Viện Sử học xuất bản năm 2017: “Việc phát hiện một số di tích mà tiêu biểu là Núi Đọ vào cuối năm 1960, đã xuất lộ những công cụ đá thô sơ đầu tiên của con người. Các nhà khảo cổ học Việt Nam cùng với GS P.I.Boriskovski đã nghiên cứu và chứng minh rằng ở Núi Đọ từng tồn tại một nền văn hóa sơ kỳ thời đại đá cũ…cách ngày nay khoảng 30 vạn năm” (trang 25 tập I); và “như vậy, người nguyên thủy xuất hiện khá sớm trên đất nước ta. Họ đã có mặt ở Núi Đọ và Xuân Lộc cách ngày nay khoảng 30 đến 40 vạn năm… Họ thuộc giống người vượn đứng thẳng… Đó là giống người khôn ngoan Homo Sapiens.” (trang  64 tập I- Về niên đại hai tài liệu có số liệu khác nhau, song nội dung thì thống nhất -DAD).

Theo ấn phẩm “Nhìn lại lịch sử” của KS Phan Duy Kha, TS Lã Duy Lan, TS Đinh Công Vĩ (Nhà Xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003): “Người Việt là chủ nhân của nền văn minh Đông Sơn rất độc đáo sao lại có thể tìm nguồn gốc ở một nơi nào khác? Xin được nói thêm: các di vật khảo cổ tiêu biểu từ thời đồ đá cũ, qua thời đồ đá mới đến thời đại đồng thau, đa phần nằm trên địa bàn Thanh, Nghệ Tĩnh như: Núi Đọ, Quỳnh Văn, Đa Bút, Thạch Lạc, Lang Vạc, Đông Sơn, Thiệu Dương…; điều đó càng củng cố quan điểm của chúng ta về nguồn gốc người Việt ở ngay trên đất nước ta mà điểm xuất phát là địa bàn khu Bốn cũ”.

Cũng theo cuốn “Lịch sử Việt Nam” của Viện Sử học thì “Sự ra đời của nước Văn Lang trên cơ sở nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ – thời đại đồng thau phát triển đến đỉnh cao và bước sang thời đại sắt sớm, tồn tại vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ III TCN. Nước Văn Lang còn là biểu hiện của sự liên kết các cộng đồng bộ lạc giữa khu vực đồng bằng sông Hồng với các khu vực đồng bằng sông Mã, sông Cả, vùng Thanh –  Nghệ trên nền tảng một nền văn hóa chung đa sắc thái. Văn hóa Đông Sơn, Nhà nước Văn Lang tuy còn sơ khai, chất phác  nhưng cũng đánh dấu sự trưởng thành, phát triển vượt bậc của các cộng đồng dân cư bản địa, một bước chuyển “cách mạng” từ thời đại hoang sơ nguyên thủy sang thời đại văn minh hơn. Có thể coi Nhà nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam (trang 126 tập I).

Thời kỳ đầu công nguyên, nước chúng ta đã có chữ viết là chữ Việt cổ, đã có hệ thống hành chính và luật pháp. Do vậy, Mã Viện truyện trong Hậu Hán thư ghi “Luật người Việt khác luật người Hán hơn mười việc bèn lại thực hiện chế độ cũ để ước thúc họ”.

Từ những tư liệu như trên, ta thống nhất với Viện Sử học trong cuốn “Lịch sử Việt Nam” là nguồn gốc người Việt là người nguyên thủy xuất hiện khá sớm trên đất nước ta tại vùng Núi Đọ, Đông Sơn, Thanh Hóa.

II – Tóm tắt nguồn gốc các dòng họ lớn của nước ta 

Nước Việt Nam hiện nay theo một trong các thống kê tin cậy có 215 dòng họ. Họ Dương chiếm hơn 1% dân số, là một trong các họ lớn của nước ta. Để thấy bức tranh tiêu biểu về các dòng họ và hiểu thêm về họ Dương trong cộng đồng làm nên dân tộc Việt Nam, người trong họ cũng cần biết về các dòng họ lớn, đồng hành cùng họ Dương.

Trong 215 dòng họ có 15 dòng họ lớn (trong đó có họ Dương sẽ viết riêng) chiếm tuyệt đại dân số Việt Nam là:

1-Họ Nguyễn ()

Họ Nguyễn là dòng họ tiêu biểu của người Việt Nam, chiếm tỷ lệ 38,4 % dân số. Tương truyền đây là dòng họ của thuỷ tổ người Việt, họ của Kinh Dương Vương, có từ buổi đầu dựng nước.

– Trong truyền thuyết xuất hiện sớm nhất, Tản Viên Sơn Thánh có tên là Nguyễn Tuấn. Vị đệ nhất phúc thần, đứng đầu trong bốn vị thánh bất tử của Việt Nam.

– Theo chính sử, Nguyễn Bặc (924-979) là khai quốc công thần triều Đinh, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh chấm dứt loạn 12 sứ quân. Theo gia phả họ Nguyễn và tài liệu Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam, Định Quốc Công Nguyễn Bặc được suy tôn là thủy tổ họ Nguyễn. (Là nhân vật có thật trong sử sách, còn Kinh Dương Vương và Nguyễn Tuấn chỉ được chép trong huyền thoại)

Họ Nguyễn bị pha tạp rất nhiều do chính biến trong hơn nghìn năm qua, bây giờ khó nói là ai đó họ Nguyễn chính gốc hay là có nguồn gốc từ các họ khác đổi sang. Điều đặc biệt, họ Nguyễn là họ vua cuối cùng của nước ta, do Nguyễn Kim có gốc từ Gia Miêu, Hà Trung, Thanh Hóa, người khai mở cho vương triều Nguyễn trải dài 300 năm. Khi có biến cố gì, các dòng họ khác đều chọn ưu tiên chuyển sang họ Nguyễn. Rõ nhất như họ Lý thời Trần, họ Mạc thời Lê, họ Hồ thời Tây Sơn, họ Huỳnh được ban quốc tính, họ Ngô cải theo họ vua…

-Khi điều tra dân số, những người chưa có họ, đều được các quan chức trong bộ máy chính quyền nhà nước cho chuyển hết sang họ Nguyễn.

– Một người họ Nguyễn yêu nước, có chí khí, dân tộc ta kính trọng là Nguyễn Thái Học với câu nói nổi tiếng: “Không thành công cũng thành nhân”. Ông sinh 1902, là lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái đánh Pháp giành độc lập cho dân tộc. Khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp xử án chém ngày 17-6-1930.

Họ Nguyễn là dòng họ chính làm nên dân tộc Việt Nam. Tổng Bí thư và Thủ tướng nước ta hiện nay (năm 2020) cũng là họ Nguyễn.

Lời bàn:

Có tư liệu của tổ tiên họ Dương để lại trong cuốn gia phả “Đào tộc khoa quan công thần huân nghiệp gia phả chí” chép là họ Nguyễn Gia Miêu từ cụ Tổ Nguyễn Kim trở đi là hậu duệ của đức tổ Đào Biểu gốc họ Dương. Hiện nay có chi họ Nguyễn Gia Miêu Hà Trung đã thờ áo mũ của Trang nguyên Đào Sư Tích (gốc họ Dương) và nhận sinh hoạt trong cộng đồng họ Dương Việt Nam.

2- Họ Trần ()

Họ Trần tại Việt Nam có nguồn gốc từ người Lạc Việt thuộc cộng đồng Bách Việt tại nam sông Dương Tử, nay thuộc vùng Lưỡng Quảng, Trung Quốc.

Nhóm người sang sớm nhất: Căn cứ gia phả họ Trần ở Lạc Dương do thống tôn đời 27 Trần Đình Nhân còn lưu giữ được thì gốc tích xa xưa đời Chiến quốc, họ Trần thuộc nhóm người Bách Việt sống ở đất Mân (Phúc Kiến). Năm 227 TCN, Phương Chính Hầu Trần Tự Minh đang làm quan, vì mâu thuẫn giữa người Hán và người Việt đã theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía nam. Tự Minh được vua An Dương Vương thu nạp trở thành vị tướng tài ba cùng Cao Lỗ chống lại Triệu Đà. Khi thành Cổ Loa thất thủ (208 TCN), Trần Tự Minh lui về sống ẩn dật ở vùng Kinh Bắc (Theo “Tìm hiểu về gốc tích họ Trần” của Đào Trần Quang Cát).

Những năm 40 SCN, Hai Bà Trưng có thân mẫu là Man Thiện Trần Thị Doan, trong quân ngũ của Hai Bà có tướng quân Trần Khang.

Nhóm sang sau này là tổ tiên của các vua Trần hiển hách trong lịch sử nước ta: Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (10721127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường (Nam Định). Đến đời con là Trần Hấp dời mộ tổ sang sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Thái Bình. Trần Hấp sinh ra Trần LýTrần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung.

Họ Trần hiện nay là họ lớn thứ hai của nước ta, chiếm 12,1 % dân số. Đến Việt Nam từ thế kỷ 11 mà có dân số đông như thế bởi sự biến thiên của lịch sử. Sau sự kiện Trần Cảnh lên ngôi, Trần Thủ Độ tàn sát họ Lý và nổi lên thành vương triều hiển hách, họ Lý, Mạc, Hồ… rất nhiều người chuyển sang họ Trần. Họ Trần cũng là dòng họ thiêng liêng hiển thánh của Trần Hưng Đạo nên càng thu hút các dòng họ chưa có tên và các dòng họ khác sau này đổi sang.

Lời bàn: Theo sách “Thuyết sử Nhà Trần” của tác giả Trần Xuân Sinh, NXB Hải Phòng, gia phả họ Trần làng Tức Mặc, Mỹ Lộc, Nam Định và bia “Sự tích đền Vạn Khoảnh” thờ Thái Thượng Hoàng Trần Thừa đều ghi họ Trần có gốc là người họ Dương từ vùng Bách Việt sang Việt Nam, trong đó có nhánh  đổi sang họ Trần. Đây là một tồn nghi lớn được trình bày ở phần VII của cuốn sử này.

3- Họ Lê ()

Họ Lê là dòng họ thuần Việt, phát sinh từ hai nguồn:

– Phát tích cùng dân tộc Lạc Việt ở đất Thanh Hoá – Ninh Bình từ rất xa xưa (tổ tiên của Lê Hoàn, Lê Lợi).

– Là dòng họ của Thục Phán An Dương Vương- vị vua nước Âu Lạc của ta từ 258 TCN. (Theo tư liệu của họ Lê, bà Lê Thị- cô ruột của Thục Phán là vợ vua Hùng thứ 18 đã đầu độc hết 20 hoàng tử và 4 công chúa của vua Hùng để chuẩn bị thôn tính Lạc Việt).

Họ Lê là dòng họ hiển hách, hai lần giữ ngôi cao: Nhà Tiền Lê và Hậu Lê, tổng cộng 399 năm. Trong danh sách khoa bảng triều Nguyễn trong 115 năm có 5.230 vị đăng khoa, trong đó 650 vị Hương cống, Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng. Là dòng họ anh hùng cái thế của Lê Hoàn, Lê Lợi – một dòng họ rất hiền lương không tham quyền lực với họ Trịnh nên luôn được an lành. Họ Lê trong lịch sử không xảy ra kiếp nạn gì do vậy dòng họ được bảo toàn và người các dòng họ khác khi gặp nạn thì đổi sang họ Lê cho lành. Do vậy, họ Lê ngang bằng họ Trần, chiếm 9,5 % dân số.

Họ Lê đã hiến dâng cho đất nước một nhân tài: Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, trong đó có thuốc Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư.

Lời bàn: Một dẫn chứng là bên Trung Quốc không thấy có người họ Lê, các quan đô hộ sang ta không có ai là họ Lê, do vậy họ Lê chỉ là của nước Việt ta, lại có dòng xuất xứ từ Thanh Hóa, điều này cũng chỉ ra rằng họ Lê và các dòng họ thuần Việt đều phát tích cùng người Việt tại Thanh Nghệ Tĩnh.

4- Họ Phạm ()

Họ Phạm ở Việt Nam có nguồn gốc từ Bách Việt sang nước Văn LangÂu Lạc từ xưa và hòa đồng cùng người Việt, ngoài ra cũng còn nguồn từ họ khác, nhất là họ Mạc khi bị thất thế đổi sang (di ngôn của tổ tiên họ Mạc là nếu đổi họ thì tìm các họ viết tên bằng chữ Nho có bộ thảo đầu (艹) giống họ Mạc (漠) để con cháu sau này dễ nhận ra nhau như họ Phạm (), họ Hoàng ()…

Họ Phạm là dòng họ phổ biến thứ 4 ở Việt Nam với 7% dân số khoảng 6,7 triệu người, chỉ đứng sau họ NguyễnTrần. Tuy có rất nhiều nhân tài trí sĩ nhưng chưa một lần họ Phạm có người làm Vua.

Theo các bản Thần phả, Thần tích, sự xuất hiện các tài nhân họ Phạm từ rất sớm như:

– Phạm Quốc Lang đại vương, tướng thời Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân. Thờ ở đền Hạ, Đông Ngàn, Đông HộiĐông AnhHà Nội.

– Nam Hải Đại Vương Phạm Hải, và ba anh em Phạm Vĩnh (Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Thái Thượng đẳng thần) thế kỷ III trước CN, giúp Vua Hùng thứ 18 đánh Thục.

– Tướng quân Phạm Gia – tướng của An Dương Vương, 208 trước CN lui quân về vùng Hoài Đức.

– Phạm Danh Hương– chồng của Bát Nàn nữ tướng quân (thời Hai Bà Trưng).

Nhân vật lịch sử họ Phạm đầu tiên trong chính sử là Danh tướng Phạm Tu – khai quốc công thần triều Tiền Lý, đã có công đánh đuổi quân Lương (542), đánh tan quân xâm lấn Lâm Ấp (543), dựng Nhà nước Vạn Xuân (544).

  • Phạm Tử Nghi danh tướng thời Mạc người làng Đôn Niệm- An Dương, nay là quận Lê Chân, Hải Phòng. Đã từng đem quân đội của mình đánh phá châu Ung, châu Khâm của Trung Quốc. Ông được thờ làm Thành hoàng làng Đôn Nghĩa. Tuổi trẻ ông đã đắp một đoạn đê để tập võ nghệ, nay trở thành con đường Thiên Lôi nổi tiếng ở Hải Phòng.
  • Phạm Ngũ Lão người Hưng Yên- danh tướng giúp Trần Hưng Đạo đánh thắng Nguyên Mông lần thứ hai.

Ngày nay họ Phạm suy tôn cụ Phạm Tu là tổ của dòng họ.

5- Họ Hoàng- Huỳnh()

Họ Hoàng (tên gọi được ghép bằng bốn chữ: Nhất, Bát, Thảo, Điền đem sắp xếp gọn lại mà thành 一入廿田。黃).

Họ Hoàng là dòng họ lâu đời nhất của Trung Quốc, có từ thuở hồng hoang. Do loạn phương bắc, dòng họ di chuyển đến tập trung ở nam sông Dương Tử. Sau khi nhà Thanh diệt nhà Minh cùng các họ khác, di chuyển xuống phương Nam vào nước ta thành tổ tiên họ Hoàng. Vì có nhiều người cùng đến Việt Nam thuộc nhiều thời kỳ khác nhau nên hiện nay họ Hoàng ở nước ta có nhiều nhánh, nhiều nguồn không cùng huyết thống.

Họ Hoàng ở Việt Nam có từ lâu đời. Thời Hai Bà Trưng có nữ tướng Hoàng Thiều Hoa. Cuối đời Đường có bà Hoàng Thị Chúc, vợ của quan thứ sử Vũ Hồn. Từ thời Lý trở về sau, người họ Hoàng đã có mặt khá đông đảo.

Ở Việt Nam hiện nay ghi nhận có 6 dòng họ Hoàng có bề dày lịch sử hơn 600 năm. Riêng dòng cụ tổ Hoàng Tá Thốn ở Nghệ An, là 700 năm. Phần lớn các họ Hoàng ở miền Bắc đều ghi trong gia phả nguồn gốc của họ là ở Giang Hạ-Trung Quốc.

Bên cạnh đó còn một số chi họ Hoàng có lịch sử khoảng 400 năm gần đây, là hậu duệ của họ Mạc. Nhà Mạc bị Trịnh Tùng dứt ngôi vào năm 1592. Vương triều đã chạy lên Cao Bằng, Lạng Sơn tiếp tục chống cự và tồn tại trên ba đời. Con cháu họ Mạc còn lại phân tán khắp nơi, thay tên đổi họ để tránh họa tuyệt diệt dưới tay nhà Trịnh.

Vì thấy chữ Hoàng viết rất gần giống chữ Mạc (黃- 漠) nên một số người họ Mạc đổi ra họ Hoàng là chính và nhiều họ khác như Bế, Bùi, Cát, Chữ, Đoạn, Đoàn, Đặng, Đỗ…  Như thế, giữa người họ Hoàng và người các họ nói trên có cùng sợi dây huyết thống.

Như nhiều dòng họ khác, tuy là chung một gốc nhưng trên cành có trái chua, trái ngọt, trái sâu. Họ Hoàng có những nhân vật anh hùng như Hoàng Hoa Thám, Hoàng Diệu… nhưng cũng có cả những tên phản dân hại nước như Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô…

Ngày nay, các chi họ Hoàng gốc Mạc trải qua 400 năm, sơ bộ cũng có đến 37 tên họ khác nhau với 370 chi họ trong 25 tỉnh thành, con cháu kể tiếp mới được 14-15 đời.

Hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, sinh sống ở Việt Nam ở nhiều thời kỳ, vì vậy họ Hoàng cũng rất đông, đến nay chiếm 5,1 % dân số. (Ở Nam Việt Nam, do huý kỵ chúa Nguyễn Hoàng nên họ Hoàng được đọc chệch thành Huỳnh từ hơn 300 năm nay. Nhiều người Hoa khi đăng ký hộ tịch, không dùng phiên âm Hán-Việt để ghi tên mình ra chữ Quốc ngữ, mà dùng phiên âm trực tiếp từ một phương ngôn tiếng Hoa nào đó. Vì thế, tại Việt Nam, họ Hoàng còn có một biến thể khác là Vòng hoặc Voòng).

6-Họ Phan ()

– Theo sử sách lưu truyền, tướng quân Phan Tây Nhạc, người đất Ái Châu (tức vùng Sông Mã – Thanh Hoá) đã có mặt từ  thời Vua Hùng Vương thứ 18. Là tướng giỏi, được kết duyên cùng cháu ngoại vua là  Hoa Dung (con gái công chúa Ngọc Hoa). Phan Tây Nhạc được người đời sau tôn là Thành hoàng, thờ ở đình Xuân Phương – Từ Liêm – Hà Nội.

– Theo gia phả lưu giữ tại nhà thờ họ Phan ở Hải Phòng, Hải Dương: “Họ Phan ta là con cháu ông Phan Lệnh Công, tự Phúc Tín. Thời nhà Minh, nhà Thanh làm quan Thái úy, ông đã dấy quân trừ Thanh phục Minh. Nhưng do nhà Minh đã tận, ông cùng 7 người con về trú ngụ tại nhà họ Đoàn ở xã Quán Trang – huyện Kim Thành – tỉnh Hải Dương sinh sống. Cho nên ông Phan Lệnh Công, tự Phúc Tín là tổ họ Phan ở chi ngành Hải Dương, Hải Phòng”.

– Đến thời kỳ Lý Thái Tông (1036), nhà nước phong kiến đã đưa dân đồng bằng sông Hồng vào Nghệ Tĩnh và hình thành nhà thờ họ Phan ở Yên Thành. Thời kỳ nhà Trần (1225-1400) đã hình thành chi phái họ Phan ở xã Đa Hoạch – huyện Yên Trung – tỉnh Thanh Hoá và chi nhánh Phan Xá ở huyện Nghi Xuân – tỉnh Nghệ An.

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn Phước Tần đem quân ra đánh thắng chúa Trịnh, ở vùng Bắc Bố Chánh. Sau đó, chúa Thượng đã đưa 3 vạn người vào định cư khai khẩn từ Quảng Nam đến Phú Yên, trong đó có cao tổ họ là Phan Long Đoá vào định cư lập nghiệp thời kỳ này.

Như vậy là từ thời Lý – Trần – Hồ – Lê – Nguyễn đều có đưa người vào Nam định cư. Trong số đó có bà con họ Phan và từng bước hình thành các chi phái họ Phan khắp mọi miền đất nước như hiện nay. Điển hình là chi phái Phan Huy, đã định cư từ đầu thế kỷ 17 đến nay được 18 đời ở xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh (xưa là làng Thu Hoạch, tổng Canh Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quangtrấn Nghệ An). Đây là một trong những ngành họ giàu truyền thống văn chương và khoa bảng từ thế kỷ 18 của nước ta.

Một chi phái nữa là Phan Bá đã định cư lâu đời tại thôn Vọng Sơn, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Những cứ liệu trên, và hiện tượng người họ Phan chỉ tập trung cư trú ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh,  đã chỉ ra rằng họ Phan tại Việt Nam hình thành từ hai nguồn:

– Là người Việt cổ phát tích từ khu bốn cũ, theo về đất tổ có mặt trong vương triều các vua Hùng. Là rể của họ Hồng Bàng.

– Là người Hán xuống vùng nam sông Dương Tử rồi chạy loạn sang Việt Nam sinh sống tại Hải Dương, sau di dân nhiều vào khai phá vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh.

Họ Phan có nhiều nhà khoa bảng, nhiều danh nhân thành đạt. Tiêu biểu là Phan Phu Tiên (1370-1462), hiệu Mặc Hiên, hai lần đỗ tiến sĩ vào cuối triều Trần và đầu triều Lê, là nhà biên khảo, nhà sử học, và là thầy thuốc Việt Nam ở đầu thời nhà Lê sơ. Thành tựu đáng kể của ông, đó là đã biên soạn ra bộ “Việt âm thi tập” và bộ “Đại Việt sử ký tục biên”.

Phan Kinh, đỗ Thám hoa tài cao học rộng được nhà Thanh phong là Lưỡng quốc Thám hoa. Đặc biệt Phan Huy Chú tuy chỉ đỗ tú tài hai lần mà đã để lại cho đời tác phẩm bất hủ là “Lịch triều hiến chương loại chí” gồm 40 quyển, là bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam thời trước, nay vẫn còn nguyên giá trị.

Đời sau, có các nhân sĩ, danh thần: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… đóng góp hiền tài xây dựng non sông đất nước Việt Nam.

Họ Phan có mặt từ lâu đời trên đất nước Việt Nam, là dòng họ không có biến cố gì đáng kể. Vì vậy họ Phan có rất đông dân cư sinh sống, chiếm 4,5% dân số Việt Nam.

7- Họ Vũ – Võ ()

Tương truyền họ Vũ có nguồn gốc đầu tiên tại làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, không phải tất cả các gia tộc họ Vũ tại Hải Dương và Việt Nam đều có cùng gốc từ đây. Theo gia phả, tộc phả và thần phả ở làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương, ông tổ họ Vũ là Vũ Hồn (804-853), là quan đô hộ của nhà Đường cắt cử sang Việt Nam.

Thân sinh ông là Vũ Huy người Bách Việt, tỉnh Phúc Kiến sang Việt Nam lấy vợ ở đất Hồng Châu, Hải Dương. Năm Giáp Thân (804) sinh con trai, đặt tên là Vũ Hồn. Lớn lên, Vũ Hồn được sang Trung Quốc vào thời nhà Đường để học tập, tuy còn trẻ lại có tài có đức nên vua Đường bổ nhiệm làm Lễ Bộ Tả thị lang. Năm Ất Hợi (năm 825) đời Đường Kính Tông, ông được cử sang An Nam làm Thể sử Giao Châu thay Hàn Ước. Ông lấy vợ Việt.

Năm Tân Dậu (năm 841), ông được thăng chức An Nam Kinh Lược Sử. Sau do quân trong phủ làm loạn, Vũ Hồn bỏ chạy về Quảng Châu, Trung Quốc. Năm 843, ông từ quan đưa mẹ về Việt Nam sinh sống. Ông mất ngày mùng 3 tháng chạp năm Quý Dậu (năm 853), hưởng thọ 49 tuổi. Hiện có đền thờ tại Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Đền thờ ông ở làng Mộ Trạch được nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.

Họ Vũ nhận ông là thủy tổ của họ Vũ Việt Nam. Bắt đầu từ Quảng Bình cho tới hết các tỉnh miền Nam, do kiêng húy thụy hiệu của chúa Nguyễn Phúc Khoát (hiệu Vũ Vương), “Vũ” được đổi thành “Võ”.

Tại Hải Phòng, họ Vũ đến lập làng Hàng Kênh từ thế kỷ thứ 11. Cụ Vũ Chí Thắng được suy tôn là thủy tổ họ Vũ Hữu. Cụ sinh năm 1253, mất năm 1325, thọ 72 tuổi. Cụ là danh tướng của Trần Hưng Đạo, do có công, vua Trần phong cụ là Điện tiền Chỉ huy sứ. Khi mất, cụ được dân làng suy tôn làm phúc thần, là Thành hoàng làng có sắc phong của vua Tự Đức, hiện nay thờ ở đình Từ Vũ.

Theo nghiên cứu hiện nay, trước khi Vũ Hồn sang nước ta làm quan 27 năm đã có người họ Vũ từ Bách Việt sang Việt Nam sinh sống. Ngoài ra còn có người họ Phạm đổi sang họ Vũ là họ ngoại nên đã bổ sung thêm một nhánh nữa cho họ Vũ. Ông Vũ Hồn có ba con trai, chỉ người thứ hai ở Việt Nam, chắc chắn là sau thời Vũ Hồn có rất nhiều người họ Vũ từ Trung Quốc sang thêm nữa nên ngày nay họ Vũ-Võ chiếm 3,9% dân số, là dòng họ lớn thứ năm của nước ta. (Một người con của Vũ Hồn từ thế kỷ thứ 9 không thể sinh sôi ra nhiều như thế – DAD).

Họ Vũ tự hào có vị đại tướng đầu tiên của nước ta được Hồ Chủ tịch phong quân hàm năm 1948, đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

8- Họ Đặng ()

Theo báo cáo của Hội đồng Đặng tộc, họ Đặng là dòng họ thuần Việt, tương truyền có nguồn gốc từ thời Hùng Vương dựng nước. Ghi nhận người họ Đặng đầu tiên thời Hùng Vương thứ 6 là Đặng Hòa, thời Hùng Vương 18 là Đặng Oanh.

Họ Đặng ghi nhận một nơi gốc họ là Hà Tây: cụ Đặng Phúc Mãn có quê ở Lộ Ứng Thiên, nay là vùng hữu ngạn trung lưu sông Đáy (Hát Giang) đi xây hành cung vua Lý. Được vua Lý ban lộc điền ở An Đề, nay là huyện Vũ Thư – Thái Bình. Cụ Đặng Phúc Mãn đã sinh ra Đặng Nghiêm là người thông minh học hành đỗ đạt, người khai khoa cho xứ Sơn Nam Hạ, được ghi danh trong các nhà khoa bảng Việt Nam.

Người họ Đặng xuất hiện sớm trong sử sách Việt Nam được ghi chép lại là các vị tướng nhà Đinh, tiêu biểu như cha con Đặng Chân và Đặng Trí; các tướng Đặng Chiêu PhápĐặng Sỹ LẫmĐặng Sỹ NghịĐặng Sỹ Phan đều có công dẹp loạn 12 sứ quân. Đặc biệt, Đặng Huyền Quang được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Sùng chân uy nghi, chức quan to trong kinh đô Hoa Lư.

Họ Đặng còn có một nhánh do họ Trần đổi sang từ  năm Tân Mùi (1511), Trần Tuân nổi lên chống triều đình Lê Tương Dực (1510-1516), bị Trịnh Duy Sản đâm chết. Do vậy, con cháu vì sợ tru di, phải chạy trốn về Lương Xá (Hà Tây), đổi sang họ Đặng. (Hiện tại có một bộ phận người họ Đặng nhận nhà Trần là thủy tổ).

Họ Đặng ngày nay chiếm 2,1% dân số, là dòng họ góp nhiều công lao trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc.

9- Họ Bùi ()

“Họ Bùi Việt Nam là một họ bản địa, có gốc tích trên đất Việt từ thời các vua Hùng dựng nước.” (Ban Liên lạc họ Bùi toàn quốc).

Như vậy, họ Bùi có khởi nguồn từ người nguyên thủy Việt Nam. Thực tế trong họ Bùi có một tỉ lệ cao là người Mường được xem như người Việt cổ đã nói lên điều đó.

Theo truyền thuyết, mẹ của Thánh Gióng là Bùi Thị Dung, con gái của cụ Bùi Cẩn ở Vũ Ninh. Điều đó nói lên họ Bùi đã lập nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ từ trước đời Hùng Vương thứ VI.

Theo một cuốn gia phả họ Bùi do cụ Bùi Thế Đồng làng Tảo Môn, xã Nhân Hòa, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam chép: Ba anh em họ Bùi từ huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội di cư về vùng này “Chiêu dân khai điền lập ấp”. Hai người anh ở lại định cư lâu dài và là hai Thủy tổ của họ Bùi ngày nay ở Hà Nam.

Người em thứ ba sang Thái Bình là: Bùi Tướng Công Lê triều điển bạ – Chức vụ Hàn lâm – mộ dân khai điền lập ấp, hiện được thờ làm Thành hoàng tại đình thôn Nghĩa, làng Đại Hoàng (nay là xã Tây Lương) huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Người họ Bùi phát tích cùng người Việt cổ tại miền Thanh Nghệ, cũng tương tự  như họ Dương, ngoài nhóm theo về đất tổ vua Hùng và phát tán ra vùng đồng bằng trung du Bắc bộ, còn nhóm khác ở lại bản địa sau thiên di vào miền nam Tổ quốc. Theo họ Bùi Văn – Đà Nẵng: Tổ tiên tộc Bùi Văn có nguồn gốc lâu đời từ Thanh Hoá bắt đầu đến khẩn đất lập làng ở Nại Hiên vào năm 1474, đời vua Lê Thánh Tông. Cụ tiên hiền Bùi Văn, được vua nhà Nguyễn sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Chi Thần. Việc định cư của tộc  Bùi Văn gắn liền với lịch sử mở cõi của dân tộc Đại Việt tại quê hương Hoà Vang – Đà Nẵng.

Trong họ Bùi cũng có một nhánh từ họ Trần đổi sang, đó là sự kiện Trần Bùi Thế Tổ là họ Trần. Năm 1400, phụ thân của ông đã cùng một tướng bàn mưu giết Hồ Quý Ly. Mưu bị lộ, Hồ Quý Ly tàn sát. Trần Bùi Thế Tổ được một ông lang thuốc là Bùi Trương che chở, nhận làm con nuôi, đổi tên họ là họ Bùi. Trong lịch sử nước nhà có rất nhiều người họ Bùi đóng góp tài sức cho non sông đất nước. Hiện nay, họ Bùi cũng là một họ lớn của nước ta, chiếm 2% dân số.

10- Họ Đỗ   ()

Theo ngọc phả, thánh tích và tư liệu còn lưu giữ được, khẳng định: Họ Đỗ là một cộng đồng người Việt đã sinh tụ, phát tích trên đất nước ta cách đây trên 5000 năm, đấy chính là người Việt cổ có hậu duệ sau này cùng các vua Hùng lập nước Văn Lang.

Vùng đất Gò Thiềm Thừ (Ba La – Hà Đông) là nơi họ Đỗ nhận làm nơi phát tích của dòng họ. Theo “Cổ Lôi ngọc phả truyền thư”, “Bách Việt tộc phả” thì những người họ Đỗ xa xưa nhất tới nay được biết đến là cụ bà họ Đỗ, thân phụ là Đỗ Thương, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Cụ sinh ngày mồng tám tháng tư và hoá (mất) ngày rằm tháng bảy. Cụ thường được gọi theo họ là Đỗ Quý Thị (tức Quý bà họ Đỗ). Cụ lấy chồng người họ Nguyễn tên là Nguyễn Minh Khiết, tức là Đế Minh. Hai cụ sinh ta Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương). Họ Nguyễn Vân ở làng Vân Nội vẫn cúng giỗ cụ hằng năm với bài văn cúng: “Thỉnh tổ tổng khoa- Cúng gia tiên”. Mộ và miếu thờ cụ ghi trong thư tịch cũ trên đây nay vẫn còn ở Ba La, thị xã Hà Đông.

Cụ có 8 người em trai có tên là: Đỗ Xương, Đỗ Tiêu, Đỗ Kỷ, Đỗ Cương, Đỗ Chương, Đỗ Dũng, Đỗ Bích, Đỗ Trọng.  Do có sự bất hoà với chồng (Đế Minh), cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của cụ giúp cho Lộc Tục trưởng thành. Cụ theo đạo Bà la môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi (sau tu đắc đạo thành bát bộ Kim Cương), hết lòng giúp cháu (con của chị), cho đến khi Lộc Tục được cha là Đế Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên nước là Xích Quỷ. (Đây là cổ thư có nhiều yếu tố huyễn hoặc, ta chỉ đọc tham khảo- DAD).

Họ Đỗ (Đậu) đã đi vào lịch sử dân tộc. Thời nào cũng có hào kiệt:

-Thời Hùng Vương 18, hai tráng sĩ họ Đỗ cùng 40 tướng  theo Tản Viên Sơn Thánh đánh lại Thục Phán.

-Năm 40 SCN có các tướng Đỗ Phụng Chân, Đỗ Quang, Đỗ Công Điền, Đỗ Ả Lã, Đỗ Nương Chi, Đỗ Mẫn; Thái sư- võ sư Đỗ Năng Tế, Đỗ Thị Hảo, Đỗ Thị Dung, Đỗ Xuân Quang, Đỗ Dương đã cầm quân dưới cờ khởi nghĩa Hai Bà Trưng thu lại 65 thành trì xưng vương lập nước.

– Càng về sau, người họ Đỗ (Đậu) càng được ghi tên nhiều trong sử sách. Tiêu biểu là Đỗ Cảnh Thạc giúp Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng (938), Đại tướng Đỗ Chính Minh phò Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành; Tiến sĩ Đỗ Nhuận – phó Nguyên súy Tao Đàn thời Lê; Đỗ Lý Khiêm là Trạng nguyên (1499) nhà Lê; Đỗ Tống là Trạng nguyên (1529) nhà Mạc…

Theo chúa Nguyễn vào Nam đầu thế kỷ 19, ông Đỗ Công Tường (Đỗ Cao Lãnh) có nhiều công lập chợ và giúp dân nghèo trong vùng. Sau khi mất, ông được người dân lập đền thờ, vua nhà Nguyễn phong là Thành hoàng, và tên ông cũng  trở thành địa danh, đó là Cao Lãnh,  thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Họ Đỗ là dòng họ đặc biệt, đã tự nhận có tổ tiên là Thánh mẫu, là Bát Bộ Kim Cương trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đồng hành cùng dân tộc, họ Đỗ đã đóng góp nhiều hiền tài cho Tổ quốc.

Hiện nay, họ Đỗ cũng rất đông, chiếm 1,4% dân số cả nước. Con cháu ngày nay tôn vinh Cụ Đỗ Thương và tổ mẫu Vụ Tiên là tiên tổ của dòng họ Đỗ (Đậu).

Lời bàn:

1-Tư liệu theo Ngọc phả truyền thư là theo sách “Họ Đỗ Việt Nam” tập 1, NXB VH-TT, Hà Nội, năm 2001, trang 239-244 do PGS Đỗ Tòng chủ biên và sách “Việt Nam cội nguồn trăm họ” của GS Bùi Văn Nguyên, NXB KH-XH, Hà Nội 2001, tr 75-83.

2- Họ Đỗ những năm gần đây đã tìm được cuốn sử của dòng họ chép về lịch sử đất nước và dòng họ. Đó là cuốn “Cổ lôi ngọc phả”. Người khen cho là tàng thư cổ, người chê cho là ngụy thư.

Đây là ý kiến của họ Đỗ Việt Nam: Theo Trang tin họ Đỗ Việt Nam: “Họ Đỗ Việt Nam trong cội nguồn lịch sử”, đăng ngày 18-3-2015:

1- Thủy tổ là Đế Hòa.

2- Đế Hòa sinh Phục Hy, vợ là Trinh Nương.

3 -Phục Hy sinh Thần Nông.

4- Thần Nông sinh Tiên Đế (Đế Tiết Vương), vợ là Nữ Hoàng Vân (Có mộ và miếu thờ ở Thanh Oai – Sơn Tây).

5- Tiên Đế sinh Đế Quý Công (Đế Thừa Sở Minh công)

6- Đế Quý Công sinh Nguyễn Minh Khiết, hiệu Thái Khương Công hay Khương Thái Công, tức là Đế Minh, vợ là người họ Đỗ, thường gọi là Đỗ Quí Thị.

7- Đế Minh sinh Kinh Dương Vương (Lộc Tục).

(Tiếp theo về Đỗ Quý Thị như trên đã nói)

Với tư liệu này thì Đế Minh có vợ người họ Đỗ sinh ra Kinh Dương Vương (Lộc Tục). Ông nội của Đế Minh (Tiên Đế – Đế Tiết Vương) có mộ và miếu thờ ở Thanh Oai – Sơn Tây.

Như vậy bà họ Đỗ là mẹ Kinh Dương Vương và gia tộc Kinh Dương Vương ngược lên đến Phục Hy đều là người Việt ở khu vực Hà Nội ngày nay (Sơn Tây). Họ Đỗ còn gắn liền với đạo Mẫu- một đạo thuần Việt. Bà Đỗ Thị là Vân Cái Bồ Tát, Thánh Sơn Trang, Kinh Dương Vương là Ngọc Hoàng Thượng Đế (!).

Đây là huyền thoại và là câu chuyện ngộ nhận huyễn hoặc được Việt hóa, song điều cốt lõi đã chỉ ra rằng người xưa cho thủy tổ dân ta là người Việt, Phật Thánh đều từ người Việt tu đắc đạo mà thành. Đồng thời đã khẳng định tín ngưỡng đạo Mẫu là phát sinh từ nội tại của dân tộc Việt.

 11-Họ Hồ ()

Ông tổ đầu tiên của họ Hồ Việt Nam là Trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống ở thế kỷ thứ X, vào thời Hậu Hán, quê gốc ở Triết Giang (Trung Quốc). Ông chính là người Lạc Việt thuộc nước Bách Việt của Nam Việt vương Triệu Đà khi xưa, sang Việt Nam thời Ngũ Quý làm quan Thái thú châu Diễn. Được vài năm thì loạn 12 sứ quân, ông đến hương Bàu Đột (nay là xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lập nghiệp.

Tộc phả họ Hồ bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời thứ 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa, đến đời thứ 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, mới kết nối tiếp liên tục đến ngày nay. (Tổng số được 35-36 đời). Nhà thờ họ Hồ Đại tộc, tọa lạc tại thôn 4, xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nơi đây được coi là thánh địa đối với con cháu họ Hồ (Việt Nam).

Dòng dõi nhà Hồ có Hồ Quý Ly thuộc đời thứ 12, là hậu duệ Hồ Hưng Dật. Tháng 3-1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Song khi lên ngôi, ông là nhà vua có nhiều cải cách tiên phong trong nhiều lĩnh vực như: quy định việc sử dụng chữ Nôm làm Quốc tự, phát hành tiền giấy, xây dựng Thành nhà Hồ…Con ông là Hồ Nguyên Trừng là nhà phát minh lớn chế tạo thành công súng đạn có tính sát thương cao khiến nhà Minh khiếp sợ. Do không được người đời ủng hộ vì soán ngôi nên mặc dù có tiềm năng kinh tế, quân sự, vương triều Hồ vẫn bị diệt, cha con ông bị bắt về Bắc quốc song vì tài năng, vẫn được trọng dụng.

Trong số người bị quân Nguyễn đưa đi khai khẩn ruộng đất tại ấp Tây Sơn có Hồ Phi Khanh, là ông tổ 4 đời của anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12). Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) chính là vua Quang Trung là anh hùng kiệt hiệt của dân tộc. Ông đã chấm dứt hai trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh đầy máu và nước mắt của dân tộc ta.

Một người con gái họ Hồ tài hoa là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà là nhà thơ sử dụng chữ Nôm một cách điêu luyện, nên bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm.

Các dân tộc Tây Nguyên điển hình là người Vân Kiều, không có họ đã lấy họ Hồ theo Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Họ Hồ sang Việt Nam thời gian không dài nhưng cũng có số người rất đông, chiếm 1,3 % dân số nước ta.

12-Họ Ngô ()

Phả hệ họ Ngô Việt Nam xác định Ngô Nhật Đại, một vị hào trưởng châu Phúc Lộc (ngày nay thuộc khu IV cũ), từng tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 772 là khởi tổ. Khi khởi nghĩa thất bại, ông chạy ra châu Ái làm nghề nông sinh con là Ngô Nhật Dụ. Ngô Nhật Dụ là đại nho gia làm trong phủ đô hộ của nhà Đường.

Ngô Quyền con Ngô Mân là hậu duệ đời thứ 6 của Ngô Nhật Đại. Ngô Mân là Thứ sử châu Đường Lâm. Ngô Quyền có hai anh em, người em là Ngô Tịnh, khi trưởng  thành được Ngô Quyền giao trấn thủ Kỳ Anh chống Chiêm Thành, năm người con của Ngô Tịnh là Châu mục châu Hoan, châu Ái, Hào trưởng Kỳ Hòa và hai người còn lại đi tu.

Người anh là Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (897), năm  20 tuổi, cha mẹ đều mất cả, ông quay vào Châu Ái (tức Thanh Hóa) làm Nha tướng của Dương Đình Nghệ. Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ gả cho con gái Dương Thị Như Ngọc làm vợ.

Ngô Quyền là bộ tướng cho cha vợ, có công chỉ đạo mũi tiến công chủ lực đánh chiếm Đại La diệt Lý Khắc Chính. Ông được cha vợ giao làm Thứ sử Ái châu.

Nghe tin Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại, năm 938, Ngô quyền giao Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập ra bắc diệt Kiều Công Tiễn. Đại quân của Ngô Quyền ra vùng sông Cấm (Hải Phòng ngày nay) chuẩn bị trận đánh giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng lấy cớ cứu viện Kiều Công Tiễn để cướp nước ta.

Chiến thắng vang dội cuối năm 938 trên sông Bạch Đằng đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1000 năm dưới ách thống trị của phương  Bắc. Ngô Quyền xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa, mở đầu thời kỳ tự chủ cho dân tộc.

Dòng họ Ngô sau này có tướng giỏi là Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt). Ông đã mang quân sang đánh sâu vào đất Tống thực hiện chiến thuật “tiên phát chế nhân” làm rung chuyển nhà Tống. Ông chỉ huy quân Đại Việt đánh thằng giặc Tống trên sông Như Nguyệt với âm hưởng của bài Tuyên ngôn độc lập bất hủ “Nam quốc sơn hà”. Ngô Tuấn được nhà vua nhận làm hoàng tử nghĩa đệ, chức đến thái úy đứng đầu trăm quan, là anh hùng dân tộc qua các sự nghiệp phá Tống bình Chiêm, hưởng thọ 87 tuổi.

Thời Lê sơ có bà Ngô Thị Ngọc Giao, mẹ Thái tử Lê Tư Thành được Nguyễn Trãi che chở, sau lên ngôi là Lê Thánh Tông, một vị vua anh minh đưa nhà Lê vào thời kỳ rực rỡ. Bà là Thái hậu họ Ngô của nhà Lê – người đã nuôi dạy cho đất nước một Thái tử nên người có ích cho đời…

Hậu duệ của họ Ngô sau này cống hiến cho đất nước nhiều nhân tài, đó là: Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Nhậm, Ngô Đức Kế, Ngô Gia Tự…

Thời sau năm 1954, họ Ngô tỉnh Quảng Bình có Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

Song tại Việt Nam từ thời Hùng Vương đã ghi nhận có người họ Ngô:

– Người họ Ngô gốc Việt: Ông là Ngô Ngọ Lang quê ở Trang Bảo Ngũ, huyện Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam Hạ là một dũng tướng của Hùng Vương 18. Vì có công với nước nên được tôn làm Thành hoàng làng thờ ở đình An Duyên, xã Tô Hiệu, Thường Tín, Hà Nội ngày nay. (Điều này chỉ ra họ Ngô có mặt ở nước ta từ thuở sơ khai, song họ Ngô Việt Nam chỉ kết nối được từ thời Ngô Nhật Đại đến về sau.)

– Họ Ngô Quảng Tây, gốc người Lạc Việt thuộc vùng Bách Việt sang Văn Lang vào thời Hùng Vương 18 là Ngô Tín làm thầy thuốc ở châu Ái.

Đến thời hiện đại, tiêu biểu một tài năng toán học sáng chói được thế giới trao giải toán học cao nhất là Giáo sư Ngô Bảo Châu.

Họ Ngô là một dòng họ thuần Việt phát tích cùng dân tộc Việt tại vùng Thanh Nghệ đã lập nhiều chiến công hiển hách cho dân tộc, có một vị vua đúng nghĩa đầu tiên của nước ta là Ngô Quyền. Họ Ngô chiếm 1,3 % dân số  nước ta.

13- Họ Lý ()

Theo truyền thuyết, thời Hùng Vương thứ 18 đã có họ Lý được ghi trong dã sử là Lý Thân (Lý Ông Trọng) người Từ Liêm, Hà Nội ngày nay, làm tướng dưới thời Hùng Vương và An Dương Vương.

Theo di tích văn hóa sau này sưu tầm được đã chỉ ra thế kỷ thứ II SCN, người họ Lý tài hoa đã chế tác ra gương đồng: “Trên một đồ đựng bằng đồng khai quật tại Quảng Đông còn nguyên dòng minh văn: “ Nguyên Sơ ngũ niên thất nguyệt trung Tây Vu Lý Văn Sơn trị xạ trước (chú) hữu”. Tạm dịch: Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ (năm 143 sau Công nguyên), Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng”. (Tây Vu là Bắc Ninh ngày nay).

Và “Trên một chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, hiện trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về Nghệ thuật và Lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ: “Kiến Hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác”. Tạm dịch: Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa (năm 149 sau Công nguyên)”.

Theo chính sử: Vị vua họ Lý đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (đồng thời là nhân vật có thật) là Lý Bí (hay Lý Nam Đế). Ông là người năm 542 đã lập nên một trong những triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam (tuy chỉ là vua nước sơ khai không hoàn thiện như vương triều của Ngô Quyền sau này). Tên thật ông là Lý Bôn, dòng họ của ông từ Trung Quốc sang định cư tại Việt Nam được 5 đời.

Trong thời loạn 12 sứ quân, họ Lý là lực lượng nòng cốt của sứ quân Lý Khuê (Lãng Công). Sứ quân này trấn trị vùng Siêu Loại, tức vùng văn hóa lịch sử sông Dâu, sông Đuống, Luy Lâu thời Hán. Đây là thế hệ tiên tổ của Lý Công Uẩn.

Tiếp theo là triều đại nhà Lý, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) đã mở đầu một thời kỳ huy hoàng của dân tộc Việt sau khi dời đô đến Thăng Long. Tám đời vua Lý đã an dân trị quốc nâng tầm nước Việt. Tuy nhiên đến thời công chúa Lý Chiêu Hoàng thì vương triều nhà Lý về tay nhà Trần.

Tương truyền họ Lý từ đất Mân trở về cư trú ở vùng Kinh Bắc, chính nơi đây đã trở thành vùng “đất tổ” của dòng vương thất Lý. Sau khi nhà Lý bị Trần Thủ Độ lập mưu cướp ngôi thì dòng họ rơi vào thảm cảnh từ chỗ chói lọi huy hoàng trở thành bi thương ai oán. Họ Lý bị tuyệt diệt sau sự kiện bị đánh sập nhà thái miếu ở Hoa Hâm, con cháu phải thay tên đổi họ (hầu hết sang họ Nguyễn) và ly tán muôn phương.

Truyền thống của dòng họ Lý thăng hoa ở Triều Tiên theo Hoàng tử Lý Long Tường làm tướng cho Cao Ly hai lần chiến thắng Nguyên Mông được nhân dân Cao Ly mến mộ gọi là “Bạch mã tướng quân”, vua Cao Ly phong Lý Long Tường làm “Hoa Sơn Tướng quân”. Thời gian sống ở Hoa Sơn, Lý Long Tường thường lên đỉnh núi ngồi trông về phương Nam mà khóc, nơi ấy gọi là Vọng quốc đàn. Khi mất, ông được chôn tại chân núi Di Ất, gần Bàn Môn Điếm bây giờ.

Một hậu duệ của Lý Long Tường là Lý Thừa Vãn đã làm tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc trong ba nhiệm kỳ từ năm 1948.  Khi Việt Nam thống nhất, Lý Xương Căn- con cháu Lý Long Tường đã mang gia phả về Bắc Ninh nhận họ và về Việt Nam làm kinh tế.

Họ Lý trải qua thời huy hoàng và bi thương nên số nhân khẩu giảm sút. Trong ngàn năm Bắc thuộc, nhiều quan đô hộ người Trung Quốc họ Lý sang Việt Nam rồi mang quyến thuộc ở lại cộng với người Hoa chạy loạn và sang làm kinh tế nên họ Lý ngày nay vẫn còn là họ có nhiều người, chiếm 0,5% dân số nước ta.

  14-Họ Trịnh  (鄭)

Họ Trịnh là dòng họ thuần Việt, xuất hiện đầu tiên ở Chạ Kẻ Nưa, Nông Cống, nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vùng quê tổ họ Trịnh gồm bốn làng cổ: Kẻ Nưa, Thuỷ Chú, Sóc Sơn, Hổ Bái. Bốn làng này là quê, nơi sinh sống của tất cả các tổ họ Trịnh, từ cụ tổ đầu dòng. Ngày nay đó là năm thôn: Cổ Định, Vân Đô, Giang Đông, Bồng Thượng, Hổ Bái (xưa kia bao gồm cả hai bờ Bắc và Nam sông Kim Bôi, thuộc huyện Vĩnh Lộc và Yên Định, tỉnh Thanh Hóa).

Khi đất chật người đông, các bậc tiền nhân người họ Trịnh đã phải di chuyển đến các vùng xung quanh và các vùng xa hơn để sinh sống.

Như vậy, họ Trịnh có phát tích cùng dân tộc Việt ở nền văn hóa Đông Sơn, núi Đọ từ xa xưa và phát tán đi khắp mọi miền Tổ quốc.

Người đầu tiên họ Trịnh tại Thanh Hóa được ghi trong sử sách là Đại vương Trịnh Ra – một người thông minh mẫn tiệp và nhân hậu, giúp nước giúp dân…  Đại vương vốn là quan lang, làm tù trưởng ở Thiên Vực, nhà ngài ở xứ Long Xá, quê ngoại ở làng Đức Chiêu. Các địa danh này đều thuộc lộ Vĩnh Ninh, ngày nay là huyện Vĩnh Lộc và tập trung vào vùng Sóc Sơn – Biện Thượng (thuộc Thanh Hóa). Khi mất ông được nhiều làng thờ, nhiều triều đại sắc phong. Đền thờ của Trịnh Ra ở xã Vĩnh Hùng, bài vị của ông được đặt giữa các bài vị thờ 12 Chúa Trịnh. Đền đã được Nhà nước ta xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Họ Trịnh là một dòng họ có nhiều tai tiếng trong lịch sử.  Trong giai đoạn nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, một võ tướng nhà Lê là Nguyễn Kim nổi dậy chống lại nhà Mạc, lập lại nhà Lê. Trịnh Kiểm quê ở Hà Trung, Thanh Hóa bèn đến xin gia nhập. Nhờ tài năng, Trịnh Kiểm được Nguyễn Kim tin cậy và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Nǎm 1539, ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực quận công. Năm 1545, Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền, được phong làm Thái sư nắm toàn thể quân đội. Lúc này Trịnh Kiểm lo đối phó với các con của Nguyễn Kim. Sau khi giết con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, người con thứ là Nguyễn Hoàng sợ hãi xin vào trấn giữ vùng Thuận Hóa – Quảng Nam ở phía Nam.

Từ đó, Trịnh Kiểm nắm toàn bộ quyền hành của nhà Lê, xây dựng sự nghiệp cho họ Trịnh. Nguyễn Hoàng ở đất mới, đã xây dựng căn cứ và phát triển thành một thế lực độc lập, hình thành chính quyền của họ Nguyễn. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng lấn át vua Lê và nắm toàn quyền cai trị nhân dân. Sau này khi Trịnh Tạc dẹp xong nhà Mạc, chúa Trịnh bèn tiến hành chiến tranh với chúa Nguyễn đàng trong, đưa đất nước vào thảm cảnh Trịnh Nguyễn phân tranh đầy máu và nước mắt trên 200 năm.

Song các chúa Trịnh cai trị đất nước khá tốt, luôn giữ danh nghĩa cho vua nhà Lê. Tuy nhiên họ là người lựa chọn ra vua, họ thay thế vua và họ cũng có quyền cha truyền con nối để chỉ định nhiều quan chức hàng đầu trong triều đình. Có thể nói họ đứng trên cả vua.

Không giống như các chúa Nguyễn, những người thường gây chiến với Chân Lạp và Xiêm La, các chúa Trịnh giữ quan hệ hòa bình hữu hảo với các nước láng giềng.

Các chúa Trịnh từ Trịnh KiểmTrịnh TùngTrịnh TrángTrịnh TạcTrịnh CănTrịnh Cương đều là những chúa giỏi cai trị. Sau khi chiến tranh Trịnh – Mạc, Trịnh – Nguyễn chấm dứt, Bắc Hà yên ổn thịnh trị. Họ Trịnh cũng còn có chi ngành người Minh Hương từ Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn, tiêu biểu là chi ngành họ Trịnh Hoài Đức.

Là dòng họ bị các vương triều Lê, Nguyễn, Tây Sơn muốn tiêu diệt, khi bị mất ngôi chúa, con cháu họ Trịnh bị ly tán và thay tên đổi họ, nên đến nay người họ Trịnh còn rất ít, chỉ dưới 0,45 % dân số.

Lời bàn:

*Mười lăm dòng họ lớn (kể cả họ Dương) chiếm tuyệt đại bộ phận dân số nước ta, 200 dòng họ còn lại chỉ là số ít.

*Xét trong các dòng họ, không có họ nào là thuần khiết, đều có sự giao thoa với nhau. Đặc biệt đều có các dòng họ cùng tên gọi, từ Trung Nguyên, hoặc vùng Bách Việt sang nước ta làm ăn sinh sống và chạy loạn nhập cùng sinh hoạt trong cộng đồng các dòng họ bản địa.

* Về xuất xứ, và tỷ lệ dân số các dòng họ:

– Tám dòng họ thuần Việt, khởi phát từ nền văn minh Đông Sơn ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh cùng phát tích với người Việt Nam, chiếm 59,65%: Nguyễn (38,4%), Lê (9,5%), Phan (4,5%), Bùi (2,0%), Đỗ (1,4%), Ngô (1,3%), Dương (1,0%), Trịnh (0,45%).

– Hai dòng là họ thuần Việt chưa rõ nơi phát tích, có khả năng vẫn từ gốc Thanh-Nghệ-Tĩnh cùng người Việt cổ, phát tán ra phía Bắc theo các vua Hùng và lan tỏa ra vùng châu thổ sông Hồng chiếm 2,6%: Đặng (2,1%), Lý (0,5%).

– Bốn dòng họ là người gốc Lạc Việt ở đất Bách Việt sang ta, chủ yếu từ Mân Việt Phúc Kiến chiếm 24,3%: Trần (12,1%), Phạm (7,0%), Vũ (3,9 %), Hồ (1,3 %).

– Một dòng họ có gốc Hán từ Trung Nguyên di cư dần xuống phía nam sông Dương Tử và sang Việt Nam: Hoàng (5,1%).

– Hai trăm dòng họ còn lại chiếm 8,35% dân số.

Các con số trên đã chỉ ra rằng người Việt cơ bản là thuần Việt, tuyệt đại bộ phận phát tích từ vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh.

Thanh Hóa vùng đất địa linh nhân kiệt không chỉ là nguồn cội của người Việt mà còn là nơi khởi phát của nhiều triều đại, vua chúa và người đứng đầu nước ta.

Năm Mậu Thìn (248), Lệ Hải bà vương Triệu Thị Trinh đánh quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa. Quân Ngô đã gọi bà là vua.

Tháng 12 năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ quê làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã là một “vua không ngai”

Nhà Tiền Lê (980 – 1009), Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành vốn quê xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Năm Canh Thìn (1400), ngoại thích Hồ Quý Ly lập nhà Hồ với tên nước là Đại Ngu, kinh đô ở Thanh Hóa.

Năm 1428 – 1789 là thời kỳ tồn tại của  nhà Hậu Lê là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Nhà Nguyễn truyền được 13 đời từ vua Gia Long (1802 – 1820) cho đến vua Bảo Đại (1926 – 1945). tổ tiên của ông là Nguyễn Kim ở Hà Trung, Thanh Hóa.

Chúa Trịnh Kiểm xuất thân ở huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim người Gia Miêu, Hà Trung, Thanh Hóa.

Không chỉ là nơi phát Vua, phát Chúa, Ái châu – Thanh Hóa còn nhiều lần đóng vai trò trung tâm của đất nước khi từng giữ vị trí là đất Thần Kinh. Cụ thể là Tây Đô thời Hồ với thành An Tôn, hay Tây Giai (1400-1407).

Khi vua Lê Trang Tông phục quốc bên Ai Lao năm 1533-1543 cũng chọn xứ Thanh làm Nam triều ở Vạn Lại, nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, để Bắc tiến diệt Mạc.

Với người Việt Nam thì Thanh Hóa là nơi phát tích, còn đối với người phương Bắc thì Việt Nam lại là một trong những điểm xuất phát thiên di lên.

Sau khi lên phương Bắc thành người Lạc Việt và Hoa Hạ, chu kỳ II sắc tộc mới lại tràn xuống phía nam vào nước ta đồng hóa dân Việt. Đó là 50 vạn quân Tần gồm cả tù nhân binh lính và dân thường vào thôn tính và ở lại Âu Lạc từ 218 TCN. Sau này, các quan đô hộ nhà Hán lập lị sở Luy Lâu từ năm 111 SCN để thống trị và đồng hóa nước ta trong một nghìn năm Bắc thuộc. Điển hình là sự tàn bạo của nhà Minh sát phu hiếp phụ, đốt sách giết học trò. Sau này khi loạn ly các thời Minh, Thanh, Nguyên, quân đội, dân thường bên Trung Hoa ly khai và chạy loạn sang Việt Nam rất nhiều. Sự giao thoa hòa huyết ở chu kỳ II này đã làm mất hình dạng “giao chỉ” của bàn chân tổ tiên ta (theo cách nói của dân gian). Lai với người phương Bắc, dân tộc Việt da trắng trẻo hơn người Thái, Lào, Campuchia. Phụ nữ Việt Nam thuộc tốp đẹp nhất thế giới. Điều đặc biệt là dân tộc ta vẫn giữ được bản sắc, trái lại người Trung Nguyên  khi sống tại Việt Nam lại bị đồng hóa ngược thành người Việt, trừ nhóm sang sau vẫn là Hoa kiều ở phía nam.

 Theo Giáo sư Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang – Phó Chủ tịch Hội KHLS VN thì “người Việt Nam là một dân tộc đặc biệt. Do sinh cơ lập nghiệp trên một vùng đất giao thoa nhiều luồng văn hóa nên cư dân Việt cũng là sản phẩm của một quá trình hỗn huyết, hòa trộn văn hóa. Đây chính là môi trường tạo nên tính cách, bản sắc Việt Nam. Cũng chính vì địa bàn sinh tụ có vị trí địa chiến lược quan trọng nên người Việt thường xuyên phải đối phó với họa ngoại xâm. Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt này đã truôi rèn nên bản lĩnh và tố chất thông minh, khôn ngoan, kiên cường, bất khuất, bền bỉ, dẻo dai đến kinh hoàng, có óc sáng tạo… của người Việt Nam. Đặc điểm vượt trội của người Việt là khả năng ứng phó linh hoạt với mọi hoàn cảnh. Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã từng làm nên những kỳ tích phi thường, được thế giới biết đến như một dân tộc không dễ bị khuất phục, không chùn bước trước gian nguy.

Tuy nhiên, người Việt cũng có những hạn chế của một cộng đồng cư dân ngàn đời sống trong lũy tre làng, trói mình với nghề trồng lúa. Một cư dân như thế thường không tự đánh giá đúng mình, lúc thì tự kiêu nhưng lúc lại mặc cảm tự ty. Do bị níu kéo bởi truyền thống làng xã với quan niệm “tày đình” (to bằng cái đình) là vĩ đại lắm rồi thì hay dừng bước trước những sáng tạo lớn, không có nhu cầu mở mang hiểu biết, không thích tìm hiểu sâu, dễ thỏa mãn và đặc biệt là bị chi phối nặng nề của chủ nghĩa bình quân, không muốn ai hơn mình …”

Là người Viêt Nam, chúng  ta tự hào về dân tộc nhưng để có thể biến tất cả những gì mình có thành lợi thế cạnh tranh quốc tế thì phải có sự hiểu biết sâu sắc về chính bản thân, phải có trách nhiệm tự hoàn thiện, học hỏi các dân tộc tinh hoa và bớt đi những khiếm khuyết của dân tộc mình.

 

 

 

 

 

 

 

Chương II

HỌ DƯƠNG VIỆT NAM ()

 

I-Phát tích

Đông Sơn – Thanh Hoá và Bắc Sơn – Lạng Sơn là hai nền văn minh nằm trong khu vực nguồn cội của dân tộc Việt Nam. Làng Giàng – Đông Sơn – Thanh Hoá, Bắc Sơn – Lạng Sơn có rất nhiều cư dân thuộc dân tộc Kinh và dân tộc Tày sinh sống. Tại đây có một quần thể người khôn ngoan cho rằng mình là do trời sinh ra, là con trời, theo âm ngữ dân gian trời là Giàng, nên họ nhận đất mình ở là đất Giàng, Làng Giàng, bản thân  mình là con “Giàng”. Sau này, khi người Trung Quốc mang chữ Hán sang phiên âm theo Hán tự, từ “Giàng” phát âm thành “Yáng” có nghĩa là “Dương”. Theo từ điển Thiều Chửu có 15 chữ Dương đồng âm dị nghĩa. Song Tổ tiên ta chọn chữ Dương “Mộc Dịch” (楊) là cây “Dương liễu” (cây phi lao hoặc cây liễu rủ) kiên cường, mềm mại, dẻo dai, hiền lương làm tên dòng họ. Chữ Dương mộc dịch theo triết tự là một bức tranh đẹp. Trong cánh rừng xanh tốt vào buổi sáng, khi mặt trời lên ngang ngọn cây, đàn muông thú trong rừng vui đùa kiếm ăn trong khung cảnh yên bình phồn thực.

Chính hai nền văn minh này là nơi phát tích của họ Dương và một số các dòng họ thuần Việt khác.

Làng Giàng, Dương Xá, Đông Sơn, xưa kia là Tư Phố, lỵ sở của quận Cửu Chân, sau này tách thành châu Hoan (Nghệ An) và châu Ái (Thanh Hóa). Ở nơi đấy có làng Giàng, nơi đấy có Dương Xá, có Thiệu Dương, nơi đấy với những địa danh mang đậm đặc các tên gọi mang tín hiệu chỉ về nguồn cội và nơi cư trú của họ Dương.

Đông Sơn – Thanh Hoá là nền văn minh rực rỡ trong thời đại đồ đồng. Đây là quê hương của trống đồng Ngọc Lũ và tên nỏ đồng cung tiến các đời vua Hùng dựng nước và giữ nước. Linh khí của người Đông Sơn trong đó có người họ Dương kết tinh trong uy lực huyền thoại của nỏ đồng “Cao Lỗ”, trong tiếng trống đồng Ngọc Lũ hào hùng.

Ngay trong “Kỷ Hồng Bàng”, lịch sử đã ghi nhận có nhiều người họ Dương xuất hiện:

– Huyền sử ghi nhận người họ Dương đầu tiên là Lạc hầu Dương Minh Tiết, có mặt và phò tá Hùng Vương thứ nhất. (Phải chăng cụ đã theo Kinh Dương Vương từ Ngàn Hống, Can Lộc, Hà Tĩnh ra Phú Thọ lập nước Văn Lang vào thế kỷ VII TCN). Thời Hùng Vương thứ VI có Lạc tướng Dương Minh Thắng cùng Phù Đổng đánh giặc Ân. Tuy không là sử chính thống và khả năng tên tuổi do người đời sau đặt cho, nhưng chừng đó cũng đủ để nói lên rằng tổ tiên người họ Dương đã có mặt và đồng hành cùng thủy tổ người Việt trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc (theo Dương tộc kỷ sử).

– Sưu tầm trong thần tích, có cụ Dương Viết Điển thời An Dương Vương là Thành hoàng ở Từ Liêm, Hà Nội. Cụ Dương Ngọc thời hai Bà Trưng là Thành hoàng ở Phong Nội, Hải Dương. Cụ Đô Dương ở Nghệ An.

– Ghi nhận trong chính sử sớm nhất là cụ Dương Thị Diễm người Nghệ An, Hoàng hậu Hùng Vương thứ 18 Hùng Duệ Lăng (trang 42 trong Hùng triều chính sử).

– Trải qua nhiều thiên niên kỷ người Lạc Việt lên phương Bắc, tạo thành các nước vùng Bách Việt, mang nhiều dòng họ trong đó có họ Dương, lập nên nền văn minh Lạc Việt, trung tâm là Lương Chử, Hàng Châu, Trung Quốc. Trong đó có   địa danh Quắc Quốc – Hoằng Nông của gia tộc Dương Cảnh Thông đại thần triều Lý, tại Hà Giang, Cao Bằng thuộc đất Nam Cương của Thục Phán khi trước.

Đối chiếu với sử họ còn lưu truyền lại tại cuốn “Đào tộc khoa quan công thần huân nghiệp gia phả chí” (Gia phả họ Đào Đông Trang – Nam Định – hậu duệ Đào Sư Tích, gốc Dương): “truy nguyên ngã tổ, tiên cư tại Thanh Hóa nội trấn” (Truy nguyên tổ của ta đầu tiên ở tại nội thị trấn Thanh Hóa) và qua nghiên cứu khảo sát rất nhiều sách viết về các nhà khoa bảng trước đây đều nói thuỷ tổ ta ở Đông Sơn, Thanh Hoá. Theo cuốn “Lý tộc Dương tộc gia phả” chép: “Thượng tổ khởi nguồn từ đất Phong Châu, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ, sau đến Vũ Ninh, châu Cổ Pháp, phủ Thiên Đức, xứ Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, trấn Long Vĩ, xã Đình Bảng”. Như vậy theo di huấn của người xưa thì tổ tiên của họ Dương có gốc ở Thanh Hóa, sau ra Phú Thọ và về Bắc ninh. Từ đấy họ Dương thiên di đi khắp nơi phủ kín các địa danh của nước ta và vùng nam sông Dương Tử Trung Hoa (dịch từ trang 4 nguyên văn chữ Nho cuốn gia phả Dương Hữu Tự Do chép năm 1590 – Dương Văn San sao lục 1970 – Dương  Văn Đảm biên tập 2015).

II-Sự thiên di của họ Dương

Theo dòng chảy lịch sử, người họ Dương từ nơi phát tích núi Đọ, Đông Sơn – Thanh Hóa, Bắc Sơn – Lạng Sơn, Hoằng Nông – Cao Bằng – Hà Giang đã phát tán ra mọi miền Tổ quốc:

1) Theo cụ Kinh Dương Vương dời đô từ Ngàn Hống, Nghệ Tĩnh về Việt Trì, theo chân trống đồng và tên nỏ đồng Đông Sơn về đất tổ Phong Châu dâng vua Hùng thành tướng tài trong các triều đại 18 đời vua và đi theo bà Hoàng hậu Dương Thị Diễm về miền đất tổ, con cháu họ Dương sinh sôi nảy nở tiến về phía Bắc, từ Bắc Ninh, Phong Châu, Việt Trì tỏa ra các tỉnh Việt Bắc, Đông Tây Bắc.

2) Theo cụ Dương Ngọc hơn 100 gia binh từ tỉnh Đông về Mê Linh đầu quân cho Hai Bà Trưng những năm 40 sau Công nguyên, có người ở lại thành các dòng họ Dương ở Vĩnh Phúc (Thần tích làng Phong Nội, Hải Dương).

3) Theo Dương Thanh, Dương Đình Nghệ chiến đấu và cư ngụ ở khu vực thành Đại La (Tống Bình), theo chân Dương Tam Kha và Ngô Quyền đánh quân Nam Hán ở Bạch Đằng giang, con cháu họ Dương đã ở lại phát tán ra các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh…

 4)– Theo Dương Cảnh Thông từ Việt Bắc phát tán vào vùng châu Phú Lương, vào Nghệ An, Hà Tĩnh và toả ra khắp nơi.

5) Theo Huyền Trân công chúa vào tiếp quản hai châu Ô và Lý năm 1306, người họ Dương vào theo và sinh sống tại miền đất mới là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay.

6-Theo nhà Mạc lên Cao Bằng: Cụ Dương Văn Chấp quê Thanh Hóa là võ tướng, năm 1592 theo nhà Mạc lên Cao Bằng, người họ Dương được vua Mạc ban cho họ là Dương Mạc. Cùng hậu duệ của Dương Cảnh Thông hình thành một dòng họ Dương lớn mạnh ở miền núi phía bắc (tiêu biểu là chi họ của Dương Mạc Thạch – chính trị viên Đội VNTT giải phóng quân của tướng Võ Nguyên Giáp sau này). Ngày nay họ Dương Mạc khai trong lí lịch là người dân tộc Tày nhưng thực chất là người Kinh gốc Thanh Hóa.

7-Theo Nhà Nguyễn

Chúa Nguyễn Hoàng gốc Hà Trung, Thanh Hóa năm 1558 vào trấn giữ Thuận Hóa, năm 1578 dẹp quân Chiêm Thành, năm 1611 dẹp quân Chăm Pa, Chúa Tiên đã đưa người họ Dương và các họ khác theo vào khai phá đất đai sinh sống.     Trong sự nghiệp “mang gươm đi mở cõi”, theo chân các chúa Nguyễn người trăm họ cùng họ Dương, chủ yếu là ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh đã vào phủ kín các địa danh toàn miền Nam.

8- Di dân do thời cuộc

Người họ Dương cùng các họ khác có nhiều cuộc thiên di vào Nam do sinh kế, do thời cuộc và do nhiệm vụ của Tổ quốc giao. Đó là:

– Thời Pháp thuộc, thực dân đã mộ phu phen vào Nam làm trong các đồn điền cao su.

– Năm 1954 giải phóng miền Bắc, nhiều người di cư vào Nam.

– Năm 1955 – 1975, trong công cuộc giải phóng miền Nam, quân dân miền Bắc chi viện nhiều người và của cho cách mạng miền Nam.

– Năm 1975 thống nhất đất nước, nhiều người miền Bắc chuyển công tác hoặc vào Nam làm kinh tế.

 

 III- Đặc trưng của họ Dương

Nghiên cứu về họ Dương Việt Nam, tác giả đã gặp gỡ con cháu họ Dương ở các miền đất nước và có chung một nhận xét: họ Dương có những đặc điểm rất lạ lùng như một định mệnh là:

– Người họ Dương có những nhân tài kiệt xuất nhưng trong quá trình đấu tranh giành đỉnh cao ngôi vị thì thường bị trắc trở: Dương Thi Sách bị Tô Định sát hại, Dương Thanh bị phong kiến Trung Quốc đàn áp, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn làm phản, Dương Tam Kha bị phế truất, Dương Vân Nga làm vợ của hai (ba) đời vua cuối cùng đi tu, Thượng Dương Hoàng hậu bị bức hại, Dương Nhật Lễ chỉ ở ngôi được 01 năm, Dương Văn Minh năm 1963 làm quốc trưởng 2 tháng, năm 1975 làm tổng thống được ba ngày thì trở về dân thường…Dương Hữu Miên “hùm xám đường 5” bạn chiến đấu của Đỗ Mười, hy sinh trong khi đi nghiên cứu chiến trường 7-1954, ngay trước ngày chiến thắng. Dương Chí Dũng đang nắm chức vụ cao lại mắc trọng án, Dương Văn Thành nắm ngành then chốt của nền kinh tế mà mắc lùm xùm khâu hạch toán giá điện…

Đến thời đại ngày nay, các sử gia vẫn theo vết xưa, còn thờ ơ với tài năng và chiến tích lẫy lừng của người họ Dương. Các vị danh tướng anh hùng dân tộc của họ Dương vẫn chưa được tôn vinh xứng đáng và có chỗ đứng trong lịch sử dân tộc. Ngay cả các biển hiệu đường phố, tên tuổi của các cụ Dương Thanh, Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, Dương Như Ngọc, Dương Vân Nga… vẫn còn vắng bóng.

– Theo di ngôn của người xưa là họ Dương có ngôi mộ tổ táng ở thế đất “ngọa hổ tàng long”, nghĩa là con hổ phải nằm giấu mình dưới lốt rồng, vì vậy người họ Dương muốn trụ lại được ở ngôi cao phải nấp bóng họ khác.

Trong thực tế đã diễn ra như vậy: Khi đổi sang họ Trần, thành vương triều hùng mạnh, có hậu duệ đã xưng vương tại Trung Quốc (Trần Hữu Lượng); Đổi sang họ Lý kéo dài được 5 đời vua (từ Dương Hoán), có người làm tổng thống Hàn Quốc (Lý Thừa Vãn); Nấp bóng họ Nguyễn thành một vương triều từ Nguyễn Kim (nếu Dương tộc kỷ sử viết đúng). Giữ nguyên họ Dương thì không trụ được như Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, Dương Văn Minh và nếu Dương Nhật Lễ không có ý chuyển nhà Trần về họ Dương thì chắc sẽ kéo dài được vương triều như trường hợp của Dương Hoán…

Thanh Hóa là cái nôi của họ Dương, đất địa linh nhân kiệt, người xưa đã đúc kết bằng câu thành ngữ là “Thanh Quân, Nghệ Thần”, nghĩa là xứ Thanh nhiều vua chúa, xứ Nghệ chỉ là quân thần thôi. Thế nhưng nhiều tài năng như thế do vướng vào phong thủy mà trong lịch sử không có vương triều thịnh vượng nào của họ Dương, âu cũng là mệnh trời.

– Rất nhiều chi họ Dương có chung đặc điểm là ngành trưởng thường yếu kém về kinh tế và hay phải tha hương, ngành thứ thường thành đạt và thay làm trưởng.

– Có rất nhiều chi họ cứ mỗi đời lại có một người vô tự.

Trong quá khứ, người họ Dương cả nam nữ đều có nhiều người ở các tước vị cao, song ngày nay làm kinh tế có nhiều  người thành đạt nhưng làm chính trị rất hiếm người ở các vị trí Trung ương Đảng và Chính phủ.

Nhưng nhìn về tổng thể, người họ Dương thời nào cũng có nhân tài kiệt xuất đóng góp cho đất nước. Ngày nay, con cháu họ Dương phát huy truyền thống của cha ông, có rất nhiều nhà chính trị tài ba, trí thức học vị cao và doanh nhân thành đạt. Tiêu biểu hiện nay là ông Dương Công Minh – Chủ tịch HDVN, Dương Anh Điền – nguyên Chủ tịch, Bí thư thành phố Hải Phòng, ông Dương Công Thuyên, ông Dương Hồng Tuyển, ông Dương Trung Quốc, ông Dương Huy Linh …

Họ Dương Việt Nam lớn mạnh hùng cường được xác nhận là dòng họ văn hiến của dân tộc, thể hiện trong khối đại đoàn kết của Hội đồng họ Dương Việt Nam. Ngày nay, họ Dương Việt Nam đã kết nối được người họ Dương hầu hết các quận huyện trong 64 tỉnh thành và vươn ra tầm Quốc tế.

Họ Dương Việt Nam xứng đáng được tôn vinh trong thần thái đôi câu đối dâng thờ thánh Ngô Quyền tại đình Dư Hàng- Hải Phòng (ông Dương Anh Dũng sáng tác và cùng họ Dương Dư Hàng Kênh cung tiến):

“Việt Quốc Anh Hùng Thánh Đế Uy Linh Lưu Quốc Sử

Dương Gia Hiếu Nghĩa Hiền Nhân Tuấn Kiệt Kế Gia Phong”

 IV-Thống kê ban đầu nguồn gốc thực tế của một số chi họ Dương tại các địa phương hiện nay

1- Như phần phát tích đã viết ở trên: “Dòng tộc ta, tổ tiên trước đây ở Thanh Hoá nội trấn…và thuỷ tổ ta ở Đông Sơn, Thanh Hoá”.

2-Theo cụ Dương Sạng (1923-1987), tổ tiên của Dương Rê ở Quảng Ngãi: “Họ Dương là một họ lớn lập cước trên một vùng đất thiên hiểm thuộc Thanh Hoá đến Hoành Sơn ngày nay”.
3-Theo gia phả của họ Dương Văn (Quảng Xương- Thanh Hoá): xét từ đời thứ tư về trước, gia phả thất truyền, nghe di ngôn của tổ phụ: Họ ta khởi thuỷ tại phủ Tĩnh Gia, huyện Ngọc Sơn, Thanh Hoá.

4-Lần theo phả họ Dương một số tỉnh miền Bắc và miền Trung thì thấy các chi nhánh họ đều có mối quan hệ với nhau. Phổ ký họ Dương xã Lạc Đạo, tỉnh Bắc Ninh do cụ Dương Chấp Hy, cháu 11 đời của Trạng nguyên Dương Phúc Tư chép:

“Trải bao thế kỷ họ Dương nhà

Gốc từ Nghệ An tiếp đến ta

Phát tích Trạng nguyên triều Mạc cuối

Nối đời tiến sĩ Hậu Lê qua”…

Như vậy, vùng Nghệ An là quê gốc của cụ Trạng nguyên Dương Phúc Tư. (Theo gia phả của dòng họ thì Thủy tổ là cụ  Dương Công Phùng có thân phụ là Dương Đình Phú người họ Dương từ quận Hoằng Nông sang và mẹ là người bản địa). Tổ họ có ba cụ. Một ở Thạch Hà, một ra Can Lộc, một ra Lạc Đạo, thành các chi họ có nhiều văn nhân hiền tài ngày nay con cháu đều thành đạt.

5-Ông Dương Công Ngột HDMN cho biết gia đình ông từ Thái Bình vào Sài Gòn đã 50 năm. Theo các cụ truyền lại, gốc họ Dương của ông ở miền Trung Thanh Hóa ra Thái Bình từ lâu đời.

6-Họ Dương ở Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng có nguồn gốc là cụ tổ Dương Phúc An và các tiên tổ trong Thanh Hóa ra từ nhiều trăm năm trước.

7-Theo Dương Phương Anh, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi: Các cụ tổ Dương Ngung, Dương Đức từ các tỉnh phía bắc có thể là Hoằng Hoá, Thanh Hoá hoặc Nghệ An vào khoảng năm 1570 theo chân chúa Nguyễn Hoàng vào phương Nam.

8-Họ Dương Nhơn Mỹ, An Thạnh, Quy Nhơn, Bình Định: Thuỷ tổ của dòng họ Dương xuất phát từ Nghệ An, sau đó di cư bằng thuyền lớn từ Nghệ An vào đảo Hải Minh (Quy Nhơn).

9-Theo ông Dương Công Đức – Phó Chủ tịch Họ Dương Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng họ Dương Tây Ninh thì nguồn gốc họ Dương Tây Ninh cũng từ miền Trung khu Bốn cũ vào khoảng 200 năm trước.

10-Họ Dương của Đại tướng Dương Văn Minh: có nguồn gốc từ miền Trung khu Bốn cũ.

11-Theo ông Dương Phương Toại họ Dương Quảng Yên:
(cùng ngành với ông Dương Đào Hồng Tuyển)

“Họ Dương Quảng Yên xuất xứ từ Thanh Hóa ra Thăng Long. Sau đó vào khoảng năm 1434, vua Lê Thái Tông mở rộng kinh thành hạ chiếu cho dân đi mở đất khai hoang. 17 vị Tiên Công, trong đó có người họ Dương làm thành một tập đoàn xuôi thuyền qua sông Cái, tức sông Hồng ra đến cửa biển sông Bạch Đằng thì trong một đêm mưa nghe có tiếng ếch kêu. Họ đoán biết theo kinh nghiệm dân châu thổ sông Hồng có ếch sống nghĩa là có nước ngọt. Dừng thuyền lội bãi lên một gò cao thấy một hố nước, nếm thấy ngọt và có ếch trong bụi rậm nhẩy ra. Như vậy là có sự sống nơi cửa biển bao la. Họ đã cùng nhau dừng lại cắm sào quyết định mở đất khai thác vùng bãi triều ngập mặn ở đây. Họ đã lập nên quê hương vùng Hà Nam phía nam trấn lỵ Quảng Yên thuộc phủ Hải Đông, nay là tỉnh Quảng Ninh. Họ Dương Quảng Yên hiện có 5 chi nhà thờ đều tập trung ở xã Cẩm La, bên cạnh Miếu Tiên Công thờ 17 vị Tiên Công. Trong đó có tiên công Họ Dương.”

12- Ông Dương Thế Minh – nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Họ Dương Việt Nam tại cuộc họp về nghiên cứu sử họ có nói họ Dương của ông có gốc tích từ làng Giàng, Thanh Hóa chuyển vào miền Trung cách nay hơn 300 năm mới về châu Cổ Pháp, Bắc Ninh sinh sống thành một chi họ.

13-Họ Dương ở Nam Định ngoài chi ngành do cụ tổ Dương Công Đình, Dương Công Tảo ở Bắc Ninh được vua Lê Thái Tổ cấp đất vào sinh sống thành dòng họ Dương, còn có các dòng họ Dương từ Thanh Hóa ra, dòng họ Dương là hậu duệ của cụ Dương Tam Kha do con thứ hai là Dương Tiên Du cùng 4 em ở lại Tùng Khê (Dương Tam Kha và con cả Dương Đại Thiện cùng 4 em về làng Giàng, Thanh Hóa). Do vậy Nam Định thành vùng có rất nhiều cư dân họ Dương như hiện nay. Chi họ cụ Dương Tam Kha đến từ thế kỷ thứ X là Dương nhất. Chi họ anh em cụ Dương Công Đình, Dương Công Tảo đến từ thế kỷ XV là Dương nhì.

14-Theo ông Dương Hồng Long (NHNN VN) thuộc họ Dương Vân Đình là chắt của cụ Dương Khuê: Họ Dương ở Vân Đình, Hà Nội có gốc tích từ  Quỳnh Lưu, Nghệ An. (Cùng chung cụ tổ với Trạng nguyên Dương Phúc Tư là cụ Dương Công Phùng).

15-Theo bà Đào Kim Thanh đại diện họ Đào ngũ chi (gốc họ Dương) phát biểu trong lễ hội mùa xuân họ Dương Việt Nam ngày 26-2-2017 tại Đà Nẵng: Cụ Đào Dương Bật sinh sống tại Thanh Hóa, cụ Đào Sư Tích có bài thơ chỉ ra gốc tổ họ ở Dương Xá, tức làng Giàng: “Dương Xá thiên thu trí mộ phần, Gia cư sinh tụ khởi phi chân, Cổ nhân ngự tặc nhưng tồn miếu, Quán chi hồi chiêm lại hữu thần”. Năm 2015, hàng trăm con cháu ở Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hải Phòng, Hải Dương, Thanh Hóa, Bình Định đã về Thanh Hóa theo đường “vấn tổ tìm tông”.

16-Ông Dương Văn Út chánh tế họ Dương Trà Vinh cho biết dòng họ Dương của ông gốc Bắc từ miền Trung vào đất Bến Tre đầu thế kỷ 19.

17- Ông Dương Văn Tương- Chủ tịch họ Dương Đắc Lắc cho biết họ Dương của ông từ Thanh Hóa vào Quảng Ngãi rồi lên Đắc Lắc.

18-Theo ông Dương Hiền Mỹ- trưởng họ Dương Lạc Thổ  cho biết các cụ tổ dòng họ truyền lại cho con cháu là họ Dương Lạc Thổ (Bắc Ninh) có nguồn gốc từ Thanh Hóa ra lập nghiệp từ nhiều trăm năm trước.

19-Theo Dương Thái Sự Bắc Ninh: Cụ tổ của họ Dương ở làng Bất Phí, Nhân Hòa, Quế Võ, Bắc Ninh là cụ Dương Công Diễn về đây gần 9 đời. Nghe các cụ tổ nói lại là cụ từ Quảng Xương, Thanh Hóa về lập nghiệp.

Hiện cụ Dương Công Bẩy là trưởng họ, nay ngoài 80 tuổi đang giữ phả hệ, cụ là bác họ của ông Dương Công Minh- Chủ tịch Hội đồng họ Dương Việt Nam.

20-Theo ông Dương Văn Chiến (Chiến chợ): chi họ Dương của ông tại làng Cung Kiệm, Bắc Ninh từ Thanh Hóa ra Nam Định, sau về Bắc Ninh đến nay được 7 đời.

21-Họ Dương Cao Bằng: có nguồn gốc từ cụ Dương Chấp Nhất (Dương Văn Chấp) quê hương Ái châu, Thanh Hóa xưa là tướng giỏi, được vua của nhà Mạc ban cho tên đệm là Mạc thành dòng họ Dương Mạc. Năm 1592, cụ mang gia quyến theo nhà Mạc lên Cao Bằng thành dòng họ Dương lớn ở Cao Bằng. (Dòng họ này là người Kinh, song sống lâu đời ở vùng biên viễn với các dân tộc nên con cháu ngày nay ngộ nhận mình là người Tày-DAD).

22- Họ Dương Đà Nẵng, Quảng Nam: Theo ông Dương Văn con trai cụ Dương Đình Tú- Phó Chủ tịch HĐDTHDVN, phụ trách miền Trung Tây Nguyên có cụ tổ là Dương Công ở Thanh Hoá vào lập nghiệp từ thế kỷ thứ 19.

23- Họ Dương Quảng Châu, Hưng Yên có xuất xứ từ Thanh Hóa ra cách nay 250 năm.

24-Theo ông Dương Ngọc Tản, họ Dương Thái Bình có cụ tổ là quan võ gốc ở Nga Sơn, Thanh Hóa đánh giặc và lập ấp ở cửa biển Thái Bình đến nay được hơn 300 năm.

25-Theo Dương Hữu Nghĩa – Trưởng họ Dương huyện đảo Lý Sơn: Chi họ Dương của ông Nghĩa nhiều trăm năm trước có gốc tích từ Nghệ An, Thanh Hóa vào Huế, vào Quảng Ngãi, cuối cùng là đến Lý Sơn – An Hải, ở Cù lao Ré vào năm 1603. Một chi nữa năm 1767 di chuyển vào miền Tây Nam Bộ.

26-Theo ông Dương Viết Xuân, họ Dương Quảng Ninh, Quảng Bình (cùng chi ngành với ông Dương Quang Thành- Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN và ông Dương Viết Khớ- Chủ tịch HĐHD Quảng Bình): Chi họ Dương ở Quảng Xá, Tân Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình có 7 nhánh theo gia phả ghi nguồn gốc từ làng Giàng, Thanh Hóa vào định cư từ nhiều trăm năm trước.

27-Theo Dương Hoàng Thái Bình: Chi họ Dương ở Thụy Hồng, Thái Thụy, Thái Bình tổ tiên có gốc từ Thanh Hóa ra nhiều trăm năm trước.

28-Theo Dương Nõn làng Hà Dương, Cộng Hiền, Vĩnh Bảo, Hải Phòng (hậu duệ của Tiến sĩ Dương Đức Nhan): Tương truyền cụ Thủy tổ từ vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh di cư ra vùng này khai phá đất đai, lập làng xóm và sinh cơ lập nghiệp từ khoảng năm 1390 đến năm 1400.

Theo gia phả tục biên họ Dương Đức, chép là: Khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, thế giặc đang mạnh, nhà Trần đã dời đô về đóng tại Lưu Đồn (Thái Thụy – Thái Bình). Trong số quan quân làm nhiệm vụ bảo vệ cung và nhà vua có người họ Dương. Đó là các tướng giỏi: Nguyễn Liêu Công, Dương Mãnh Đại và Bùi Công Bình. Chiến thắng quân Nguyên, vua Trần về Thăng Long đã ban phát bổng lộc đất đai cho các tướng có công và binh lính ở lại và mang người nhà đến vùng bãi bồi ven biển Thái Thụy và ven sông Hóa. Cụ thủy tổ họ Dương Đức là quyến thuộc của tướng Dương Mãnh Đại gốc Thanh Hóa cũng nằm trong số đó.

29-Theo họ Dương Minh Đức, Tràng Kênh, Hải Phòng: Thị trấn Minh Đức ngày nay được hình thành từ gần 500 năm trước. Theo di huấn của tổ tiên, dòng họ Dương Tràng Kênh ngày nay có nguồn gốc thiên di từ miền quê Thanh Hóa, Nghệ An đến thôn Kiều, xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sau về Tràng Kênh là cụ tổ Dương Phúc Cao. Cụ đến đây cùng hàng chục dòng họ khác lập nên thị trấn Minh Đức ngày nay. Dòng họ Dương ở Minh Đức được 13 đời.

30- Họ Dương xã Quang Trung, An Lão, Hải Phòng: Theo tổ tiên truyền lại, cụ tổ tên là Dương Đại Lang từ Thanh Hóa ra lập nghiệp đã được 600 năm.

Như các tư liệu trên, ta tin là nếu thống kê đầy đủ sẽ có rất nhiều chi họ Dương khác nữa cũng có chung nguồn cội từ miền Thanh-Nghệ thiên di ra nhiều địa danh trên cả nước. Đây là một minh chứng thuyết phục cho kết luận Họ Dương Việt Nam có phát tích từ Thanh-Nghệ-Tĩnh.

V-Các dòng họ Dương Việt Nam tiêu biểu

1-Dòng họ Dương thuần Việt()  ở Nghệ Tĩnh.

– Đời Hùng Vương thứ nhất: Người họ Dương theo cụ Kinh Dương Vương rời đô từ Ngàn Hống, Can Lộc, Hà Tĩnh ra Việt Trì, Phú Thọ lập Đế đô (Trong đó có thể có chi ngành của cụ Dương Minh Tiết).

– Đời Hùng Vương 18, cụ bà Dương Thị Diễm người phường Đức Quang, Nghệ An là hoàng hậu vua Hùng thứ 18 Hùng Duệ Lăng. Là nhạc mẫu của hai thánh tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam là Chử Đồng Tử và Tản Viên sơn thánh.

– Năm 40 sau Công nguyên có cụ Đô Dương người Nghệ An theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa.

– Thế kỷ thứ 7 ghi nhận tài liệu lưu truyền trong dân gian và các dòng họ Dương ở miền Thanh-Nghệ, gia tộc Dương Thanh người Hoan Ái ghi nhận được là:

* Đời thứ nhất Dương Bản.

* Đời thứ hai Dương Nguyên.

* Đời thứ ba Dương Lưu.

* Đời thứ tư Dương Truyền.

* Đời thứ năm Dương Vạn. (Tham gia khởi nghĩa của Bố cái Đại Vương).

* Đời thứ sáu Dương Thế. Cụ Dương Thế sinh nhiều con trai, con gái.

Con trưởng cụ Dương Thế là Dương Mạnh, giỏi võ nghệ nhưng bị tàn tật trong cuộc ẩu đả để bảo vệ đất đai.

Con thứ hai cụ Dương Thế là Dương Thanh (771- sau năm 828) được ăn học thành tài, sau này là anh hùng dân tộc khởi nghĩa năm 819. Cụ có hai con trai đều là võ tướng: Con trưởng là Dương Chí Liệt. Con thứ là Dương Chí Trinh.

Con thứ ba cụ Dương Thế là Dương Toàn (787-856) ra Bắc Ninh lập nghiệp: Con Dương Toàn là Dương Đình Từ. Con Dương Đình Từ là Dương Đình Thiện. Con Dương Đình Thiện là Dương Đình Nghệ (874-937). Con Dương Đình Nghệ là Dương Như Ngọc và Dương Tam Kha (895-980). Con Dương Tam Kha có 19 người, trong đó con trưởng là Dương Đại Thiện cùng 4 em về lại làng Giàng- Đông Sơn- Thanh Hóa là đất tổ sinh cơ lập nghiệp cùng với người họ Dương ở quê hương làm nên dòng họ Dương chiếm tuyệt đại bộ phận ở địa phương. Nhóm thứ hai do con thứ là Dương Tiên Du và 4 em ở lại Tùng Khê, đứng đầu chi họ Dương ở Tùng Khê. Hậu duệ của ông trở thành tổ của các chi ngành họ Dương (Dương nhất-Dương cả)  hùng mạnh ở Nam Định và Thanh Hóa.

2- Dòng họ Dương thuần Việt () tại Bắc Sơn, Lạng Sơn.

Tại Bắc Sơn, Lạng Sơn có rất nhiều cư dân họ Dương là người Tày sinh sống. Đây là người Lạc Việt từ Thanh-Nghệ thiên di lên cư trú thăng hoa làm nên nền văn minh Bắc Sơn, lấy họ Giàng như ở Thanh Nghệ. Sau này nhận là họ Dương cùng mang chiết tự là Dương mộc dịch (楊).

Theo khảo sát mới đây của Duong Cao Thường (Chủ tịch họ Dương Quảng Ninh): Ở Bắc Sơn, Lạng Sơn, điển hình có xã Quỳnh Sơn hội tụ 5 cái nhất:

– Các nhà 100% quay hướng Nam

– 100% nhà sàn

– 100% không theo đạo nào, chỉ thờ cúng tổ tiên

– 100% dân tộc Tày

– 100% đều là họ Dương

Phải chăng để nhớ về nguồn cội xưa kia từ Thanh-Nghệ lên mà dân cư bản xã đã làm nhà quay về hướng Nam để nhìn về quê gốc.

3-Dòng họ Dương()  gốc Hoằng Nông

3.1 Họ Dương ở Hoằng Nông, Quắc Quốc thuộc Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên.

Dương Cảnh Thông là người Tày gốc Lạc Việt (khả năng cao ông là hậu duệ của Dương Ác- vua nước Dương Ngô – Ngô Việt tồn tại từ 905-937 SCN). Tổ tiên Dương Cảnh Thông có gốc ở vùng Thổ Châu – Thái Bình thuộc nước Âu Lạc trên phần đất Nam Cương (Tây Âu) của Thục Phán trước khi thôn tính Văn Lang, Lạc Việt.

Ngày nay, vùng Thổ Châu, Thái Bình thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây gần biên giới phía bắc nước ta. Tuy nhiên, gia tộc Dương Cảnh Thông lại sống trên phần đất Âu Lạc, nay thuộc biên giới bắc Việt Nam vào khoảng từ thế kỷ thứ X, tính đến Dương Cảnh Thông là 5 đời đều là đại thần của nhà Lý.

Phải chăng để nhớ về gốc tích, ông đã lập ra Quắc Quốc trên đất ông cai quản, mảnh đất ấy ông cũng đặt là Hoằng Nông quận ở vùng Hạ Lang, Cao Bằng; Hoằng Nông hương vùng Vị Xuyên, Hà Giang. (Văn bia của chùa xây dựng tại đây, thuộc niên đại nhà Trần năm 1367 đã nhắc tên ông là người sáng  lập ra Quắc Quốc).

Dương Cảnh Thông chính là người lính biên phòng đầu tiên của Tổ quốc ta. Vai trò của ông đến năm 1124 được chuyển giao cho một người họ Dương Khác là Dương Tự Hưng.

Kế tiếp sau Dương Tự Hưng là Dương Tự Minh. Dương Tự Minh người Tày là con quan Châu mục Dương Tự Hưng vùng Phú Lương, Thái Nguyên (ĐVSKTT). Cụ Dương Tự Minh sinh khoảng năm 1100. Năm ngoài 20 tuổi, cụ là một thủ lĩnh châu Phú Lương đã tổ chức dân binh đánh tan bọn phỉ, năm 1127. Vua Lý nhân Tông mời cụ về triều ban thưởng và gả con gái là công chúa Diên Bình cho. Khi ấy cụ khoảng 27 tuổi. Vua phong cho làm phò mã lang và ban chức Châu mục vùng Phú Lương (BKTT).

Họ Dương gốc Hoằng Nông của Dương Cảnh Thông đã phát tán thiên di ra khắp mọi miền Tổ quốc thành các chi họ lớn mạnh đóng góp nhiều hiền tài cho đất nước.

3.2  Họ Dương Nghệ An-Hà Tĩnh gốc Hoằng Nông:

Theo tài liệu sưu tầm của Dương Ngọc Kỳ trong bài ghi chép “Tìm về nguồn cội của họ Dương” vào năm 1993 viết về gốc tích họ Dương của ông ở Nghệ An, Hà Tĩnh.

Về họ Dương Quỳnh Đôi, ông Kỳ có nhắc đến Quan tán lý Dương Tùng Hiên ở Quỳnh Đôi, Nghệ An về già đã dặn dò con cháu là “họ Dương làng ta chưa rõ về xuất xứ và xuất hiện, chỉ thấy bên Trung Quốc đời nhà Hán có ông Bá Khởi ở Quảng Tây, ông Dương Châu ở quận Hoằng Nông, ông Kế Nghiệp ở Thái Nguyên…”(các ông Bá Khởi, Dương Châu, Kế Nghiệp là người mang họ Dương – DAD).

Theo gia phả họ Dương ở xã Thạch Khê, Thạch Hà, Hà Tĩnh: Tiên tổ là ông Bắc quốc sang Việt Nam đi sứ, gặp loạn lạc ở lại lấy vợ Việt. Theo Dương Lê Nhuận cháu đời thứ 13 của cụ Dương Phúc Tư thì ông Bắc quốc là Tướng công Dương Đình Phú sinh ra hai người con, con trưởng theo cha đi đến vùng quê khác, còn em là Dương Công Phùng ở lại với mẹ ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh, hiện mộ thân mẫu Dương Công Phùng ở làng Thượng Lộc.

Cụ Dương Công Phùng sinh được ba người con trai, trưởng thành chia làm ba chi:

– Chi Giáp ở Thạch Hà (Tri huyện Dương Bân).

– Chi Ất dời đến xã Bạt Trạc- Can Lộc- Hà Tĩnh.

– Chi Bính dời đến xã Lạc Đạo- Gia Lâm- Bắc Ninh.

Cụ Dương Bân sinh ra Tả thị lang Mỹ thọ hầu Dương Công Trực ở Thái Nguyên.

Chi Bính ở Lạc Đạo gồm các đời là: Minh Tính, Chân Tính, Hoàn Nguyên, Nghĩa Yêm, tiếp đến là cụ Trạng nguyên Dương Phúc Tư (1505-1563). Cụ Trạng là đời thứ 5 thì suy ra cụ Minh Tính sinh khoảng năm 1400 (phù hợp với thời gian cụ Hoàn Nguyên chết năm 1470).

Từ đó suy ra cụ Dương Đình Phú- (bố cụ Dương Công Phùng, ông nội cụ Minh Tính) sinh khoảng năm 1350 và từ Hoằng Nông đến Hà Tĩnh sau 1370.

Ta biết thế kỷ thứ 9 SCN, nước Dương Ngô được Dương Ác thành lập ở Quảng Tây; thế kỷ 10 SCN, Dương Cảnh Thông lập Quắc Quốc, Hoằng Nông quận, Hoằng Nông hương ở vùng Hà Giang- Cao Bằng và người họ Dương đã có mặt cư trú ở khắp phủ Phú Lương.

Hậu duệ của Dương Cảnh Thông về ở vùng Thái Nguyên rồi tiến vào Nghệ An, Hà Tĩnh sinh sống, trong đó có cụ Dương Đình Phú – thân phụ cụ Dương Công Phùng gọi cụ Phú là người Bắc quốc, nghĩa là người sống ở phía bắc thuộc quận Hoằng Nông ở vùng biên giới phía bắc nước ta là Hà Giang, Cao Bằng, thuộc nước Quắc Quốc do Dương Cảnh Thông sáng lập. (Có tư liệu cụ Phú là Tiến sỹ nước Ngô Việt, đi xứ Việt Nam gặp loạn lạc không về nước, cụ ở lại Việt Nam lấy vợ Việt. Cụ để con thứ là Dương Công Phùng ở lại Hà Tĩnh và dẫn người con lớn về Bắc quốc hay đi đâu không rõ). Hậu duệ của cụ Dương Đình Phú phát sinh từ Nghệ Tĩnh sinh sống và hình thành dòng họ Dương tài hoa của cụ Dương Công Phùng, có các đời sau là cụ Dương Phúc Tư (Lạc Đạo) và nhiều con cháu dòng khoa bảng trâm anh thế phiệt là hiền tài của nước ta, trong đó có chi ngành tại Vân Đình của các cụ Dương Khuê, Dương Lâm… (điều này khớp với tư liệu trong bài sưu tầm của ông Dương Ngọc Kỳ).

Như vậy qua tư liệu về họ Dương ở Hoằng Nông, Cao Bằng, Hà Giang và họ Dương Nghệ Tĩnh, ta đã tìm thấy sợi dây liên hệ giữa gia tộc Dương Cảnh Thông và họ Dương của cụ Dương Công Phùng, Thanh Nghệ.

Đây cũng là chìa khóa để xác định nguồn gốc “Hoằng Nông” của rất nhiều chi họ Dương của các địa phương. Chúng ta dứt khoát bỏ qua thiên kiến từ ngàn năm nay là họ Dương Hoằng Nông có gốc tích từ Trung Quốc của người Hán Trung Nguyên.

  4- Các dòng họ Dương()  ở Kinh Bắc

Họ Dương Kinh Bắc theo truyền thuyết là hậu duệ của cụ Dương Minh Thắng từ đời vua Hùng thứ 6 TCN ở Phú Thọ đến đánh giặc Ân rồi ở lại. Một nhánh khác theo gia phả của chi ngành cụ Dương Thanh ở Thanh Nghệ lưu truyền trong dân gian: em cụ Dương Thanh là Dương Toàn từ Thanh Hóa ra Bắc Ninh lập nghiệp khoảng thế kỷ thứ 7 SCN. Ngành họ này duy trì đến đời cụ Thái sư Quốc công triều Lý Dương Đình Tiến, người chép Dương tộc kỷ sử năm 1058.

Con cụ Dương Đình Tiến là Dương Công Khanh và Dương Thị Phương Hoài. (Có sự tồn nghi là cụ Dương Hoán con cụ Dương Công Khanh và các đời vua sau đó mang họ Dương hoặc họ Lý?).

Tiếp theo là câu chuyện Dương tộc kỷ sử cho họ Lý có gốc Dương và Trần Thủ Độ tàn sát hai họ Lý Dương như sau:

Thừa tướng Lý Long Cao (Con trưởng cụ Lý Long Xưởng, cháu nội vua Lý Anh Tông, chắt nội cụ Lý Thần Tông Dương Hoán) cả hai ông bà và con dâu (vợ Lý Long Khánh) bị Trần Thủ Độ bỏ vào hầm chết. Lý Long Khánh có bốn con lạc mất hai, còn lại ba bố con chạy trốn sang xã Trịnh Xá, khu Nguyễn Xá, cải tên là Nguyễn Phúc Khánh. Sau ông Thủ Độ chết mới hồi cải về là Dương Phúc Khánh, nay thuộc thôn Trịnh Nguyễn, xã Châu Khê, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh” (Dương tộc kỷ sử).

Dòng dõi của Dương Phúc Khánh thành chi ngành họ Dương đông đúc và hùng mạnh tại Bắc Ninh. Ngày nay, nhiều người nhận là hậu duệ nhiều đời của cụ Dương Đình Tiến.

Dòng họ Dương tại Kinh Bắc còn có những ngành là hậu duệ của Dương Cảnh Thông từ quận Hoằng Nông, từ châu Phú Lương đến, họ Dương di cư từ Thanh Hóa ra từ các năm sau này (như họ Dương Bất Phí, Lạc Thổ, Cổ Pháp, Cung Kiệm…) không loại trừ có họ Dương của các quan đô hộ thuộc phong kiến phương Bắc sang ta đóng lỵ sở tại Luy Lâu và ở lại sinh cơ lập nghiệp.

Có một nhánh họ Dương Bắc Ninh do Dương Công Đình và Dương Công Tảo được Lê Lợi cấp đất ở vùng Ác Nha – Hải Khẩu- Nam Định thành dòng Dương Nhì (dòng Dương Nhất là của hậu duệ Dương Tam Kha).

Tuy không là nơi phát tích (như có người ngộ nhận), và lại bị tàn sát thời Trần Thủ Độ, người họ Dương phiêu bạt hết, nhưng là đất địa linh nhân kiệt, đất lành chim đậu nên Bắc Ninh, Kinh Bắc rất đông cư dân họ Dương tìm về và các dòng họ khác đến sinh sống (theo Khổng Đức Thiêm, ở Bắc Ninh, họ Dương so với các họ khác có số dân xếp thứ 11).

5-Các dòng họ Dương mộc dịch () khác

5.1-Dòng họ Dương gốc Trung Quốc

Dòng họ Dương này là người Hán từ Trung nguyên và người Choang  – người dân tộc ở nam sông Dương Tử xuống nước ta theo các quan đô hộ, là tù binh trong các cuộc chiến tranh, là người tỵ nạn hoặc di cư sang làm ăn sinh sống. Số đông đến từ xa xưa đã đồng hóa thành người Việt, còn số ít mới sang ta từ những năm sau này chưa bị đồng hóa vẫn gọi là Hoa kiều, đa phần ở miền Nam.

Đặc biệt trong đó là đời nhà Tấn thế kỷ thứ III đến đời nhà Nguyên thế kỷ thứ XIII có các vị Dương Tắc, Dương Bình, Dương Phiến, Dương Tấn, Dương Hiệu Phố, được phong kiến Trung Quốc cử sang làm Thứ sử, Thái thú, Đô đốc quận Giao Chỉ, Giao Châu đã mang quyến thuộc sang sinh sống và ở lại. Năm 1679, tướng nhà Minh là Dương Ngạn Định và Trần Thắng Tài đem 3000 gia quyến và 50 chiến thuyền không thần phục nhà Thanh đã sang ta, được chúa Nguyễn cho khai phá đất đai ở vùng Biên Hoà và Mỹ Tho.

5.2- Dòng họ Dương người thiểu số miền Nam Trung bộ

Khi chiếm được miền Nam Trung bộ, dân tộc thiểu số ở đây chưa có họ được Chúa Nguyễn ban họ:

*Năm 1837, vua Minh Mạng ban họ Dương cho dân thiểu số Tây Ninh.

*Năm 1838, vua Minh Mạng ban họ Dương cho thổ dân huyện Long Khánh, tỉnh Biên Hoà.

5.3- Họ Dương do các dòng họ khác đổi sang:

Từ những năm 923 đã có 3000 nghĩa sĩ là con nuôi của cụ Dương Đình Nghệ, trong số đó có thể có nhiều người từ họ Khúc và các dòng họ khác đổi sang họ Dương. Ở Vĩnh Tuy, Hà Nội có nhiều người họ Dương gốc từ họ Chế người Chăm là tù binh ra Hà Nội đắp đê. Ngưỡng mộ cai tù họ Dương đức độ đã chuyển sang họ Dương. Ông Dương Phúc Hiệu đi kết nối đã phát hiện được, hiện Vĩnh Tuy có 6 chi họ trên 2000 hộ đang sinh hoạt trong cộng đồng họ Dương Việt Nam.

6- Họ Dương không có triết tự viết theo chữ nho là chữ Dương Mộc dịch ():

6.1- Họ Dương người Hơ Mông (dân tộc Mèo) viết tên họ có triết tự chữ nho nghĩa là con dê (). (chính dòng họ này không muốn sinh hoạt trong HDVN khi dùng chũ Dương mộc dịch. Mặc dù họ có số người rất ít song Thường trực họ Dương Việt nam đã bỏ chữ Dương mộc dịch tổ tiên đã dùng vài nghìn năm nay sang chữ Dương quốc ngữ để được lòng sắc tộc này).

6.2- Họ Dương mang triết tự chữ nho là mặt trời, là âm dương (). Trong chính sử ghi tên họ của Dương Hoán – Lý Thần Tông.

 

 

VI- Họ Dương – Nhân vật lịch sử và sự kiện

A-Danh sách các tiến sỹ họ Dương thời trước cách mạng.

1- Danh sách các vị Tiến sĩ họ Dương trong các khoa thi văn

TT Triều đại Họ tên Quê quán Vị thứ Năm đỗ
1 Dương Chính Hà Nội Đệ nhị giáp khoa thi Thái học sinh Chưa rõ
2 Lê Sơ Dương Chấp Trung

 

Hà Tĩnh

 

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) 1448

 

3 Dương Tông Hải

 

Hải Phòng

 

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) 1453

 

4 Dương Tử Do Bắc Ninh Không rõ 1458
5 Dương Văn Đán

 

Hà Nội

 

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) 1463

 

6 Dương Đức Nhan Hải Phòng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1463
7 Dương Như Châu

 

Bắc Ninh

 

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) 1466

 

8 Dương Bính Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1478
9 Dương Tịnh Vĩnh Phúc Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1478
10 Dương Bang Bản

 

Hà Nam

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1484

 

11 Dương Trực Nguyên

 

Hà Nội

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1490

 

12 Dương Phấn Phi

 

Phú Thọ

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1499

 

13 Dương Đức Kỳ Hà Nam Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1499
14 Dương Đức Giản

 

Hà Nội

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1505

 

15 Dương Khải Bắc Ninh Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1511
16 Mạc

 

Dương Hạng

 

Hà Nội

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1532

 

17 Dương Mậu Bắc Ninh Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1535
18 Dương Xân Nam Định Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1535
19 Dương Duy Nhất Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1538
20 Dương Ức Thái Nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1541
21 Dương Bạt Tụy Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1544
22 Dương Phúc Tư

 

Hưng Yên

 

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất  danh (Trạng nguyên) 1547

 

23 Dương Trí Tri

 

Hà Tĩnh

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1547

 

24 Dương Đôn Cương

 

Vĩnh Phúc

 

Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
1547

 

25 Dương Văn An Quảng Bình Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1547
26 Dương Thận Huy Bắc Giang Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1550
27 Dương Luân Hải Dương Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1589
28 Dương Tông Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1589
29 Lê trung hưng Dương Trí Dụng Hà Tĩnh

 

 

Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân 1565

 

 

30 Dương Trí Trạch Hà Tĩnh Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1619
31 Dương Cảo

 

Hà Nội

 

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) 1628

 

32 Dương Thuần Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1628
33 Dương Hoàng Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1637
34 Dương Hạo Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1640
35 Dương Công Độ Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1683
36 Dương Lệ Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1712
37 Dương Bật Trạc Nam Định Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1715
38 Dương Quán Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1718
39 Dương Công Chú Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1731
40 Dương Trọng Khiêm Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1754
41 Dương Sử Hưng Yên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1754
42 Dương Nguyễn Huống Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1772
43 Nguyễn Dương Đăng Dụng Hà Nội Phó bảng 1828
44 Dương Công Bình Hà Nội Phó bảng 1838
45 Dương Phúc Vịnh

 

Thừa Thiên

– Huế

Phó bảng

 

1841

 

46 Dương Danh Lập Bắc Ninh Phó bảng 1865
47 Dương Khuê Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1868
48 Dương Thúc Hạp Nghệ An Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1884
39 Dương Hiển Tiến Quảng Nam Phó bảng 1898
50 Dương Thiệu Tường Hà Nội Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân 1919

 

2- Danh sách các vị Tiến sĩ họ Dương trong các khoa thi võ

 

TT Triều đại Họ tên Quê quán Vị thứ Năm đỗ
1

trung hưng

Dương Đình Hài

 

Bắc Giang

 

Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng 1769

 

2   Dương Vị Hà Tĩnh Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng 1785
3   Dương Dận Hà Tĩnh Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng 1785
4   Dương Thiều Hà Tĩnh Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng 1785
5 Nguyễn Dương Cần Đỗ võ cử 1845
6   Dương Đình Du Đỗ võ cử 1845
7   Dương Viết Thiệu Thừa Thiên Đệ tam giáp đồng Võ sĩ xuất thân 1868

 

   B-Người họ Dương tiêu biểu thời Hồng Bàng – Bắc thuộc và Phong kiến

  1. Dương Minh Tiết – đời Hùng Vương thứ nhất (Theo DTKS – có thể tên cụ rất đẹp là do người đời sau đặt cho, song ta gọi vậy và tạm hiểu cụ là một người họ Dương có chức sắc trong vương triều của vua thủy tổ nước Việt). Gia tộc cụ Thượng tổ Dương Minh Tiết đồng hành cùng các vua thủy tổ người Việt từ miền Thanh-Nghệ-Tĩnh dời đô ra Việt Trì- Phú Thọ cùng các vua Hùng lập nước.

Cụ làm quan Lạc hầu của Hùng Vương thứ nhất. Cụ đứng đầu các quan trong triều đình sơ khai, cụ rất thông minh trung thành với vua Hùng giúp vua Hùng đảm nhiệm mọi công việc triều chính. Cụ giúp dập vua Hùng lập nước Văn Lang, đặt ra các quy định để vua tiện vận hành bộ máy cai quản nước Văn Lang. Cụ nắm rõ cương vực đất nước, chia nước Văn Lang làm 15 bộ để dễ bề quản lý, gồm:                                            

  1. Phong Châu (Phú Thọ)
  2. Giao Chỉ (Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên)
  3. Chu Diên (Sơn Tây)
  4. Vũ Ninh (Kinh Bắc – Bắc Ninh)
  5. Phú Lộc (Sơn Tây)
  6. Việt Thường (Quảng Trị, Quảng Nam)
  7. Ninh Hải (Quảng Yên)
  8. Dương Tuyền (Hải Dương)
  9. Lăng Hải (Lạng Sơn)
  10. Vũ Đình (Thái Nguyên, Cao Bằng)
  11. Hoài Hoan (Nghệ An)
  12. Cửu Châu (Thanh Hóa)
  13. Tân Hưng (Tuyên Quang, Hưng Hóa)
  14. Bình Văn (Quảng Bình)
  15. Cửu Đức (Hà Tĩnh)

Sau khi chia nước ta làm 15 bộ, cụ đặt ra kế sách phát triển kinh tế, quản lý đất nước. Giúp vua Hùng vận động đưa nhân dân xuống vùng hạ du khai phá ruộng nước cấy lúa trồng mầu mở rộng lãnh thổ; đặt ra các nghi lễ, ngày hội, ngày tết và tổ chức các hoạt động dân gian làm cho phong phú nền văn hóa xã hội… Đất nước Văn Lang Lạc Việt của vua Hùng từ đấy hòa bình, thịnh trị, yên vui.

Cụ thượng tổ họ Dương

Cụ Thượng tổ họ ta Dương Minh Tiết

Phù các vua Hùng lập nước Văn Lang

Chia cương vực quốc gia 15 bộ

Để hôm nay thành nước Việt Nam

Suốt chiều dài mấy nghìn năm cùng đất nước

Người họ Dương góp trí tuệ, bàn tay

Cùng trăm họ xây lâu đài Tổ quốc

Cho muôn năm bền vững nước non này.

Lời bàn:

Thời Hùng Vương dựng nước, vua Hùng đã thu phục được 15 bộ lạc vào một mối để lập nước Văn Lang – Lạc Việt. Các địa danh này hoàn toàn ở miền Bắc Việt Nam. Điều này chỉ ra rằng ai nói nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương Bắc giáp Động Đình, Nam giáp Hồ Tôn, Đông giáp biển, Tây giáp Ba Thục là không đúng, Địa dư ấy chỉ đúng với nước Nam Việt của Triệu Đà sau này, trong đó Lạc Việt của ta chỉ là một nước Việt của cộng đồng Bách Việt. (Hai Bà Trưng cho đó là nước ta khi trước là Nam Việt của Triệu Đà, nên tiến đánh Tô Định, Bà đã mang quân sang thu phục 65 thành trì ở sâu trong Quảng Đông, Quảng Tây – Trung Quốc – DAD). Sau này, Lý Thường Kiệt, Phạm Tử Nghi cũng mang quân sang phá Châu Ung, Châu Khâm. Nhà Tây Sơn, Quang Trung cũng đòi nhà Thanh vùng Lưỡng Quảng.

  1. Dương Minh Thắng- đời Hùng Vương thứ 6

(Theo Lý tộc – Dương tộc gia phả do cụ Dương Hữu Tự Do chép năm 1592): Dương Minh Thắng quê ở Phong châu làm quan Lạc tướng của vua Hùng Vương thứ VI. Cụ được vua  Hùng cử về Vũ Ninh diệt giặc Ân. Cụ mang quân về Vũ Ninh, do thế giặc mạnh, dẹp không yên, cụ dâng sớ tâu vua xin chiêu mộ người tài. Cụ cho sứ giả treo bảng chiêu hiền và gọi loa tìm người tài ra cứu nước. Khi ấy ở làng Phù Đổng có một chú bé đã ba tuổi mà không nói, không cười, không đi lại, chỉ nằm trên võng. Khi nghe tiếng loa truyền, đột nhiên chú nói được và bảo mẹ cho gặp sứ giả. Thấy con nói được, bà mẹ mừng rỡ mời sứ giả đến, chú xin sứ giả tâu vua cấp ngựa sắt, roi sắt, mũ, kiếm, áo bằng sắt để đi diệt giặc. Sau khi ăn hết 7 nong cơm cà, chú lớn bổng thành chàng dũng sĩ. Chú phóng ngựa phun lửa, giặc chết như rạ. Gẫy roi, chú nhổ cả bụi tre đánh giặc. Giặc tan, chú bỏ lại áo mũ bay lên trời hiển Thánh.

Khi đánh thắng giặc Ân, cụ Dương Minh Thắng được vua cho mang theo gia đình ở lại lập nghiệp và đóng quân giữ gìn bờ cõi. Dòng họ Dương sinh sôi từ đấy đến nay rất đông đúc thành một vùng địa linh nhân kiệt của người họ Dương.

Cụ tổ Dương Minh Thắng

(Theo Dương tộc kỷ sử)

Tướng họ Dương giữ nước cùng vua Hùng

Lập chiến công muôn đời còn chói sáng

Hùng Vương 6 tướng tài Dương Minh Thắng

Về Vũ Ninh cùng Thánh Gióng đánh giặc Ân

Thắng giặc rồi cụ ở lại với muôn dân

Thành Dương tộc hào hoa và hiển hách

Giang sơn Việt trường tồn và hùng mạnh

Tự khởi nguồn có công sức họ Dương.

Lời bàn:

Qua câu chuyện huyền thoại này, ta có thể rút ra cốt lõi sự thật lịch sử là cụ tổ họ ta (có thể không có thực tên đẹp là Dương Minh Thắng mà do người đời sau đặt cho) là Lạc tướng được vua Hùng Vương thứ 6 giao nhiệm vụ đánh giặc xâm phạm xóm làng bờ cõi (thực chất trong lịch sử nước nhà không có loại giặc này, mà có thể chỉ là một bọn giặc cỏ hung dữ, dân ta liên tưởng tới nhà Ân bên Trung Quốc khi xưa tàn ác hiếu chiến mà đặt tên cho là giặc Ân). Cụ đã chiêu mộ người tài phá giặc (Chú bé làng Gióng đánh giặc, hiển Thánh cũng là do người đời sau thêu dệt).

Thần tích Trang Hà Lỗ Đông Anh, Hà Nội do Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn: vua Hùng sai Dực Công là Tổng binh quốc sư đi dẹp gần hai năm không thắng, vua sai tìm người tài, đến hương Phù Đổng có nhà họ Dương sinh con là  Dương Thiết Xung xin đầu quân và đánh thắng giặc, sau là Thánh Gióng. Lại nữa, Thần tích làng Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh (cũng do Nguyễn Bính soạn) lại chép vua giao tướng Thiên Cương đi dẹp, không thắng giặc, vua sai tìm người tài, thì ở trang Phù Đổng có cậu bé 3 tuổi Nhi Công xin đi đánh giặc, thắng trận, người ngựa bay lên trời…

Có tài liệu viết ám chỉ Dương Minh Thắng là Thánh Gióng. Tôi cho đấy chỉ là sự vơ vào cho họ Dương. Thực chất Dương Minh Thắng không bao giờ là Thánh Gióng. Thánh Gióng có thể sinh ra trong một gia đình họ Dương song quyết không phải tên là Dương Thiết Xung. Thiết Xung là sắt xông lên (là cưỡi ngựa sắt đánh giặc rồi bay lên trời). Tên là đặt khi sinh ra, sao biết sự việc xảy ra sau này mà đặt ngay tên ấy khi mới sinh? Cùng một người soạn thần tích (Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính) cho một sự kiện ở hai địa phương (Hà Lỗ và Đồng Kỵ) lại sai khác quá nhiều, do vậy sử dụng các bản thần tích này, ta phải có chọn lọc.

Ban sử họ Dương khóa VI vin là Dương Minh Thắng sống ở Bắc Ninh sinh sôi nẩy nở nhiều con cháu và hậu duệ phát tán ra mọi miền đất nước nên nhận Bắc Ninh là nơi phát tích của họ Dương Việt Nam. Lưu truyền đến ngày nay rằng: Người họ Dương Việt Nam, dù ở góc biển chân trời nào cũng đều chung thủy tổ là cụ Dương Minh Thắng.

Đây quả đúng như nhận xét của ông Dương Trung Quốc- Tổng thư ký hội KHLSVN (trả lời ông Dương Anh Dũng ngày 27-2-2017 khi góp ý với bài viết về nguồn gốc họ Dương gửi ngày 24-2-2017): “Còn đối với việc viết sử họ tộc thì tôi tôn trọng công sức của nguời đi trước nhưng luôn lưu ý những vấn đề thuộc về nghề nghiệp. Phải cẩn trọng khách quan tránh “vơ vào”, một số vấn đề nên coi là giả thiết tránh ngộ nhận và phải trao đổi với giới hiểu biết”.

  1. Dương Thị Diễm – đời Hùng Vương thứ 18: (Theo Hùng triều chính sử trang 42 tác giả lược dịch):

“Tương truyền 18 thế hệ vua Hùng truyền đến đời thứ 18 là Hùng Duệ Lăng đóng đô ở Phong Châu, quốc hiệu Văn Lang. Là vị vua hùng mạnh có 100 vợ, 65 quý phi, 12 phu nhân, 260 cung tần, 20 hoàng tử, 4 công chúa. Phải chăng do mệnh trời, chỉ trong một ngày, 24 người con đều chết yểu.  (Có tư liệu của họ Lê cho rằng một người vợ vua Hùng là cô của Thục Phán họ Lê, để chuẩn bị cho việc xâm chiếm Văn Lang đã lập mưu đầu độc hết các con vua Hùng).

Hoàng hậu Dương Thị Diễm người phường Đức Quang, Hoan châu buồn bã ngày đêm khóc lóc không nguôi. Hoàng hậu cùng 10 cung nhân đi ngao du giải sầu. Một lần lên Tam Đảo mang hương hoa cầu đảo tại đền quốc mẫu. Đêm mộng thấy một vị tiên ông hứa ban cho một tiên nữ. Hoàng hậu hoài thai sinh hạ một con gái đẹp đặt tên là Tiên Dung. Đã 18 tuổi mà không thích lấy chồng, Tiên Dung chỉ ham mê ngao du sơn thủy. Mỗi năm 3 tháng đi dong chơi sông biển. Một ngày kia đến huyện Đông An, Sơn Nam (Hưng Yên ngày nay), công chúa Tiên Dung lên bãi cát bên sông quây màn trướng để tắm. Bất ngờ nước xối, lộ ra thân hình Chử Đồng Tử đang trốn vùi mình dưới cát. Tiên Dung cho là duyên trời định, đã kết hôn cùng Chử Đồng Tử và sau này hai người hiển thánh.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Phần ngoại kỷ), Hoàng hậu Dương Thị Diễm sinh tiếp công chúa Ngọc Hoa (còn gọi là Mỵ Nương) xinh đẹp. Đến tuổi cập kê, vua Hùng Kén rể, tạo ra trận quyết chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Cuối cùng Sơn Tinh có tên là Nguyễn Tuấn chiến thắng, lấy được Ngọc Hoa. Sau này, Sơn Tinh hiển thánh là Tản Viên Sơn Thánh.

Như vậy, người phụ nữ họ Dương quê gốc Nghệ An từ thế kỷ thứ III TCN đã là nhạc mẫu của hai thánh tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Cụ tổ bà Dương Thị Diễm

(Theo Hùng triều chính sử)

Từ xưa lắm gái họ Dương đã là Hoàng hậu

Của Hùng Vương 18 Duệ Lăng

Người quê hương từ xứ Nghệ phường Đức Quang

Đã sinh hạ hai nàng tiên đất Việt

Nàng Ngọc Hoa mở màn cho trận chiến

Thủy Tinh cùng thủy quái chống Sơn Tinh

Nàng Tiên Dung cùng chàng trai Đồng Tử

Nón lá, gậy tre, đưa cung điện lên trời

Hai đức Thánh “Tứ bất tử” của muôn đời

Là rể của bà tổ họ ta thuở trước

Ta kiêu hãnh gái họ Dương làm vẻ vang đất nước

Ngàn đời sau nhiều gái họ vẫn vang danh.

Lời bàn:  Các câu chuyện có thật được huyền thoại hóa đã nói lên điều cốt lõi là từ thời Hùng Vương, vùng Thanh- Nghệ-Tĩnh đã có nhiều người họ Dương là tiên tổ của bà Dương Thị Diễm sinh sống, một lần nữa chỉ ra là vùng Thanh- Nghệ-Tĩnh chính là nơi phát tích của họ Dương.

  1. Dương Viết Điển thời An Dương Vương: (Theo lí lịch đình Xuân Mai khi khảo sát lập hồ sơ cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa). Xưa ở bộ Ninh Hải có nhà họ Dương húy là Thượng Đường, vợ là Quỳnh Thị Luyến, là người nhân hậu, trong mộng bà được thần nhân ban cho cành hoa sen. Từ đó, bà Luyến hoài thai, một năm sau sinh quý tử khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Viết Điển. Lớn lên, Viết Điển chăm chỉ tự học mà tinh thông văn võ.

Ngày ấy, Thục Phán hiệu là An Dương Vương chiêu tập dũng binh muốn thu phục nước Văn Lang – Âu Lạc của Hùng Vương thứ 18 Hùng Duệ Lăng.

Thục Phán mộng thấy thần nhân giao tờ lệnh ghi “Ninh Hải Dương Viết Điển” và nói rằng vận nhà Hùng đã hết, ngài nên chiêu mộ được Dương Viết Điển thì sẽ thành công. Thục Phán cho sứ giả tìm mời Dương Viết Điển. Được Dương Viết Điển nhận lời, Thục Phán vui mừng trọng thể nghênh tiếp, và gả cháu gái tên là Nga Lăng cho. Sau khi kết hôn, Dương Viết Điển mang quân đi đánh Văn Lang. Biết tin Thục Phán có người tài giúp dập, lượng sức mình khó bề chống đỡ, con rể là Nguyễn Tuấn đã khuyên vua cha là Hùng Vương thứ 18 nhường nước cho họ Thục rồi hai cha con về trời.

Lấy được nước, Thục Phán đóng đô ở Cổ Loa và phong cho Dương Viết Điển là Ninh Vũ hầu.

Dương Viết Điển thọ 79 tuổi, làm quan được 47 năm. Nga Lăng thọ 83 tuổi, hai vị sinh hạ được 3 trai, 6 gái. Hai vị được sắc phong là Thành hoàng làng, dân bản hạt lập miếu- đình thờ phụng. Dương Viết Điển được phong là “Đương cảnh Thành hoàng Dực bảo Trung hưng Ninh Vũ Đại vương”.

Nga Lăng được sắc phong là “Đương cảnh Thành hoàng Cảnh thị Uy linh Nga Lăng Công chúa.

  1. Dương Thi Sách (theo BKTT và Thần tích xã Nại Từ): Dương Thi Sách sinh ngày 10-6 (khoảng năm 11 SCN), là con Lạc tướng châu Diên Dương Thái Bình và mẹ là Hồ Thị Nhữ (có tài liệu chép cha Thi Sách là Huyện lệnh châu Diên).

Lạc tướng Phong châu là Trưng Nghĩa Dũng và vợ là Hoàng Thị Đào ngoài 40 tuổi chưa có con, được Thần ban cho con gái tuyệt đẹp mang tướng mạo con trai đặt tên là Trắc, khi bé gọi là Ả Lã, khi lớn lên gọi là nàng Đê. Đến tuần cập kê, Thi Sách xin cha đến hỏi về làm vợ, cùng là Lạc tướng, hai nhà đã kết thông gia.

Khi ấy thái thú Giao Chỉ là Tô Định, háo sắc lại tham tàn bạo ngược, lòng người oán giận. Biết con gái Lạc tướng Mê Linh trưởng thành và xinh đẹp, hắn mang quân đến tìm làm vợ. Nghe Trưng Công kể sự tình là đã gả cho Thi Sách, Tô Định kéo quân đến châu Diên tìm Thi Sách đòi vợ. Tuy là trang tráng sĩ song mãnh hổ nan địch quần hồ, Thi Sách thua chạy đến Tử Khê thì bị Tô Định giết hại, khi ấy là ngày 11-12-39.

Cái chết của Thi Sách đã châm ngòi cho cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Đền nợ nước, trả thù nhà, tháng 2-40, Hai Bà đã hội quân cùng cha khởi nghĩa nhằm diệt tên Tô Định thu phục giang sơn. Từ Cổ Loa, Hai Bà Trưng mang quân vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh trị sở Giao Chỉ ở Luy Lâu bên bờ sông Dâu (lãng Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh). Quân khởi nghĩa tấn công quá nhanh khiến Tô Định không kịp trở tay. Trước thế mạnh của quân Hai Bà, các viên quan cầm đầu không trở tay kịp và không dám chống cự, bỏ chạy về phương Bắc.

Thừa thắng, Hai Bà đã đánh sang đất giặc là Quảng Đông, Quảng Tây, thu phục được 65 thành trì. Bà xưng Vương, đóng đô tại Mê Linh, tự phong là “Quốc Thiên Tử” và phong cho Thi Sách là “Quốc Vương Thiên Tử Đông Hán Đại Vương”. Bà Trưng phong cho chồng là “Đông Hán Đại Vương” ngầm hiểu bà lấy tên nước cũng là  Đông Hán, chia thiên hạ với Quang Vũ Đế – Hán Thế Tổ (25-57 SCN). Cương vực của Hán Thế Tổ chỉ còn phía bắc dãy Ngũ Lĩnh, cương vực của bà Trưng cai trị là vùng nam dãy Ngũ Lĩnh (Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta), gồm Uất Lâm, Thương Ngô, Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông – Quảng Tây) và Giao Chỉ, Cửu Chân (Văn Lang – Âu Lạc) gồm 65 thành trì. Hiện nay trên vùng đất này có 34 nơi đang còn đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà.

Dương Thi Sách

(Theo Dương tộc kỷ sử)

Huyện lệnh châu Diên Dương Thi Sách

Đã tụ quân dựng nghĩa chống hung tàn

Bị Tô Định giặc Bắc phương sát hại

Uất hận dâng tràn cháy đỏ cả trời Nam

 

Đền nợ nước, Hai Bà Trưng khởi nghĩa

Trả thù nhà, nhi nữ cứu nước non

Đã chiếm lại 65 thành trì từ sâu trong đất giặc

Hai Bà Trưng thu lại cả giang sơn

 

Giận Mã Viện kẻ mưu hèn kế bẩn

Hai Bà đành vĩnh quyết sóng Hát giang

Đất nước ta chói lọi cuốn sử vàng

Dâu Dương tộc làm rạng danh nòi giống.

Lời bàn:

Theo cuốn “Thuỷ kinh chú” thì chồng bà Trưng có tên là “Thi”, còn chữ “sách” là động từ  lấy (lấy vợ là Trưng). Khi dịch chữ Nho vì hai chữ xếp liền nhau, người xưa dịch liền là “Thi Sách”. Tư liệu của họ Đặng Việt Nam thì Thi Sách mang họ Đặng.

  1. Tướng họ Dương của Hai Bà Trưng:

Thời Hai Bà Trưng có nhiều người họ Dương tham gia khởi nghĩa cùng hai bà. Ngoài cụ Dương Ngọc (Kim Thành- Hải Dương) còn có các thủ lĩnh đó là: Dương Bốc vùng Cấn Khê, Phong châu; Dương Công vùng Thiện Tài-Vũ Ninh, Dương Giã Tiên vùng Yên Thế-Vũ Ninh, Dương Nước, Dương Đình vùng Uy Viễn-Kim Động…

  1. Dương Ngọc:

Theo Thần tích của làng Phong Nội, được viết vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) kể về sự tích một nhân thần và một âm thần thời Hai Bà Trưng.

Hàn lâm lễ viện Đông Các đại học sĩ thần Nguyễn Bính soạn chỉnh bản:

“Thời Bắc thuộc lần thứ nhất, ở huyện Gia Lộc, phủ Hạ Hồng có người con gái đẹp họ Dương tên gọi Xuân nương. Năm 18 tuổi mộng thấy tiên nữ cho một viên ngọc trắng, và hứa cho lấy được chồng. Từ đấy, Xuân nương có thai. Ngày 12 tháng giêng năm Nhâm Thìn, sinh hạ một con trai đặt tên là Ngọc, 7 tuổi đón thầy dạy học, 17 tuổi đã thông thạo văn võ, giỏi binh thư và đạo pháp, đặc biệt là không muốn lấy vợ, chỉ thích ngao du sơn thủy. Đến khi ông 20 tuổi, thân mẫu không bệnh mà qua đời.

Thuở ấy nước ta bị giặc Hán đô hộ, cháu ngoại Hùng Vương là nữ tướng Trưng Trắc, chồng là Thi Sách bị Tô Định sát hại, cùng với em ruột là Trưng Nhị khởi nghĩa, thông cáo đến các phủ huyện chiêu mộ người tài. Ông Ngọc nghe chiếu chỉ đồng lòng chiêu mộ hương binh, gia thần được hơn một trăm người, đến theo Hai Bà Trưng. Bà Trưng Trắc mến tài năng, phong làm Chỉ huy sứ, Thượng tướng quân. Tướng binh trước tiên tuần phòng các miền hải khẩu.

Một ngày ông đem quân đến trang Phong Nội, quận Trà Hương, phủ Kiến Thụy, trấn Hải Dương (xưa là bộ Dương Tuyền, nay là xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương) ở đầu địa giới. Đột nhiên nhìn thấy một thần nữ ngồi hát, rồi biến mất, ông nhìn thấy ngôi miếu. Ban đêm ông mộng thấy thần nữ hiện lên nói tên là Quang nương ngự ở đất này âm phù hộ quốc, khi ông đánh xong giặc sẽ cùng tế cúng. Khi hỏi dân làng, mới biết nơi đây thờ âm thần, ông nói thần báo mộng tên là Quang nương và làm lễ cúng tế. Dân làng kinh hãi xin ông di chúc cho dân làng sau này được thờ ông là nhân thần cùng thần nữ là âm thần. Ông cho dân làng tiền vàng để mua ruộng hương hỏa.

Vâng lệnh Trưng Vương, ông đem quân về cùng hội quân đánh thắng Tô Định thu 65 thành trì, Bà Trưng lên ngôi vua. Ông nói có vị âm thần hộ quốc phù trợ thắng giặc, Trưng Vương nghe thấy sự việc, liền phong tặng vị âm thần làm Đức vua bà, hộ quốc linh phù đại vương, sắc chỉ ban Phong Nội trang thờ cúng,  phong cho Dương Ngọc làm Đô đài ngự sử, làm quan tại triều. Nhậm chức được hơn một năm, ông mất vào ngày 11 tháng 11. Trưng Vương cảm thương công thần, có công lớn với đất nước, sai sứ giả phong làm Phúc thần. Trưng Vương sắc phong cho ông là:

“Đương cảnh thành hoàng, thiên ứng uy linh, phù vận quyền xung khuông phù, cứu dân phụ túy anh linh đại vương”.

Gia tặng phong cho vị âm thần là “Hoàng Bà đoan trang hiển diệu hộ quốc linh ứng đại vương”.

Bà Trưng còn cho vàng bạc báo trang Phong Nội rước mỹ tự cùng kim ngân về với dân, tạc tượng, lập đền, thờ cúng tứ thời hương hỏa.

Cúng tế vào ngày sinh, ngày hóa, cấm dùng hai từ Quang- Ngọc (là tên húy của ông và tên húy của vị âm thần).

Ngày sinh thần là ngày 12 tháng giêng, tùy nghi dùng hoa quả cúng thần. Thần hóa ngày 11 tháng 11, chính lệ dùng thượng trai, tùy nghi phẩm quả, bánh dày, sau là trâu, lợn, xôi, rượu”.

Cụ Dương Ngọc

Cụ Dương Ngọc, Thành hoàng làng Phong Nội

Tướng họ Dương theo Trưng nữ Vương xưa

Khởi nghĩa đầu tiên của nước Nam ta

Thu lại 65 thành trì đất đai Bách Việt

Cụ là người họ Dương oai hùng tuấn kiệt

Viên Ngọc trắng linh thiêng trời ban xuống cho đời

Giúp Trưng nữ Vương thắng giặc Hán lên ngôi

Xong việc thế, người hóa thân về Trời Phật

Hai ngàn năm nay vẫn trợ phù cho con dân đất Việt

 

Họ Dương ta viết sử họ tìm thần tích danh nhân

Người hiển linh về nhắc với muôn dân

Biết đến danh người để xây đền hương khói

Lịch sử họ Dương vẻ vang chói lọi

Có tướng tài từ khởi nghĩa Trưng Vương

Lời bàn: Họ Dương Việt Nam mới tìm thấy thần tích và 13 sắc phong của Thần tướng Dương Ngọc có từ hai ngàn năm mà nay đã bị lãng quên. Ngay từ khi Hai Bà Trưng ở ngôi, do chết bệnh, cụ Dương Ngọc được ban sắc và vàng bạc cho dân làng Phong Nội rước về lập đền thờ. (Có thể nói đây là đạo sắc đầu tiên của vua ban trong lịch sử dân tộc cho người họ Dương).

Do thời gian giặc giã, đến nay đình miếu thờ Ngài bị phá hủy hết. Sau này dân làng chỉ lập am nhỏ khói hương. Năm 2015, do điềm báo, dân làng đã khởi xướng xây lại đền thờ cụ. Dân bản hạt đã báo cáo Hội đồng họ Dương khóa VI nhưng do khó khăn đã chuyển về Hải Dương và được đầu tư 15 triệu. Năm 2018 biết tin, ông Dương Anh Dũng đã “thác bản” văn bia, thu thập tư liệu báo cáo Hội đồng họ Dương Việt Nam khóa VII. Ngày 5-10-2018, ông Dương Công Minh- Chủ tịch mới, đã chỉ đạo đoàn điền dã do ông Dương Văn Đảm- Trưởng ban sử họ dẫn đầu đến địa phương khảo sát và xác định đây là vị Thần tướng của họ Dương từ thời Hai Bà Trưng, người đầu tiên được vua ban sắc. Song từ đấy, chỉ có dân làng và những người họ Dương có tâm tiêu biểu là vợ chồng ông Dương Văn Khánh, bà Hoàng Thị Thu (trai dâu họ Dương Hải Dương), ông Dương Đăng Tiệp- nguyên Chủ tịch họ Dương Hải Dương, ông Dương Anh Dũng- nguyên chủ tịch họ Dương Hải Phòng… và cô Nguyễn Thị Thúy (người được thần nhân ban thần mộng) cùng dân làng đã đầu tư công của và quyên góp thập phương, xây dựng xong đền thờ Thần tướng Dương Ngọc, diện tích nội đền là 80 m2. Đền khánh thành ngày 17-12-2018.

  1. Đô Dương

Đô Dương là người châu Hoan có lực lượng mạnh, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã mang quân ra Mê Linh hưởng ứng. Ông đã cùng các tướng lĩnh giúp Hai Bà Trưng đánh thắng giặc Tô Định, thu lại 65 thành trì trên đất Bắc, lên ngôi vua.

Sau khi Hai Bà bị Mã Viện mang quân sang đánh, khởi nghĩa thất bại, Hai Bà Trưng tuẫn tiết tại Hát giang, ông đã mang cánh quân của mình về châu Hoan lập căn cứ chống giặc. Biết Đô Dương là đội quân mạnh nhất còn lại của Hai Bà Trưng, tháng 11-43, Mã Viện đã tập trung binh lực tiến đánh. Sau trận huyết chiến tại vùng Cư Phong, do thế giặc mạnh, Mã Viện là tên tướng thiện chiến, Đô Dương đã anh dũng hy sinh cùng hàng ngàn nghĩa binh. Hơn 300 cử súy bị bắt và đem đầy ở Linh Lăng (Hồ Nam – Trung Quốc).

  1. 9. Dương Thanh

Dương Thanh là con nhà giầu ở châu Ái tên là Dương Kim Thanh (Theo DTKS) có thế lực mạnh tại địa phương, được cụ Dương Thế cho về Trường An (Trung Quốc) học tập. Dương Thanh học giỏi nhưng thi không đỗ. Năm 808, viên Thứ sử Giao châu là Trương Chu sang đô hộ, Dương Thanh cùng về. Năm 809, Dương Thanh được cử làm Thứ sử châu Hoan, là người Việt Nam đầu tiên được phong chức này.

Dương Thanh cho đắp lại thành châu Hoan (ở xã Phật Kệ, phủ Anh Đô nay là xã Đà Sơn và Trung Sơn, Đô Lương, Nghệ An, thành này trước kia đã bị quân Chiêm Thành phá – Tân Đường thư Q7). Ông ra sức phát triển kinh tế, liên kết khai thác mỏ sắt Nho Lâm, tại Diễn Châu ngày nay. Khai thác mỏ vàng, bạc, đẩt sét làm đồ gốm, đúc tiền “Khai nguyên thông bảo”. Ông phát triển kinh tế địa phương giầu mạnh, là viên quan có tài, ông xây dựng lực lượng riêng cho mình thành một thế lực lớn mạnh.

Viên đô hộ An Nam là Lý Tượng Cổ  tham lam phóng túng, lòng người không theo, lại sợ thế lực của Dương Thanh, điều ông từ chức Hoan châu thứ sử về Tống Bình làm nha môn tướng để kiềm chế. Dương Thanh trong lòng u uất không vui.

Năm 819, nhân được giao 3000 quân đi đánh người Tày, Nùng, Tráng ở Hoàng Động (Man Hoàng Động) thuộc Quốc Oai, Sơn Tây ngày nay cách Tống Bình khoảng 30 km (xem lời bàn), thừa dịp Dương Thanh cùng con là Dương Chí Liệt và thủ hạ thân tín là Đỗ Sĩ Giao đồng mưu kêu gọi binh sĩ không nên đi đánh người Hoàng Động mà phản lại Lý Tượng Cổ. Được các binh sĩ ủng hộ, đang đêm ông mang quân về đánh chiếm phủ thành Tống Bình, giết chết quan đô hộ Lý Tượng Cổ cùng hàng nghìn thuộc hạ, chiếm Giao châu.

Triều đình nhà Đường rung chuyển, phải vờ tha tội, xuống chiếu giữ nguyên chức vụ, phong Dương Thanh làm Thứ sử Quỳnh châu (đảo Hải Nam) để điều ông ra khỏi Tống Bình. Dương Thanh không mắc mưu đó, không nhận chiếu, quyết giữ thành Tống Bình chuẩn bị lực lượng chống lại nhà Đường sẽ xảy ra nay mai.

Nhà Đường tổ chức đội quân hùng mạnh do tướng tài Quế Trọng Võ (người có kinh nghiệm đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc) chỉ huy. Quế Trọng Võ đánh thẳng ngay vào thành Tống Bình, với tài quân sự thao lược, Dương Thanh đã đánh bại đội quân xâm lược lần thứ nhất.

Vua Đường cử thêm tướng Bùi Hành nổi tiếng tàn bạo sang ta, nhưng vừa đến biên giới thì ốm chết.

Vua Đường tiếp tục cho Quế Trọng Võ lập công chuộc tội, biết khó thắng bằng vũ lực bèn dùng thêm lực lượng chính trị, tình báo, gây nội gián mua chuộc các thổ hào, chia rẽ quân ta. Do Dương Thanh câu thúc thủ hạ, hình phạt nghiêm khắc, mất cảnh giác nên Quế Trọng Võ có cơ hội thực hiện kế hoạch thành công. Sau khi có nội gián, Quế Trọng Võ đánh thẳng vào Tống Bình. Nội gián mở cửa thành rước giặc vào, quân ta thua trận. Khởi nghĩa bước đầu thất bại, Quế Trọng Võ chiếm được Tống Bình song không đủ sức vươn ra các vùng xa.

Dương Thanh và tàn quân rút chạy về Tạc Khẩu, Trường Châu, Tam Điệp cố thủ (thuộc Yên Mô, Ninh Bình ngày nay, nơi còn cơ sở của gia tộc Đỗ Sỹ Giao). Năm 821, bị giặc tấn công cũng không tiêu diệt được nghĩa quân.

Theo “Lịch sử Việt Nam”: “Dương Thanh và tàn quân rút chạy về giữ đất Tạc Khê (Trường châu). Chiếm được phủ thành, nhưng chỉ kiểm soát được Giao châu (vùng châu thổ sông Hồng), An Nam đô hộ Quế Trọng Võ gửi tấu về triều đình vào tháng 6 năm 820 là “giết được đầu đảng tặc Dương Thanh và thu hồi An Nam” và gửi thủ cấp giả của Dương Thanh về triều đình vào tháng 8 năm 820.

Năm 822, Lý Nguyên Hỉ làm An Nam đô hộ, năm 824, Man Hoàng Động và Hoàn Vương tấn công An Nam, năm 825, Hỉ rời phủ thành về phía bắc sông Tô Lịch, năm 827, Hàn Ước làm An Nam đô hộ, bị Thứ sử Phong châu là Vương Thăng Triều chống đối, năm 828, Ước bị quân trong phủ (phối hợp với Dương Thanh) đuổi khỏi An Nam. Nhà Đường mất kiểm soát An Nam hoàn toàn cho tới năm 836 khi Mã Thực được làm Đô hộ”.

Tại đền thờ Dương Thanh ở Nghệ An khi xưa có một đôi câu đối là:

“Giao châu xuất nhân tài nhất dạ khởi binh trừ Tượng Cổ

Tô Lịch lưu địa lợi thập niên trấn thủ cự Nguyên Gia”

Đại tướng Dương Thanh

(Theo Dương tộc kỷ sử)

Trong đêm trường nô lệ lầm than

Người họ Dương như đốm lửa hồng âm ỷ cháy

Thứ sử Dương Thanh từ miền quê Thanh Hóa

Ra Tống Bình làm nha tướng để chờ khi

Đốm than đỏ đã bùng thành ngọn lửa

Thiêu trụi giặc Bắc phương thu lại cả kinh kỳ

Người khai mở một con đường cho dân tộc

Khúc- Dương- Ngô, tiếp bước người đi

Thu lại cả giang sơn Việt Nam vào một cõi

Mở đầu kỷ nguyên độc lập sử xanh ghi.

Lời bàn: Sử cũ và các nhà sử ngày nay vẫn hiểu nhầm là Dương Thanh mang quân đi đánh Man Hoàng Động ở bên Quảng Tây, Trung Quốc, thủ lĩnh là Hoàng Thiếu Khanh. Nơi đấy cách Tống Bình trên 400 km, thế lực họ Hoàng rất mạnh, nhà Đường còn không dẹp nổi huống chi Dương Thanh chỉ có 3000 quân đi bộ làm sao mà đánh được. Suy từ ý ngay trong đêm quay về thì ta hiểu quãng đường chỉ ngắn thôi. Do vậy tư liệu trong dân gian do lương y Dương Văn Tất sưu tầm là rất tin cậy. Theo bài thơ Hoàng Động xá của cụ đồ Lèn Dương Văn Lý sưu tầm có câu:

“Hoàng Động, Dương Xá, Quốc Oai

Chiêu dân khởi nghĩa một thời lừng danh

Nhớ về Tổng quản Dương Thanh…”.

Như vậy, Dương Thanh mang quân đi dẹp man Hoàng Động là ở khu vực người dân tộc tại Sơn Tây thuộc Hà Nội ngày nay, không phải là Man Hoàng Động bên Quảng Tây, Trung Quốc.

Cuốn “Dương tộc kỷ sử” của họ Dương ghi Dương Thanh thua chạy khỏi Tống Bình về miền rừng núi Thanh Hóa tiếp tục chiến đấu. Câu đối cổ tại đền thờ ông khi xưa có cụm từ “thập niên” đã chỉ ra mười năm chống nhà Đường, khẳng định năm 820, Quế Trọng Võ không giết được Dương Thanh.

Sử Việt Nam, sử họ Dương và lưu truyền trong dân gian thống nhất là năm 820, Dương Thanh không chết mà còn chiến đấu đến năm 826. Chỉ duy có sử Trung Hoa chép ban đầu còn dè dặt là đã “xử trí xong tặc đảng Dương Thanh”, sau lại báo cáo là năm 820, Dương Thanh bị giết. Đây là báo cáo theo hướng là để tâng công và hạ thấp vai trò của cuộc khởi nghĩa. Sau này Tân Đường Thư, Cựu Đường Thư đều theo đó viết lại.

Là người Việt Nam, người họ Dương, ta tin sử Việt và sử họ là Dương Thanh không chết năm 820. Đúng như kết luận tại bài viết “Bàn về khởi nghĩa Dương Thanh” của tác giả Đặng Thanh Bình đăng trên bản tin của HĐHDVN ngày 29-10-2019. Dương Thanh còn chống nhà Đường đến sau 828.

* Về tên gọi của cụ:

– Tất cả các cuốn sử của ta và Trung Hoa đều ghi tên cụ là Dương Thanh.

– Cuốn “Dương tộc kỷ sử” của họ Dương Việt Nam ghi tên cụ là Dương Kim Thanh.

– Văn bia trên mộ chí của Lý Tượng Cổ và Lý Hội Xương do Lý Phùng chôn tại mộ gió ngày 9-11-921 ở Lạc Dương ghi tên cụ là Dương Trạm Thanh.

Ta thống nhất chỉ gọi tên cụ là Dương Thanh.

* Về quê quán:

Mục này rất nhiều quan điểm, vậy quê cụ ở đâu? Giao châu, Hoan châu hay Ái châu?

Thống nhất với ý kiến kết luận tại hội thảo về Dương Thanh tại Nghệ An của ông Dương Công Minh, quê cụ là Hoan châu.

Cụ là Thứ sử châu Hoan, tại văn bia ở đền thờ Dương Thanh ghi cụ là “tù trưởng thế tập” là chưa chuẩn.

  1. 10. Dương Đình Nghệ

Dương Đình Nghệ sinh 10-10-874, vốn là một hào trưởng, người gốc làng Giàng (nay thuộc xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa).

Thời Khúc Thừa Dụ cầm quyền (3/906-907), Khúc Hạo cầm quyền (907-917), Dương Đình Nghệ từng là một trong những bộ tướng của họ Khúc. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp cha. Dương Đình Nghệ tiếp tục làm bộ tướng cho Khúc Thừa Mỹ (917-923).

Nhà Hán (một tiểu vương quốc do họ Lưu lập nên) đã giận vì Khúc Thừa Mỹ thần phục nhà Lương. Năm 923, nhân khi nhà Lương mất, vua Nam Hán Đường Trang Tông đã sai kiêu tướng là Lý Khắc Chính mang quân sang đánh chiếm thành Đại La, bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ, Lý Tiến thay thế Lý Khắc Chính giải Khúc Thừa Mỹ về nước. Lý Khắc Chính ở lại giữ Giao châu.

Báo thù cho họ Khúc, Dương Đình Nghệ mang quân từ Thanh Hóa ra đánh đuổi Lý Khắc Chính. Nhà Hán đã mua chuộc trao chức thứ sử Châu Ái cho Dương Đình Nghệ. Để tránh đụng độ với đại quân của nhà Hán trong khi lực lượng chưa đủ mạnh, Dương Đình Nghệ tạm thời chấp nhận tước vị và hòa hoãn với nhà Hán. Ông về lại làng Giàng- Thanh Hóa chiêu tập lực lượng, riêng nghĩa sĩ lúc này lên đến 3000 con nuôi. Ông đặt ra trường đánh vật, phát huy truyền thống của lò võ làng Giàng rèn luyện quân sĩ tinh thông võ nghệ, giương cao cờ đại nghĩa khuyến khích toàn quân luyện tập để chờ thời cơ lấy lại nước từ tay quân giặc. Về phía đối thủ, vua Hán giao Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu cùng Lý Khắc Chính giữ thành Tống Bình.

Khi này thực chất nhà Hán chỉ quản lý được khu vực xung quanh Tống Bình, còn vòng ngoài hầu hết do thủ lĩnh các địa phương cát cứ. Thả lỏng cho Dương Đình Nghệ về quê hương, đấy là nằm trong kế sách ràng buộc lỏng lẻo (Kimi) của nhà Hán (Đại Việt sử kí toàn thư quyển 5 phần 2).

Lý Tiến thấy lực lượng của Dương Đình Nghệ ngày một hùng mạnh có ý sợ hãi gửi tấu sớ về báo cho vua Hán.

Thời cơ chín mùi, thấy lực lượng đã đủ mạnh, tháng 12 năm Tân Mùi (931) vào mùa đông, Dương Đình Nghệ liền kéo đại quân “bát vạn hùng binh, tam thiên nghĩa sĩ” từ Thanh Hóa ra vây đánh Lý Tiến chiếm thành Đại La, thủ phủ của quân Nam Hán. Mũi tiến quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy, một mũi khác do Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) nắm đã kịp thời phối hợp với lực lượng của Đinh Công Trứ vây đánh quyết liệt Đại La. Thứ sử Lý Tiến vội cấp báo về Quảng Châu cầu cứu, chúa Nam Hán sai Thừa Chí Trần Bảo đem quân cứu viện. Viện binh địch chưa sang đến nơi, thành Đại La đã rơi vào tay Dương Đình Nghệ. Tướng giặc là Lý Khắc Chính bị giết, Thứ sử Lý Tiến vội vàng phá vòng vây đem tàn quân tháo chạy về nước.

Khi viện binh địch ồ ạt kéo sang, Dương Đình Nghệ chủ động rời thành đem quân phục kích những nơi hiểm yếu và tấn công các doanh trại dã ngoại của địch. Trước sự tiến công vũ bão của quân ta, quân Nam Hán hoàn toàn tan rã, tướng Trần Bảo bị giết tại trận, lực lượng còn lại bị quân ta truy kích chạy tán loạn về nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ đã thắng lợi trọn vẹn. Giành được non sông đất nước, ông tự lập mình làm Tiết độ sứ. Đánh bại liên tiếp hai đạo quân Nam Hán, hạ thành, giết tướng cứu viện; đánh trận đối đầu thắng ngay không cần dùng chiến thuật du kích, vu hồi, trường kỳ…, Dương Đình Nghệ đã chứng tỏ ông là một tướng thiện chiến và huấn luyện được một đạo quân tinh nhuệ. Ông xứng đáng là người họ Dương anh hùng cái thế đã dựng nền độc lập tự chủ cho nước Nam.

Dương Đình Nghệ tự xưng là tiết độ sứ cai quản đất nước. Ông đã giao cho con rể là Ngô Quyền làm thứ sử Ái châu, Đinh Công Trứ (bố Đinh Bộ Lĩnh) được cử làm thứ sử Hoan châu. Với tầm nhìn chiến lược, sáng suốt trong 6 năm (931-937), ông đã tập trung sức lực xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt, tiếp tục thực hiện các cải cách dưới thời họ Khúc, tổ chức lại các cấp hành chính từ Trung ương xuống địa phương, vươn xuống tổ chức cơ sở của xã hội (giáp,                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            xã) để tăng cường quyền lực của Nhà nước Trung ương, sửa lại chế độ điền tô, thuế má, bình quân thuế ruộng, xóa bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Về chính trị theo đạo lý của họ Khúc: “Chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Bộ mặt đất nước bước đầu đã có chuyển biến thuận lợi, đời sống nhân dân dễ chịu hơn trước.

Kiều Công Tiễn vốn là Hào trưởng Phong châu vào Thanh Hóa làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ. Năm 931 theo Dương Đình Nghệ tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Nam Hán về nước. Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ, Tiễn được giao làm Thứ sử Phong Châu. Sau thành công này, Kiều Công Tiễn là một danh tướng được Dương Đình Nghệ tin cậy đã đắc ý sinh kiêu và âm mưu phản nghịch. Tháng 4- 937, Tiễn cùng với người em ruột là Kiều Thuận lên kế hoạch ám sát Dương Đình Nghệ, chiếm đóng thành Đại La rồi tự xưng là Tiết độ sứ và nắm quyền trị nước.

Nhân dân ta vô cùng căm phẫn, nổi lên chống lại tên phản bội Kiều Công Tiễn. Nghe tin Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại, Ngô Quyền cùng Dương Tam Kha ra bắc diệt Kiều Công Tiễn và đón đánh quân Nam Hán lấy cớ cứu viện Kiều Công Tiễn để cướp nước ta.

Chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng cuối năm 938 đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1000 năm dưới ách thống trị của phương Bắc. Chính nhờ có thế lực của Dương Đình Nghệ, đã tạo ra từ 923 được củng cố trong 6 năm cai quản đất nước và được cha vợ tin yêu giao trọng trách, Ngô Quyền (897-944), người anh hùng dân tộc đã làm nên sự nghiệp lớn lao, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của đất nước ta. Có thể khẳng định rằng không có Dương Đình Nghệ và lực lượng của ông thì không có chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng cuối năm 938. Trong sự nghiệp chiến đấu vì nền tự chủ của nước nhà, bản thân Dương Đình Nghệ là một danh tướng dũng mãnh, mưu lược, kiên cường, bất khuất, nên khi mất, ở đền thờ ông có câu đối:

“Dưỡng tam thiên nghĩa sĩ dĩ phục thù băng băng kinh khí

 Chưởng bát vạn hùng binh nhi xuất chiến lẫm lẫm uy danh”

Tạm dịch:

 Nuôi ba ngàn nghĩa sĩ để phục thù bừng bừng khí dũng

 Cầm đầu tám vạn quân xuất trận lẫm lẫm uy danh”

Ngoài ra, các con trai, con gái của ông là Dương Tam Kha, Dương Thị Như Ngọc đều một lòng vì nước, vì dân, có nhiều công lao với đất nước. Dương Tam Kha đã tham gia cùng cha đánh chiếm thành Đại La, đuổi giặc về nước, diệt Kiều Công Tiễn, tham gia trận đánh trên sông Bạch Đằng với Ngô Quyền, chém tướng Hoàng Thao.

Tóm lại, Dương Đình Nghệ là một hào trưởng lâu đời ở Ái Châu thuộc dòng họ tuấn tú, hào kiệt, có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc, các con trai, con gái, con rể và cả cháu gái (Dương Vân Nga), cháu rể Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn (sau này) cùng 3000 con nuôi, đều dốc lòng vì nước, vì dân, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh, trong hàng mấy chục năm trời (từ 923 đến 938 đến 950) lo xây dựng, củng cố lực lượng, đánh thắng giặc ngoại xâm, xây dựng nền tự chủ, độc lập nước nhà, kết thúc 1000 năm đô hộ của phương Bắc, làm rạng rỡ non sông, đất nước Việt. Đó cũng là một gia đình, một dòng họ vì nước có một không hai ở đất nước ta cách đây gần 11 thế kỷ. (chắt ngoại của ông là Lê thị Phất Ngân, con gái Dương Vân Nga cũng lấy Lý Công Uẩn- vị vua anh minh của triều đại nhà Lý).

Dương Đình Nghệ thật sự là nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc, xuất chúng, có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, là một trong những người anh hùng đặt nền móng cho nền tự chủ, độc lập lâu dài của đất nước từ thế kỷ thứ X. Ông cũng là người khởi đầu sự nghiệp của họ Dương đối với đất nước, tạo nên truyền thống yêu nước từ xa xưa, làm cơ sở tư tưởng cho dòng họ kế thừa và phát huy mãi về sau. Lịch sử đã nêu cao tên tuổi người anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ. Vị thế của cụ Dương Đình Nghệ tương tự như 1 trong những ngôi vua đầu tiên của nước ta. Cụ đứng ngôi được 6 năm.

Anh hùng Dương Đình Nghệ

(Theo chính sử)

Giúp họ Khúc trừ kẻ thù phương Bắc

Người anh hùng từ lò võ quê hương

Nuôi chí lớn cùng 3000 nghĩa sĩ

Ba lần diệt giặc thù thu lại cả giang sơn

 

Dương Đình Nghệ hào khí người Dương tộc

Từ làng Giàng bùng cháy ngọn lửa thiêng

Thành cọc nhọn chôn vùi quân Nam Hán

Thu lại trời Nam kiêu hãnh rể Ngô Quyền.

Lời bàn: Về Dương Đình nghệ còn có nhiều tư liệu khác nhau như:

– Cùng một nguồn tư liệu cho là có xuất xứ từ cụ tổ Dương Hữu tự Do thì:          Ngày sinh của cụ Nghệ là 16-2-874 (Gia phả Lý Dương) hay 10-10-874 (gia phả Cổ Lễ)?

– Năm 904, Chu Toàn Dục điều động cụ về làm Thứ sử Thanh Hóa lập ra ấp Giàng, thì đang ở Thanh Hóa, thời gian nào cụ chiêu mộ quân khởi nghĩa ở vùng Côn Sơn và làm nha tướng cho họ Khúc đánh thành Tống Bình năm 905? (Một năm không làm được những việc đó). Sao Dục lại điều được nha tướng của họ Khúc? Năm 904 cụ mới 30 tuổi, Dương Tam Kha 9 tuổi, sao cụ có thể di cư mang theo 3000 nghĩa tử vào Thanh Hóa được? (Dương tộc kỷ sử lại viết năm 894, Dương Đình Nghệ di cư vào Thanh Hóa?) Phải sau 923, khi Khúc Thừa Mỹ bị bắt, cụ rút về Thanh Hóa, khi ấy tập hợp lực lượng mới có 3000 nghĩa tử này. Tư liệu theo nguồn DTKS, ghi ở các cuốn khác nhau có lẽ là chưa đúng. Do vậy khai thác tư liệu từ DTKS, ta càng phải thận trọng.

– Về thời điểm Khúc Thừa Mỹ bị nhà Hán bắt là năm 923 hay 930?

Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử lược chép là tháng 7-923 trước khi nhà Lương mất 3 tháng. Sử Trung quốc Tư trị thông giám cương mục chép là năm 930.

Tác giả chọn năm 923 vì Khúc Thừa Mỹ theo nhà Lương gọi nhà Hán là ngụy nên khi nhà Lương sắp mất, nhà Hán sai Lý Khắc Chính đánh bắt mà không sợ bị nhà Lương ngăn cản.  Năm 923, Dương Đình Nghệ thấy Khúc Thừa Mỹ bị bắt đã mang quân từ Châu Ái ra đánh Đại La, sau nhà Hán mua chuộc trao chức thứ sử châu Ái cho Dương Đình Nghệ để ràng buộc. Từ 923 đến 931, sau 8 năm gây dựng lực lượng đủ mạnh, Dương Đình Nghệ mang quân ra đánh chiếm Đại La và tự xưng là Tiết độ sứ.

Nếu năm 930 Khúc Thừa Mỹ mới bị bắt thì sau 1 năm đến 931, Dương Đình Nghệ chưa đủ thời gian thu nạp 3000 nghĩa tử và có đủ đội quân hùng mạnh chống nhà Hán.

  1. Dương Tam Kha

Dương Tam Kha, còn có tên là Dương Chủ Tướng, con của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, sinh năm 895 tại quê hương ở làng Dương Xá (tên nôm là làng Giàng), huyện Thiệu Hóa – Thanh Hóa. Dương Tam Kha là tướng tài của Dương Đình Nghệ, được tôn vinh là Dương Chủ tướng đứng đầu rèn luyện 3000 nghĩa sĩ tại lò võ làng Giàng. (Theo Dương Thanh Ninh, Trưởng ban Quản lý DTLS đền thờ Dương Đình Nghệ tại làng Giàng, Thanh Hóa).

Tháng 12 năm Tân Mùi (931), Dương Đình Nghệ kéo đại quân vây đánh Lý Tiến chiếm thành Đại La. Mũi tiến quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy, một mũi khác do Dương Tam Kha nắm đã kịp thời phối hợp với lực lượng của Đinh Công Trứ vây đánh quyết liệt Đại La. Chúa Nam Hán sai Thừa chí Trần Bảo đem quân cứu viện. Viện binh địch chưa sang đến nơi, thành Đại La đã rơi vào tay Dương Đình Nghệ.

Năm 938, nghe tin Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại, đang được cử làm Thứ sử châu Ái, Ngô Quyền kéo đại binh ra Bắc hỏi tội họ Kiều. Biết là Kiều Công Tiễn cầu cứu, nay mai giặc Hán sẽ nhân thể sang chiếm nước ta bằng đường thủy (sở trường của nhà Nam Hán), Ngô Quyền cử Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập đi diệt Kiều Công Tiễn ở Đại La, còn Ngô Quyền ra vùng sông Cấm (Hải Phòng ngày nay) lập thủy trận.

Dương Tam Kha diệt Kiều Công Tiễn xong cũng cùng Ngô Xương Ngập quay xuống vùng sông Cấm hội quân.

Ngô Quyền đã chọn kế sách đóng cọc nhọn dưới lòng sông Bạch Đằng để lập trận điạ mai phục (theo thần tích xã Lương Xâm, Hải An, Hải Phòng là do Ngô Xương Ngập hiến kế). Dương Tam Kha chỉ huy việc đóng cọc trên sông, sai các tướng là Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi chặt 3.000 cây gỗ lim, sến, đầu được vạt nhọn và bịt sắt đường kính 20-40 phân dài 4m đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm (hơn 1,5km). Hàng cọc được cắm xuống lòng song thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn.

Theo kế hoạch tác chiến, Dương Tam Kha chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn, mai phục sẵn, phối hợp thủy quân đánh tạt sườn đội hình quân địch. Từ cửa biển ngược lên phía trên không xa, một đạo thủy quân mạnh phục sẵn do chính Ngô Quyền chỉ huy chặn ngay đường tiến lên của địch, chờ khi nước xuống sẽ phản công.

Trận địa bố trí xong thì binh thuyền Nam Hán kéo đến. Quân ta đợi lúc nước triều cường, đem đội khinh thuyền ra cửa sông khiêu chiến rồi giả thua chạy. Hoằng Tháo quả nhiên mắc mưu, thúc quân chèo thuyền, lũ lượt tiến qua bãi cọc đi sâu vào trong sông. Khi nước xuống, Ngô Quyền đem đại quân phản công đánh quyết liệt. Dương Tam Kha cho quân bản bộ dùng mũi tên dài ở hai bờ bắn xả vào quân giặc, rừng cọc gỗ lim nhô đầu nhọn lên mặt nước. Thuyền Nam Hán bị trúng cọc bọc sắt, đua nhau chìm, lật. Ngô Quyền và Dương Tam Kha truy đuổi giặc ráo riết. Tướng giặc là Lưu Hoằng Tháo bị Dương Tam Kha chém tại trận. Quân Hán đại bại.

Như vậy trong cuộc chiến với giặc Nam Hán, Dương Tam Kha đã tôn trọng tài năng và phục tùng làm bộ tướng cho Ngô Quyền. Ông có công lớn chỉ đứng sau Ngô Quyền. Bản thân ông đã trực tiếp diệt Kiều Công Tiễn và Hoằng Tháo. Ông đã lập công lớn giúp Ngô Quyền lên ngôi vương. Dương Tam Kha xứng đáng là danh tướng tài ba của dân tộc. Không có Dương Tam Kha thì Ngô Quyền khó có thể lập chiến công lừng lẫy đem lại độc lập cho đất nước.

Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), Dương Tam Kha bỏ qua các con Ngô Quyền và tự xưng vương. Xét ra Dương Tam Kha lên ngôi cũng hợp lẽ vì ông chỉ lấy lại ngôi của Dương Đình Nghệ khi xưa. Đúng như quan điểm ngày nay của sử gia Lê Văn Lan “Việc tự lập của Dương Tam Kha chính là việc nối lại chính thống của và từ nhà Dương. Đứng đầu và khởi đầu là Dương Đình Nghệ” Bản chất là ông thấy trách nhiệm của mình với quốc gia phải trực tiếp gánh vác trọng trách để giữ ổn định đất nước. Dương Tam Kha không phụ lời ủy thác của Ngô Quyền mà thực hiện việc ủy thác ấy phù hợp với tình hình thực tế và lợi ích quốc gia, không để người kém đức như Ngô Xương Ngập lên ngôi ngay mà để chờ Ngô Xương Văn trưởng thành, lúc ấy mới trả ngôi cho cháu.

Trong 5 năm trị vì, Dương Tam Kha đã kịp làm được một số việc lớn như cử Dương Tế Mỹ, Dương Thiên Hòa, Nguyễn Vị Bình làm xong việc phân chia địa giới, cắt cử quan lại cai trị ở các địa phương, đắp đê ngăn lũ lụt Tường Xà qua địa phận 355 ấp (năm 946).

Năm 950, Ngô Xương Văn giành lại ngôi vua từ Dương Tam Kha. Thấy Dương Tam Kha có công nuôi nấng mình và có lẽ vì phe cánh của Tam Kha cũng lớn nên Ngô Xương Văn không dám giết cậu ruột, chỉ giáng làm Trương Dương công và cho ăn lộc ở ấp Chương Dương, nay là xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Dương Tam Kha, với tấm lòng vì dân, vì nước, ông đã về Chương Dương dạy dân trồng trọt, chăn nuôi. Một lần nữa người ta thấy Dương Tam Kha biết hy sinh quyền lợi cá nhân mình để cho đất nước yên bình. Vào giữa thế kỷ X, vùng đất Chương Dương vẫn là một vùng hoang vắng, dân cư thưa thớt. Vùng đất ấy còn mang tên “Chân Giang”, có nghĩa là vùng đất nằm kề bên sông, khi nước lên thì ngập lụt, và khi mùa thu đến thì nước rút, lộ ra bãi bồi màu mỡ để cày cấy, trồng trọt. Trong một thời gian ngắn, Dương Tam Kha đã dày công cải tạo vùng đất hoang hóa thành vùng quê khá sầm uất.

Năm 953, Dương Tam Kha cùng gia quyến và thuộc hạ tiếp tục đi xuống phía Nam để khai khẩn vùng đất mới: Giao Thủy (Nam Định) – một vùng đất đai màu mỡ, dân thuần, tục hậu. Ông chiêu tập nhân dân cải tạo các bãi đất hoang hóa, sình lầy, lau lác um tùm thành những cánh đồng trù phú. Dương Tam Kha còn dạy dân làm thủy lợi, khơi sông ngòi, đắp đê phòng lụt, nhờ vậy mùa màng liên tiếp bội thu, xóm làng ngày càng sầm uất, đông vui. Cùng với việc quan tâm phát triển sản xuất, ông còn chú trọng xây dựng thuần phong mỹ tục tại nơi làng quê mới. Dương Tam Kha đã cho tùy tướng và gia đình nội ngoại khai khẩn được trên 500 mẫu ruộng và khơi ngòi thành 5 dải lập nên làng mới ứng với 5 trại thành ấp Tùng Khê, gồm: Tùng Khê, Trúc Khê, Lệ Khê, Lộ Khê và Nga Khê.

Năm Canh Thìn (980), Dương Tam Kha trở lại quê cũ làng Giàng (Thiệu Dương, Thanh Hóa). Dương Tam Kha có 3 bà vợ, sinh được 10 con trai và 9 con gái. Ông để 5 con trai ở lại tiếp tục sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp ở Tùng Khê và đưa 5 người con trở về quê Thanh Hóa. Đứng đầu chi họ Dương tại làng Giàng là người con trưởng Dương Đại Thiện, còn đứng đầu chi họ Dương ở Tùng Khê là con trai thứ hai Dương Tiên Du. Hậu duệ của ông trở thành tổ của các chi ngành họ Dương hùng mạnh ở Nam Định (Dương Cả) và Thanh Hóa.

Vào cuối đời, khi biết nhà Tống có dã tâm bành trướng xâm lược Đại Cồ Việt do Lê Hoàn- con rể làm Hoàng đế và Dương Vân Nga- con gái làm Hoàng hậu, Dương Tam Kha đã sai con trai là Dương Quý Khách lập khu phòng tuyến dự bị Lỗ Mau (Thành Đạt, Thiệu Long, Thiệu Hóa, Thanh Hóa) để phòng quân Tống chiếm được Giao Châu tràn xuống. Dấu tích còn lại sau này là các địa danh: Đồng Kho (nơi để kho), Đồng Bến (nơi chiến thuyền của thủy quân đóng), Đồng Cầu (nơi bắc cầu cho quân lính qua lại), Đồng Yên (nơi chăn nuôi, tập trung kỵ binh)… Sau khi Lê Hoàn thắng Tống, nơi phòng tuyến ấy trở  thành thực ấp của họ Dương.

Ông đã mất tại quê hương Thiệu Dương, Thanh Hóa vào ngày mùng 10 tháng 8 năm 980, thọ 85 tuổi (theo lí lịch tại đền thờ Dương Tam Kha là 16-2-981).

Là nguời tài giỏi có thế lực, có 10 con trai phương trưởng giỏi giang song Dương Tam Kha không cho các con theo nghiệp võ, tránh xa quan trường mà chỉ làm kinh tế khai thiên lập địa để chấn hưng đất nước và sau đó cũng không hề làm ảnh hưởng gì đến nhà Ngô. Ông sáng suốt nhận ra thế nước muốn sớm ổn định thì phải dẹp loạn. Ông đã có con mắt tinh đời, tin tưởng vào Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh (tên thật là Đinh Hoàn) đi đánh dẹp Bình Kiều (Triệu Sơn- Thanh Hóa) của sứ quân Ngô Xương Xí qua thăm ông, Dương Tam Kha đã gả con gái là Dương Vân Nga cho Đinh Bộ Lĩnh. Chính ông đã thuyết phục xứ quân Ngô Xương Xí theo về họ Đinh, góp phần đưa non sông về một mối, giữ vững nền tự chủ. Dương Tam Kha là người có công lớn trong việc mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế làm phồn vinh và thống nhất đất nước. Sau khi Dương Tam Kha mất, nhân dân vùng Chương Dương đã lập đền thờ suy tôn ông là Thành hoàng làng. Trong đền thờ còn lưu giữ một cuốn thần phả- Chương Dương thần kỳ ký – và 28 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến. Dương Tam Kha là vị phúc thần của 4 xã – tức 4 làng (Chương Dương, Kỳ Dương, Thư Dương, Chương Lộc) của tổng Chương Dương xưa, ông được tôn vinh mỹ tự là “Bột Hải Hoàng đế”.

Trong đền Chương Dương còn 3 bức hoành phi có 6 đôi câu đối, nội dung đều ca tụng công đức của Dương Tam Kha, trong đó điển hình là câu:

“Lục tải xưng vương truyền nội sử

Thiên thu thực ấp hiển dư linh”

Dịch nghĩa:

“Sáu năm xưng vương ngời sử sách

Nghìn thu thực ấp rạng uy linh”.

Nhiều nhà khoa bảng đã về thăm thực ấp Chương Dương của Dương Tam Kha, trước “dư linh” của ông, họ đã làm thơ bày tỏ niềm khâm phục sự nghiệp của vị Chương Dương công này. Trong tập “Sơn Nam phong vật chí”, Tiến sĩ Hà Trong Quyền (1798-1839) có bài “Quá Dương công thực phong ấp” (Qua thực ấp của Dương công). Trong đó, qua 2 câu thực của bài, ta thấy tác giả rất khâm phục tài cao, đức lớn của Dương Tam Kha:

“Nhân” vô trọng vị, xưng điền lão

“Trí” bảo hoàng đồ hoạch địa lô

Tạm dịch:

“Nhân” không tham ngôi lớn, mà chỉ nguyện làm ông già với đồng ruộng. “Trí” để giữ gìn cơ nghiệp hoàng gia, nên vạch kế phân định đất đai.

Rõ ràng, đó là cái nhìn của một nhà Nho minh triết và công tâm đối với công đức của Dương Tam Kha.

Do có nhiều công lao, Dương Tam Kha được lập đền thờ ở nhiều nơi như: Xã Chương Dương, huyện Thường TínHà Nội; Thị trấn Cổ LễTrực NinhNam Định; Xóm Kiều Nguyễn, xã Tống Trân, huyện Phù CừHưng Yên; Làng Thành Đạt, xã Thiệu Long, huyện Thiệu HóaThanh Hóa.

Kết luận bài viết, đánh giá toàn diện về Dương Tam Kha, chúng ta thấy cần loại bỏ thiên kiến hẹp hòi phiến diện của sử gia phong kiến khi xưa (Đại Việt sử ký toàn thư chép vào thời Trần sau đó 250 năm). Trả lại vị thế xứng đáng của Dương Tam Kha trong lịch sử dân tộc. Cần có sự công tâm và đánh giá đúng về công trạng của cụ. Với con mắt minh triết, nhìn lại lịch sử soán ngôi của các vương triều trong ngàn năm qua, các vua quan triều Nguyễn đã nhất trí với dân cư bản hạt nhớ ơn Dương Tam Kha, tôn cụ là phúc thần và các triều đình đã ban rất nhiều thần sắc, phong cụ là Thành hoàng bản cảnh các địa phương. Dương Tam Kha đã là Thánh nhân trong lòng người dân Việt.

Bình Vương Dương Tam Kha

(Theo chính sử)

Tướng đứng đầu trong ba ngàn nghĩa sỹ

Dương Tam Kha người xuất chúng kiêu hùng

Trừ Công Tiễn trả thù cha rửa hận

Chém Hoằng Tháo rạng rỡ Bạch Đằng Giang

 

Kế tiếp Ngô Quyền người nắm giữ ngôi vương

Mang tài trí giữ an dân bảo quốc

Rời ngôi báu người về cùng non nước

Khai khẩn đất hoang vùng Cổ Lễ, Chương Dương

Khi là tướng, người hiển hách võ công

Khi là dân, người mở mang bờ cõi

Lừng lẫy bốn phương chí anh hùng cao vời vợi

Tuổi hạc về Thanh Hóa giúp quê hương

Người đã làm rạng danh dòng máu họ Dương

Bảo vệ non sông dựng xây đất nước

Tri ân nghĩa tổ tiên từ thuở trước

Xây Lăng Người con cháu kính dâng hương.

Lời bàn:       

Xét về việc cướp ngôi, ta thấy khi Ngô Quyền mất thì Dương Tam Kha là tướng tài, hơn tuổi Ngô Quyền, có trách nhiệm chính với quốc gia dân tộc, có toàn quyền hành sử, lấy lợi ích quốc gia là tối thượng. Ông thực hiện di chúc theo cách của ông là trách nhiệm và vai trò của ông vì sự an nguy của đất nước. (DTKS chép Dương Tam Kha còn ít tuổi, thắng trận, Ngô Quyền lên ngôi hoàng đế bỏ rơi cụ tổ Dương Tam Kha là không đúng-DAD).

Trong buổi đầu dựng nước, một vương triều đầu tiên non trẻ của nước ta hình thành. Vào thời kỳ ấy, khi Nho giáo chưa nắm giữ vị trí độc tôn trong đời sống tư tưởng của tầng lớp lãnh đạo đất nước, cũng như nhân dân thì người ta ít chú ý tới cái gọi “Chế độ tông pháp”, tức là “cha truyền con nối”. Do vậy, việc một người có tài năng, có uy tín là con trai Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ như Dương Tam Kha gạt bỏ Ngô Xương Ngập, gánh vác sự nghiệp làm chủ đất nước là một việc làm bình thường dễ hiểu. Chứng cứ là Ngô Quyền (trước Dương Tam Kha) cũng xưng vương vào năm 939 sau khi giết chết Kiều Công Tiễn. Lẽ ra, theo đúng đạo “Tam cương” thì Ngô Quyền phải trả ngôi Vương cho Dương Tam Kha là con Dương Đình Nghệ vừa là lãnh tụ, vừa là nhạc phụ của ông. Sau này, vào năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, thì Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cùng phù Vệ vương Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua. Nhưng trước nguy cơ nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Lê Hoàn không giữ chữ “Trung” như thường tình mà “rời Đinh Toàn ra nhà khác, cấm cố cả họ Đinh, lên thay thống lĩnh”. Hành động đúng đắn được lịch sử ca ngợi trên đây cũng bị các sứ thần phong kiến thời ấy phê phán tựa như phê phán đối với Dương Tam Kha trước đó.

Nhưng sau này, Lê Hoàn mở đầu một nhà Tiền Lê thắng nhà Tống, lập nên một vương triều vững mạnh thì sử sách đã ca ngợi Lê Hoàn. Trong khi tương tự, nhưng Dương Tam Kha lại mất ngôi về nhà Ngô, không duy trì được vương triều họ Dương nên lịch sử không viết lại để tôn vinh ông như Lê Hoàn mà thôi.

Một lý do quan trọng khiến Dương Tam Kha phải tự xưng vương là vì thấy đất nước có nguy cơ nhiễu loạn, nhà Ngô chỉ nắm được vùng Giao Chỉ cũ còn các khu vực khác vẫn do hào trưởng các địa phương cát cứ, mặt khác ông lại thấy hai con của Ngô Quyền hèn yếu, không kham nổi triều chính. Ngô Xương Ngập kém đạo đức, Ngô Xương Văn còn trẻ dại, nên Dương Tam Kha tự thấy mình phải gánh vác trọng trách để giữ yên đất nước. Ông nhận Ngô Xương Văn là cháu ruột làm con nuôi với mục đích khi cháu trưởng thành thì sẽ truyền lại ngôi vương cho cháu. Tâm thế này của Dương Tam Kha là rất sáng suốt bởi lẽ thực tế sau này đã chứng minh, khi con Ngô Quyền giành lại ngôi thì đã hình thành một nước có hai vua, chỉ trong thời gian ngắn, hai anh em Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập và Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đã xảy ra hiềm khích, mâu thuẫn nặng nề. Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập chuyên quyền thâu tóm mọi quyền hành, đẩy Nam Tấn vương Ngô Xương Văn vào thế không được tham gia chính trị gì nữa. Đến năm 954, Ngô Xương Ngập bị thượng mã phong mất, Ngô Xương Văn nắm chính quyền. Thấy lực lượng của mình yếu ớt, Ngô Xương Văn hèn nhát cúi đầu xin thần phục dâng nước và nhận làm phiên thuộc cho nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Thạnh, phong cho Ngô Xương Văn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm đô hộ.

Như vậy, hậu duệ Ngô Quyền đã phản lại tổ tiên dâng nước cho Nam Hán, đánh mất nền độc lập tự chủ cha ông mình gây dựng. Sau khi dẹp loạn ở Sơn Tây năm 965, Ngô Xương Văn bị trúng tên chết, cơ đồ của hai họ Dương Ngô gây dựng bị tiêu vong, đất nước chìm trong loạn 12 xứ quân. Chỉ có việc tự lên ngôi của Dương Tam Kha nên đất nước ta mới được 6 năm thái bình thịnh trị.

Dương Tam Kha là con người thuần phác nghĩa khí, biết cha mình trọng dụng Ngô Quyền là tướng tài, cho làm Thứ sử Châu Ái, ông tôn trọng tài năng của anh rể Ngô Quyền; khi ra Bắc, Dương Tam Kha phục tùng làm bộ tướng đi tiên phong diệt Kiều Công Tiễn, kể cả khi Ngô Quyền lên ngôi, ông cũng không băn khoăn gì về việc mình mới chính là hậu duệ của Dương Đình Nghệ. Khi Ngô Quyền mất năm 944, chỉ vì đại cục mà Dương Tam Kha phải tự xưng vương.

Xét ra Ngô Xương Văn cũng là kẻ vong ân bội nghĩa, không vì quốc gia dân tộc, chỉ vì ngai vàng mà bất nghĩa lừa bắt cả cậu ruột và là cha nuôi. Song vì đức độ của Dương Tam Kha quá lớn, và cũng vì biết ơn ông, nên Xương Văn không giết Tam Kha mà chỉ giáng ông xuống làm Chương Dương sứ.

Điều này cho thấy nếu Dương Tam Kha thực sự có ý cướp ngôi thì đã diệt hậu duệ nhà Ngô và lịch sử đã có một vương triều họ Dương. Nếu Ngô Xương Văn hận thù diệt Dương Tam Kha thì đất nước đã mất đi một nhân tài có công 30 năm mở mang bờ cõi, chăm lo dạy bảo cho dân chúng hai vùng Thường Tín và Nam Định cách làm ăn. Đấy chính là thành quả của tài năng đức độ, là thành công của Dương Tam Kha. Các nhà nghiên cứu sử học hiện đại thời nay đều  thống nhất cao với nhận định này.

Dương Tam Kha làm vua, đất nước tương đối ổn định và thái bình thịnh trị. Nói Dương Tam Kha lên làm vua, tự xưng là Bình Vương khiến tình hình đất nước ta lúc bấy giờ rối loạn và đó chính là nguyên nhân cho các địa phương cát cứ và loạn 12 sứ quân sau đó diễn ra là nói sai. Mầm cát cứ đã có từ năm 905, tồn tại ngay cả khi Ngô Quyền lên ngôi vương, như ngọn lửa âm ỷ cháy, chỉ từ khi đất nước có hai vua, mâu thuẫn nhau thì nó mới bùng cháy thành biển lửa loạn 12 xứ quân.

Thực ra, nếu Dương Tam Kha có điều gì đáng trách, thì chính là trách ông quá sơ hở về chính trị và quá tin tưởng vào người con nuôi, vừa là cháu gọi ông bằng cậu là Ngô Xương Văn, để cho Xương Văn giành lại ngôi vua từ tay mình một cách dễ dàng.

Có lẽ các nhà sử học thời đại ngày nay nên xóa cụm từ “cướp ngôi” và thay bằng “lấy lại ngôi”. Bởi lẽ ngàn năm sau này, các triều đại và ngay cả trong từng triều đại, việc lấy lại ngôi như thế diễn ra là bình thường theo quy luật thịnh suy của trời đất.

  1. Dương Như Ngọc

Dương Như Ngọc (còn có tên là Dương Thị Vy) quê ở làng Giàng, xã Dương Xá, Ái Châu (nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá), sinh khoảng trước năm 894, là con gái lớn của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, một hào trưởng có thế lực mạnh. Thời chính quyền họ Khúc, Dương Đình Nghệ là một bộ tướng, đồng thời là một thủ lĩnh lớn ở Ái Châu, có đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh lật đổ ách đô hộ của phương Bắc.

Tương truyền khi người vợ của Dương Đình Nghệ mang thai, bà mộng thấy có tiên nữ từ trên trời bay xuống, tay cầm viên ngọc trắng đến xin làm con. Đến khi trở dạ, bà sinh hạ một bé gái trắng trẻo, xinh đẹp, lúc đó trong phòng thoang thoảng hương thơm dịu mát.

Dương Đình Nghệ cùng mọi người trong nhà đều lấy làm lạ, dựa theo giấc mộng của vợ, ông đặt tên cho con là Dương Thị Như Ngọc với nghĩa như viên ngọc quý, lại dung nhan đẹp đẽ, tinh khiết như ngọc.

Lớn lên, Như Ngọc ngày càng xinh đẹp như tiên nga giáng thế, cử chỉ đoan trang, dáng điệu quý phái. Không chỉ giỏi nữ công gia chánh, được rèn trong lò võ Dương Xá ở quê hương nên Dương Thị Như Ngọc còn tinh thông côn quyền, võ nghệ.

Lúc Dương Thị Như Ngọc trưởng thành cũng là lúc đất nước đang chịu ách đô hộ của ngoại bang kể từ tháng 7 năm Qúy Mùi (923) sau khi quân Nam Hán bắt được Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ.

Báo thù cho họ Khúc, Dương Đình Nghệ mang quân từ Thanh Hóa ra đánh Lý Khắc Chính phải chạy về Nam Hán. Nhà Hán đã mua chuộc trao chức Thứ sử châu Ái cho Dương Đình Nghệ. Để tránh đụng độ với quân của nhà Hán trong khi lực lượng chưa đủ mạnh, Dương Đình Nghệ tạm thời chấp nhận tước vị và hòa hoãn với nhà Hán. Ông về lại làng Giàng, Thanh Hóa chiêu tập lực lượng, riêng nghĩa sĩ lúc này lên đến 3000 con nuôi, trong đó có Ngô Quyền.

Khi Ngô Quyền tìm về dưới trướng Hào trưởng Dương Đình Nghệ, đã dẫn theo vợ là Dương Phương Lan. Thấy Ngô Quyền trẻ tuổi nhưng có tài, lại là con trai của Hào trưởng Ngô Mân, một người bạn cũ từng làm nha tướng với mình thời chính quyền họ Khúc nên Dương Đình Nghệ rất yêu mến cho Ngô Quyền làm nha tướng, lại đặc biệt đem con gái Dương Thị Như Ngọc gả cho, mặc dù ông biết rõ Ngô Quyền đã có vợ.

Dương Thị Như Ngọc là một phụ nữ có công lớn, giúp chồng (Ngô Quyền) lập đội nữ nương tử quân, tận tâm động viên lực lượng phụ nữ dốc tâm cứu nước. Vì khéo nhường nhịn nên tình cảm giữa hai người vợ của Ngô Quyền khá thắm thiết, họ coi nhau như chị em ruột, họ đã cùng nhau góp sức vào sự nghiệp đánh đuổi quân Nam Hán giành quyền tự chủ cho đất nước, rồi lại cùng nhau theo chồng đem quân diệt Kiều Công Tiễn để báo thù cho Dương Đình Nghệ sau khi ông bị giết hại vào năm Đinh Dậu (937).

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền lên ngôi vua đã phong Dương Thị Như Ngọc làm Hoàng hậu. Đây là bà hoàng đầu tiên của nước Việt thời kỳ độc lập, tự chủ. Sử chép: “Vua xưng vương, lập Dương thị làm Hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục” (Đại Việt sử ký toàn thư). Sau khi Ngô Quyền mất và qua 6 năm Bình Vương Dương Tam Kha nắm quyền; đến năm 950,  khi Ngô Xương Văn lên ngôi (tức Nam Tấn Vương 950 – 965), bà là Hoàng Thái hậu. Nam Tấn Vương cho người đi tìm người anh là Thái tử Ngô Xương Ngập trốn ở Nam Sách, đón về kinh đô và theo thỉnh cầu của Nam Tấn Vương, được Dương Thái hậu chuẩn tấu, cả hai anh em cùng làm vua. Như vậy nước ta lúc đó có hai vua cùng cai trị đất nước. Bà Dương Thị Như Ngọc xứng đáng là “Mẫu nghi thiên hạ” đầu tiên của nước ta vừa giành được độc lập, đã nêu gương sáng là “Anh thư nữ kiệt”, xử lý việc nước tài tình, có hai vua là sự kiện hiếm thấy ở đời.

Hoàng hậu Dương Thị Như Ngọc sinh cho vua Ngô nhiều con trai, đó là Ngô Xương Văn, Ngô Nam Hưng, Ngô Càn Hưng. Khi bà qua đời được an táng tại xứ Kê Lặc (nay thuộc thị trấn Vương, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên) và được phối thờ ở một số nơi cùng với vua Ngô Quyền.

Bà Dương Như Ngọc

(Theo Dương tộc kỷ sử)

Con nhà võ tài ba theo nghiệp võ

Gái họ Dương xây dựng đội nữ binh

Đã cùng cha đánh giặc chiếm La Thành

Thu đất nước từ tay quân Nam Hán

Giúp Ngô Quyền dựng lên cơ nghiệp lớn

Dương Như Ngọc đời sau còn mãi mãi lưu danh.

Lời bàn:

Ngoài việc khen ngợi bà, người đời sau còn chê bà là không minh mẫn, đã có quyết định thiếu sáng suốt là chuẩn tấu cho hai anh em Xương Ngập, Xương Văn cùng làm vua. Sau đó, Ngô Xương Ngập chuyên quyền, không cho Ngô Xương Văn tham gia chính sự. Ngô Xương Ngập còn định trừ Ngô Xương Văn để một mình làm vua, nhưng năm 954, Ngô Xương Ngập lâm bệnh thượng mã phong mà chết, làm vua được 4 năm. Con Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí không đủ tầm nối ngôi khi Ngô Xương Văn mất, phải rút về Thanh Hóa thành một sứ quân, sau được ông ngoại là Dương Tam Kha khuyên về theo Đinh Bộ Lĩnh.

Thử hỏi nếu lúc đó, Xương Ngập (không phải là con đẻ của bà) không chết thì ngai vàng về tay ai, Xương Văn con trai bà liệu có được toàn mạng mà làm vua không?

Bà đã không can ngăn Ngô Xương Văn khi thần phục nhà Hán, đưa đất nước vào tay ngoại bang và làm phân ly lòng người trong nước dẫn đến bùng phát loạn 12 xứ quân.

  1. Dương Phương Lan

Bà Dương Phương Lan, là vợ đầu của đức vua Ngô Quyền, quê tại Yên Nhân, xã Hòa Chính, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Bà là con ông Dương Công Đĩnh và bà Vũ Thị An. “Bà có nhan sắc tuyệt vời, mắt trong như nước hồ thu, mày cong như vầng trăng mới… Bà có tư chất khác thường, tuy là con gái nhưng thích đọc binh thư và rèn luyện cung kiếm. Ngô Quyền đi qua Chương Đức để vào Ái Châu đã gặp và kết duyên chồng vợ” (Theo thần phả tại đình Yên Nhân).  Nơi gặp gỡ của hai người là cầu Ba Trăng, Thượng Phúc (Thường Tín ngày nay).

Vào Thanh Hóa, Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ nhận là con nuôi và cho làm nha tướng. Mến tài năng của Ngô Quyền, Dương Đình Nghệ đã gả con gái là Dương Thị Như Ngọc cho, mặc dù biết Ngô Quyền đã có vợ.

Cũng như Dương Thị Như Ngọc, ngoài nghĩa phu thê, bà còn là một danh tướng của Ngô Quyền. Biết Dương Thị Như Ngọc xinh đẹp tài giỏi, là con gái vị hào trưởng danh tiếng vang dội, nên tuy lấy Ngô Quyền trước nhưng Dương Phương Lan khiêm tốn nhường cho Như Ngọc làm vợ cả ở địa vị chính thất, còn mình lui xuống làm vợ thứ. Vì khéo nhường nhịn nên tình cảm giữa hai người vợ của Ngô Quyền khá thắm thiết, họ coi nhau như chị em ruột, họ đã cùng nhau góp sức vào sự nghiệp đánh đuổi quân Nam Hán giành quyền tự chủ cho đất nước. Chính Dương Phương Lan đã thuyết phục Ngô Quyền chấp thuận việc đó, theo nàng thì địa vị chỉ là thứ bậc, quan trọng là thân gái phải biết lo đến sự nghiệp của chồng và đặc biệt là vẫn được ở bên chồng cùng thương yêu gắn bó.

Tháng 12 năm Tân Mùi (931) vào  mùa đông, Dương Đình Nghệ kéo đại quân “bát vạn hùng binh, tam thiên nghĩa sĩ” từ Thanh Hóa ra vây đánh Lý Tiến chiếm thành Đại La, thủ phủ của quân Nam Hán. Mũi tiến quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy có cả đội nữ binh của Dương Phương Lan và Dương Như Ngọc. Thắng trận, Ngô Quyền được trao giữ chức Thứ Sử châu Ái.

Khi Kiều Công Tiễn làm phản, bà Dương Phương Lan đã đem quân theo Dương Tam Kha diệt Kiều Công Tiễn để báo thù cho Dương Đình Nghệ.

Trận chiến Bạch Đằng Giang năm 938 chống giặc Nam Hán đại thắng lợi, Ngô Quyền xưng vương, phong bà Dương Thị Như Ngọc làm hoàng hậu, bà Dương Phương Lan làm vương phi. Sau khi Ngô Quyền mất, trong nước có nhiều biến động. Bọn Nguyễn Phường đã nổi lên quấy rối, bà Dương Phương Lan đã tình nguyện cầm quân dẹp loạn. Trong một trận chiến đấu vô cùng ác liệt, chẳng may bà bị trúng tên và anh dũng hy sinh, thi hài bà được quân sỹ đưa về Yên Nhân, quê bà, mai táng (Theo sưu tầm của Dương Đức Quang HDVN 16/3/2018).

Dân làng tại quê hương bản hạt của bà đã tôn bà là Phúc thần, lập miếu Đình thờ bà làm Thành hoàng làng, tôn vinh bà với vị thế xứng đáng trong lịch sử dân tộc.

  1. Dương Vân Nga

Dương Vân Nga (Dương Thị Ngọc Vân) là con gái Dương Tam Kha (có tư liệu bà sinh 928), cháu nội Dương Đình Nghệ quê ở làng Giàng, Thiệu Dương, Thanh Hóa. Tuổi thanh niên của bà theo cha làm kinh tế khai hoang phục hóa mở mang bờ cõi ở Chương Dương và Giao Thủy. Năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh (tên thật là Đinh Hoàn) đi đánh dẹp Bình Kiều (Triệu Sơn- Thanh Hóa) của sứ quân Ngô Xương Xí, qua thăm Dương Tam Kha, ông đã gả con gái là Dương Vân Nga cho Đinh Bộ Lĩnh (theo Lê Thị Nhâm Tuyết).

Dương Vân Nga là người con gái đẹp chim sa cá lặn. Có giai thoại kể về sắc đẹp của bà gắn liền với một tập tục kiêng trồng hoa quỳnh như sau:

“Tục truyền rằng sau khi được Vạn Thắng Vương đón về Hoa Lư làm hoàng hậu, Dương Vân Nga trở về cố hương bằng kiệu hoa lộng lẫy. Hoàng hậu muốn làm một đêm dạ tiệc thật ấn tượng để ban thưởng cho dân làng và truyền lệnh các thôn nữ tuổi từ 16 nếu muốn tham dự phải trùm khăn che mặt để không có ai đẹp vào đêm hội đó. Thế nhưng, khi đêm hội diễn ra dưới ánh trăng, trong lúc vẻ đẹp của Dương Vân Nga đang rạng ngời tỏa sáng trước bàn dân thiên hạ thì một luồng gió mát từ rừng cây thổi tới mang theo một mùi hương thơm ngào ngạt và quyến rũ. Mùi thơm đó hấp dẫn đến nỗi làm các tướng sỹ và thần dân mê mẩn, họ nhận ra đó là hương thơm của loài hoa quỳnh đang nở rộ. Dương Vân Nga rất giận liền lệnh cho quân lính nhổ hết những cây hoa đó và bỏ vào vùng rừng núi hoang vu phía tây. Từ đó,  người dân Gia Thủy, Gia Hưng đều có tục kiêng trồng hoa quỳnh và các hoa nở vào ban đêm. Riêng hoa quỳnh sau khi bị đày lên vùng núi rừng Cúc Phương thì chỉ đẹp khi được mọc ở nơi này”.

Sau khi dẹp xong “loạn 12 sứ quân”, thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) lên ngôi vua, lấy tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình. Là vị vua “tài năng, thông minh hơn người, dũng lược nhất đời”.

Làm hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng, năm 974, bà sinh cho vua hoàng tử Đinh Toàn.

Tháng 11 năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại. Đinh Toàn lên ngôi vua, Dương Vân Nga là thái hậu.

Đứng trước họa giặc Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Dương Vân Nga đã có quyết định táo bạo và sáng suốt là trao áo hoàng báo cho Lê Hoàn lên ngôi vương. Tình tiết như sau:

Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm Định Việt sử thông giám cương mục đều có chép lại:

“Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào nội phủ, nói với mọi người rằng: “Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”.

Quân sĩ nghe vậy đều hô “vạn tuế”. Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế. Từ đó Lê Hoàn lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Phúc vào đầu năm 980, giáng phong Đinh Toàn làm “Vệ vương”. Hành động mạnh dạn và sáng suốt của bà mở một lối thoát cho triều đình, tạo cơ sở pháp lý cho Lê Hoàn để lên thay nhà Đinh mà vẫn không mang tiếng là cướp ngôi.

Việc trao ngôi báu của nhà Đinh cho Lê Hoàn vào thời điểm đất nước Đại Cồ Việt đứng trước họa xâm lăng của nhà Tống đã được các sử gia phong kiến và các nhà nghiên cứu nhìn nhận, đánh giá: “Dương hậu đối với nhà Đinh tuy có khuyết điểm, nhưng đối với quốc dân, bà là một người hoàn toàn vô tội, nếu không kể là có công”.

Tháng 7/980, quân Tống xâm lược Đại Cồ Việt. Lê Hoàn vừa lên ngôi đã phải triển khai lực lượng kháng chiến đánh giặc bảo vệ đất nước. Đến tháng 3/981, cuộc kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy thắng lợi hoàn toàn. Vua Tống buộc phải xuống chiếu lui quân. Sau thắng lợi, Lê Hoàn dốc sức chăm lo xây dựng đất nước.

Năm 982, sau khi thắng giặc Tống và đoạn tang chồng, Lê Hoàn kết duyên cùng Dương Vân Nga. Khi này Lê Hoàn đã có 4 vợ, sau khi lấy ý kiến, các bà vợ đều kính nể Dương Vân Nga về tài, sắc và đồng ý tôn bà làm hoàng hậu, còn mình lui về thứ phi. Lê Hoàn phong Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Như vậy, Dương Vân Nga là người phụ nữ đặc biệt, hoàng hậu của 2 vị hoàng đế thời kỳ đầu lập quốc. Bà đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sang nhà Tiền Lê. Chính sử không cho biết hai người có bao nhiêu con, nhưng theo các thần tích ở cố đô Hoa Lư thì họ có một cô con gái tên Lê Thị Phất Ngân. Về sau, công chúa Phất Ngân được gả cho cho Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn – người mở đầu triều đại nhà Lý.

Cuối đời, hoàng hậu Dương Vân Nga tu hành tại động Am Tiên ở phía đông kinh thành Hoa Lư. Tại đây còn lưu giữ một bài thơ truyền khẩu khắc trên tường chùa tóm tắt về cuộc đời bà: “Hai vai gồng gánh hai Vua/ Hai triều hoàng hậu, tu chùa Am Tiên/ Theo chồng đánh Tống bình Chiêm/ Có công với nước, vô duyên với đời…”.

Đấy, người xưa cho bà là “vô duyên”! Nhưng nay ta thấy bà chỉ là người phụ nữ đẹp đã sống đúng với bản chất là một con người thực thể. Năm 1000, bà qua đời.

Dương Vân Nga

Người con gái họ Dương cá lặn, chim sa

Thẹn sắc ấy hoa quỳnh thôi không nở

Vì Tổ quốc, nén mối tình dang dở

Khoác hoàng bào cho tướng Thập đạo tài ba

Một nghĩa cử phi thường hoàng hậu Dương Vân Nga

Đưa đất nước thoát vòng quân giặc Tống

Cho non sông nước Việt Nam yêu dấu

Khai mở vương triều Lê chói lọi thăng hoa

Bà đã vì dân vì nước cứu sơn hà

Tổ quốc Việt tri ân người nhi nữ.

Lời bàn:

1- Thái hậu Dương Vân Nga là một trong những phụ nữ Việt Nam không chỉ vĩ đại ở thế kỷ X mà tên tuổi của bà xứng đáng được lưu danh trong sử sách. Dương Vân Nga một người con gái họ Dương tài sắc vẹn toàn. Vua Đinh mất, con mới 6 tuổi, gánh nặng non sông đè trên vai người thục nữ. Bà làm nhiếp chính cho ấu chúa. Thế nước chông chênh, phía nam phía bắc đều có giặc lăm le xâm phạm bờ cõi. Thập đạo tướng quân tự nhận là phó vương. Trong lúc nước sôi lửa bỏng, bà đã thể theo các tướng sỹ trao áo Hoàng bào cho Lê Hoàn lên ngôi vua giữ trọng trách chống giặc ngoại xâm bảo vệ non sông đất nước. Trong khi đất nước đang lâm nguy, nếu chỉ vì quyền lợi của dòng họ và ngôi vị của con mình thì có thể giữ được nước không? Sự lựa chọn và quyết định của bà trong hoàn cảnh ấy, đã biểu hiện thái độ chính trị sáng suốt của một người có khối óc lớn thức thời, xứng đáng được coi là anh hùng. Bà đã tôn vinh một vị vua lừng danh cho lịch sử nước nhà và điều này cũng có thể tránh được sự tiếm ngôi sẽ làm hoen ố hình ảnh của Lê Hoàn. Vì lúc đó đã tự nhận là phó vương mà các tướng suy tôn lên làm vua tất yếu Lê Hoàn sẽ lên ngôi mà nếu bà không nhanh nhậy ứng xử tuyệt vời chính xác trao áo bào thì Lê Hoàn đã bị lên ngôi không chính danh.

Đấy, cái quyết đoán của bà theo tôi còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vậy mà người đời và sử sách chưa ai xem xét (DAD). Khi Lê Hoàn ra chiến trận, một mình bà coi sóc vương triều, làm hậu phương vững chắc cho thắng lợi của quân Nam.

2- Có tư liệu nói Dương Vân Nga kết hôn lần đầu là với Ngô Xương Văn trong thời gian Dương Tam Kha lên ngôi (945). Khi ấy Ngô Xương Văn Khoảng ngoài 20 tuổi, Dương Vân Nga khoảng 17-18 tuổi. Hai người có con chung là Ngô Nhật Khánh, khi nhà Ngô mất, thành một sử quân ở Đường Lâm, sau này quy hàng và lấy công chúa Phật Kim làm rể Đinh Bộ Lĩnh (theo phả họ Ngô Việt Nam năm 2003).  Khi Lê Hoàn lên ngôi, Ngô Nhật Khánh trốn sang Chiêm Thành. Trong trận mang quân Chiêm ra đánh Hoa Lư của Lê Hoàn, bị bão lớn thuyền chìm, chết tại cửa biển Đại An.

Năm 954, Ngô Xương Văn chết, bà về ở với cha (khoảng 26 tuổi). Năm 968, bà 40 tuổi kết hôn với Đinh Bộ Lĩnh, có con chung là Đinh Toàn (974). Năm 979, Đinh Tiên Hoàng chết, năm 982, bà làm hoàng hậu nhà Lê sinh cho Lê Hoàn công chúa Lê Phất Ngân (ở độ tuổi 54) sau này là hoàng hậu nhà Lý.  Song về tư liệu chính thống thì không thấy có sự kiện Dương Vân Nga lấy Ngô Xương Văn, mà có thì cũng không đủ thuyết phục. Việc này còn cần phải nghiên cứu thêm (không lý gì mà đến năm 40 tuổi bà mới lấy chồng lần đầu là  Đinh Tiên Hoàng – DAD).

3- Một tư liệu nữa là, “thuở hàn vi chính Lê Hoàn đã đến trang Đông Lỗ tập võ nghệ và quen biết Dương Thị Ngọc Vân ở đây” trước khi về với Đinh Liễn (con Đinh Bộ Lĩnh). Lê Hoàn (sinh 941) cùng trang lứa với Dương Vân Nga, thì bà sinh khoảng 943. Khi gặp Đinh Bộ Lĩnh, bà 25 tuổi, chưa chồng, thì đối với câu “gái thập tam” cũng không phù hợp.

Xung quanh cuộc đời Dương Vân Nga, người phụ nữ đẹp độc đáo nhất lịch sử nước ta, người đời sau còn tốn giấy mực.

  1. Dương Thị Nguyệt (Nguyệt Nương)

Theo nội dung được ghi ở quyển Thần phả, Ngọc phả của thôn Đặng Xá, xã Văn Xá, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, được bộ Lễ triều Lê ban hành vào năm 1572 thì khi Trần Lãm mất, Đinh Bộ Lĩnh đem tướng sĩ về Hoa Lư chiêu mộ hào kiệt đi dẹp loạn 12 sứ quân. Ngài đã được vị hào trưởng Dương Đỉnh (người gốc Trường Yên Hạ) và vợ tên là Đặng Thị Kính (vốn người Đặng Xá, Kim Bảng), là cặp vợ chồng có của cải và uy tín ở địa phương giúp đỡ. Vị hào trưởng đã gả con gái tên là Dương Thị Nguyệt cho Đinh Bộ Lĩnh. Hai vợ chồng đã sinh ra con gái đầu đặt tên là Đinh Thị Ngọc.

Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh đã về Đặng Xá lập đồn trại truyền hịch Cần Vương dẹp giặc và đã có trên 600 người ứng mộ cùng với 180 tráng đinh Đặng Xá, Đồng Lạc, Khê Vĩ. Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu được đấy, được tôn là Vạn Thắng Vương. Sau khi bình được 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Đinh Tiên Hoàng Đế đã đón Dương Thị Nguyệt Nương về kinh đô Hoa Lư lập làm Hoàng hậu. Những ghi chép ở nghè Xuân Phả (Thọ Xuân) cho biết bà hoàng hậu quê Hà Nam cũng chính là người đã truyền dạy trò Xuân Phả hiện là Di sản văn hóa Quốc gia còn lưu giữ đến ngày nay ở Thanh Hóa.

Khi Đinh Tiên Hoàng mất, hoàng hậu Nguyệt Nương cùng công chúa Ngọc Nương đã trở về quê hương Đặng Xá sinh sống đến cuối cuộc đời. Sau này khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, đã tôn phong Đinh Tiên Hoàng và hoàng hậu, hạ sắc chỉ cho xã Đại Hoàng lập miếu thờ và truyền chỉ cho thiên hạ cứ nơi nào vua Đinh Tiên Hoàng đã lập đồn trại… thì đều được rước sắc về lập đền thờ cúng. Dân Đặng Xá đã tới kinh thành rước sắc về lập miếu để thờ và được gọi là miếu Trung. Hiện nay ở thôn Đặng Xá, xã Văn Xá, di tích miếu Trung nằm gần chùa Khánh Hưng thờ vua Đinh Tiên Hoàng cùng hoàng hậu Nguyệt Nương và miếu Bà thờ công chúa Ngọc Nương.

Tại di tích nghè Xuân Phả ở xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, hoàng hậu Nguyệt Nương cũng được người Việt đúc tượng thờ cùng Đại Hải Long Vương với vai trò là người truyền dạy trò Xuân Phả cho dân làng.

  1. Dương Đường Bộc

Là tướng, đã giúp  Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 xứ quân và lên ngôi vua. Đinh Tiên Hoàng đã ghi công và ban thưởng cho Dương Đường Bộc và 272 tướng lĩnh có công với nhà Đinh.

  1. Dương Không Lộ

Thiền sư Dương Không Lộ huý Minh Nghiêm, hiệu Không Lộ, biệt hiệu Thông Huyền, quê làng Giao Thuỷ (sau đổi là làng Hộ Xá), phủ Hải Thanh (đời Trần đổi là Thiên Thanh, sau lại đổi là Thiên Trường). Ông sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) đời Lý Thái Tổ, tại quê mẹ là làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Năm Giáp Thân (1044), triều Lý Thái Tông, ông 29 tuổi, bỏ nghề đánh cá để theo học đạo thiền. Ban đầu ông theo học Noãn cư sĩ làng Bảo Tài (chưa rõ nay ở đâu). Sau ông đắc đạo, trở thành Tổ thứ 10 của thiền phái Vô Ngôn Thông, một thiền phái được thành lập ở nước ta vào đầu thế kỷ thứ IX.

Năm Đinh Dậu (1057), ông chuyển sang theo học thiền phái Thảo Đường. Thảo Đường thiền sư từng nhận xét về học trò Không Lộ của mình: “Chú này cốt cách phi phàm, sau này tất làm pháp tự.” Quả nhiên về sau, Không Lộ trở thành Tổ đời thứ 3 của thiền phái Thảo Đường.

Năm Kỷ Hợi (1059), Không Lộ tu tại chùa Hà Trạch, rồi chuyển về tu ở chùa Duyên Phúc (tức chùa làng Hộ Xá), sau đổi là chùa Viên Quang.

Năm 1060, ông cùng các sư Đạo Hạnh, Giác Hải sang Tây Trúc để tu luyện về đạo Phật, được Phật Tổ giác ngộ và truyền cho phép lạ.

Năm 1061 thời vua Lý Thánh Tông, sư về nước, dựng chùa Nghiêm Quang tại làng Dũng Nhuệ, tiền thân của chùa Thần Quang ngày nay. Sau do đất lở xuống sông Hồng, chùa được chuyển sang làng Dũng Nghĩa (Vũ Thư, Thái Bình), được gọi là chùa Keo.

Từ đó ông đi chu du khắp vùng rộng lớn của châu thổ Bắc Bộ, dựng chùa, truyền bá đạo Phật và được suy tôn là vị tổ thứ 9 của phái thiền Việt Nam. Năm Nhâm Tý (1072), Không Lộ cùng Giác Hải chữa khỏi bệnh sợ tắc kè kêu cho vua Lý Nhân Tông. Ông được phong làm Quốc sư.

Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời thiền sư Không Lộ.

Nơi đây, vẫn còn những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của thiền sư như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.

Ngàn năm đã trôi qua, dấu tích của thiền sư Không Lộ vẫn còn lưu lại tại ngôi chùa khi xưa sư trụ trì. Nhiều vị cao tăng ngày nay khẳng định, thiền sư đã để lại cho hậu thế một tấm lòng bao dung vị tha, dùng ngôn ngữ của bậc giác ngộ để chuyển hoá tâm thức chúng sinh, truyền bá làm cho đạo Phật trở thành Quốc đạo ở thời Lý, giúp 8 đời vua Lý an dân trị quốc.

Trong truyền thuyết và cổ tích dân gian, hình tượng Dương Không Lộ (1016-1094) thường được hình dung là ông khổng lồ đúc chuông, lấy nón làm thuyền, lấy gậy tích trượng làm mái chèo, chở hết cả kho đồng đen xứ Bắc về nước Nam.

Sử sách ghi lại, một hôm, vua Lý nói với Không Lộ: “Bạch thiền Sư, ta muốn trang bị phẩm vật cho tất cả các chùa trong nước, nhưng trong nước không có nguyên liệu đồng đen. Ta nghe rằng vua Trung Hoa là Phật tử nhiệt tâm và thường cúng dường các sư. Ta muốn thỉnh sư sang gặp vua Trung Hoa và lạc quyên đồng về”. Không Lộ đồng ý lên đường, và rồi sau nhiều ngày đi bộ vượt núi, xuyên rừng, qua sông…, Không Lộ tới kinh đô nước Trung Hoa.

Khi nhà sư khổng lồ xuất hiện ở cung điện, vua Trung Hoa hỏi: “Bạch hòa thượng, ngài từ đâu tới? Ta có thể cúng dường gì cho ngài?”.

Không Lộ trả lời: “Sư muốn có một ít đồng đen đề về đúc làm phẩm vật cho các chùa Việt Nam”.

Nghĩ rằng nhà sư mang theo nhiều người, vua hỏi: “Bạch hòa thượng, quý quốc cần bao nhiêu đồng? Thầy mang theo bao nhiêu người?”.

Sư Không Lộ nói: “Sư tới đây một mình, và chỉ xin đồng cho đủ túi xách này”.

Vua nhìn chiếc túi xách nhỏ nói: “Thầy có mang cả trăm túi xách, ta cũng sẵn sàng để thầy lấy đồng đủ cả trăm túi”.

Rồi vua ra lệnh một nội thị dẫn sư tới kho vua với lời hứa rằng sư Không Lộ có thể lấy bao nhiêu tùy sức mang về. Trên đường vào nhà kho, có một sân rất rộng, trên đó có một tượng trâu vàng, lớn như ngôi nhà và sáng chói như mặt trời. Quan giữ kho chỉ vào trâu vàng và nói giỡn với nhà sư: “Bạch thiền sư, có cần trâu vàng này không?”. Không Lộ đáp: “Không, ta chỉ cần một ít đồng đen thôi”.

Trong khi viên quan kinh ngạc nhìn, Không Lộ đưa tất cả đồng đen rất lớn trong kho vua vào túi xách của sư, móc vào đầu gậy và bước ra. Quan giữ kho vội vã trình báo lên vua rằng đồng bị lấy cả rồi. Vua Trung Hoa không ngờ có chuyện như thế; vua hối tiếc, ra lệnh 500 chiến binh đuổi theo để chặn bắt nhà sư lại.

Sau khi vượt 300 dặm với túi nặng trên vai, Không Lộ nghe tiếng lính kỵ binh Trung Hoa hò hét từ phía sau. Tới một dòng sông lớn, nhà sư nhìn lại, thấy đoàn lính phóng ngựa gần tới giữa đám mây bụi mịt mù. Không Lộ bước đi trên mặt sông. Tới giữa sông, nhà sư quay lưng lại, nói với các chiến binh vừa dừng ngựa ở bờ sông: “Ta muốn gửi lời cảm ơn tới vua Trung Hoa và ta hy vọng đã không làm phiền tới quý vị.”

Trở về kinh đô nhà Lý, Không Lộ kể lại cho nhà vua về chuyến đi. Vua yêu cầu sư lấy đồng để làm bốn bảo khí (tứ đại khí) Phật Giáo có thể trường tồn nhiều ngàn năm. Không Lộ mời các thợ đồng giỏi nhất nước tới làm việc, và chia đồng làm bốn phần.

Trước tiên, Không Lộ xây một cái tháp chín tầng, đặt tên là tháp Bảo Thiên. Ngôi tháp đứng cao vút giữa kinh đô, dân nơi này từ các hướng đều thấy tháp rõ ràng. Kế tiếp, sư đắp một pho tượng Phật cao sáu trượng (khoảng 20 mét), và một chiếc đỉnh lớn với chu vi bằng 10 người ôm. Sau khi dùng số đồng còn lại làm chuông, Không Lộ đánh chuông, nghe tiếng ngân đầu tiên vang xa, tới tận Trung Hoa.

Bị đánh thức bởi tiếng chuông, tượng trâu vàng trước kho vua Trung Hoa bỗng đứng chồm dậy và phóng về hướng Nam nhiều ngàn dặm. Thấy chuông mới đúc xong, trâu vàng ngửi ngửi rồi nằm xuống kế bên chuông.

Không Lộ lo ngại chiến tranh có thể bùng nổ nếu vàng chảy vào Việt Nam. Thiền sư nói với nhà vua, và được cho phép ném quả chuông khổng lồ để tránh một cuộc chiến có thể xảy ra.

Một hôm, Không Lộ xách quả chuông lên núi, ném chuông xuống Hồ Tây. Chuông bay cao lên không, và rơi ùm vào hồ. Nghe tiếng chuông bay, trâu vàng phóng theo tiếng chuông và nhảy vào Hồ Tây, từ đó nơi đây còn được gọi là hồ Trâu Vàng.

Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất (1094), Không Lộ thiền sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Ngày 10 tháng 8 năm Ất Hợi (1095), Giác Hải thu thập xá lị của Không Lộ, xây tháp để chôn cất, tạc tượng để thờ tại chùa Nghiêm Quang. Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tu sửa chùa, cắt 3.000 hộ hương khói phụng thờ ông. Thiền sư Không Lộ còn được thờ như vị thần bảo hộ cho thợ đúc đồng.

Lời bàn: Trong đạo Phật thời Lý có hai vị chân tu là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không, cùng quê hương, cùng xuất thân từ nghề đánh cá, cùng đi tu, cùng sang Tây Trúc tu luyện và đắc đạo. Quá trình cứu nhân độ thế giúp đời của hai vị có các việc tương tự nên sử sách dễ nhầm lẫn giữa hai người, có thuyết lại cho hai vị chỉ là một. Song thực chất là hai vị khác nhau. Ví dụ cùng chữa bệnh cho vua Lý song Dương Không Lộ chữa bệnh sợ tiếng tắc kè của Lý Nhân Tông còn Nguyễn Minh Không châm cứu chữa bệnh rậm lông cho Lý Thần Tông (người xưa cho là vua hóa hổ). Theo  sách Chùa Keo (1985) của Phạm Đức Duật – Bùi Duy Lan: Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không là hai vị khác nhau. Không Lộ sinh 1016, mất 1094; Minh Không sinh 1066, mất 1141.

Thiền sư Dương Không Lộ

Người họ Dương: thiền sư Dương Không Lộ

Vượt hiểm nguy sang Tây Trúc thỉnh kinh

Mang ánh sáng từ bi nơi cõi Phật

Về quê hương giáo hóa cứu dân lành

 

Lên phương Bắc lấy đồng đen về xây đền đúc tượng

Tiếng chuông chùa Trấn Quốc mãi còn vang

Dựng quốc đạo giúp vương triều bát đế

“Nam quốc sơn hà” trời định của nước Nam

 

Tài y thuật chữa bệnh nan y cho vua Lý

Xây dựng chùa Keo cổ kính linh thiêng

Là sư tổ đệ tam thiền phái Thảo Đường

Cụ tổ xứng đáng là

người họ Dương làm rạng danh đạo Phật.

  1. 18. Thượng Dương hoàng hậu (vợ cả vua Lý Thánh Tông): Năm 1073 cùng nguyên phi Ỷ Lan – mẹ đẻ vua Lý Nhân Tông buông rèm nhiếp chính phù tá vua Lý Nhân Tông lên ngôi năm 7 tuổi, giữ được thái bình thịnh trị cho vương triều nhà Lý. Sau bà bị nguyên Phi Ỷ Lan hãm hại cùng 72 cung nhân.

Lời bàn: Có một người con gái họ Dương nữa theo Dương tộc kỷ sử là Dương Thị Phương Hoài- vợ vua Lý Nhân Tông, việc này chỉ ghi ở Dương tộc kỷ sử mà chính sử không ghi, cần được làm rõ. Theo chính sử, Lý Nhân Tông có 5 vợ là: Lan Anh, Khâm Thiên, Chấn Bảo, Thánh Cực và Chiêu Thánh, không có bà nào mang họ Dương. Khi Dương Hoán vào cung được thần phi Lan Anh nuôi dưỡng (Không phải Dương Thái hậu nuôi dưỡng? – DAD). Theo “Lược sử và truyền thống họ Dương” (tháng 10-2011) của HDVN, tại trang 73 ghi: Dương Thị Phương Hoài: Thượng Dương Hoàng hậu triều đại Lý Thánh Tông (1054-1072). Như vậy theo cụ Dương Văn Dật, Dương Văn Thiều, Dương Tự Đam… thì Dương Thị Phương Hoài chính là Thượng Dương hoàng hậu.

 Câu chuyện tráo đổi Dương Hoán có xuất xứ từ Dương Thị Phương Hoài là chị Sùng Hiền hầu Dương Công Khanh. Việc này là một tồn nghi lớn.

Theo Lý Dương tộc kỷ sử (HDVN gọi là DTKS quyển số hai, cụ Dương Công Đình biên soạn, Dương Văn San dịch, Dương Văn Đảm biên tập 2017), theo mục 4, vua Lý Thánh Tông tại trang 15 chép “Vua chưa có con trai nối nghiệp…đến làng Thổ Lỗi, Bắc Ninh…có một cô gái dựa gốc cây lan khóc…Vua đón vào cung phong làm Ký Lan phu nhân, Uyển phi công chúa. Bà Dương Ký Lan đắc lực giúp vua dựng nước. Sau sinh được hoàng tử Càn Đức…”. Như vậy bà Ỷ Lan ghi trong chính sử được sử họ Dương ghi là Dương Ký Lan. Đây cũng là một tồn nghi.

  1. Dương Cảnh Thông

Dương Cảnh Thông là người Tày, gia tộc ông sinh sống ở phần đất trước kia là Tây Âu (Nam Cương) của Thục Phán (trong nước Âu Lạc), nay thuộc vùng Cao Bằng, Hà Giang thuộc Việt Nam. Song quê gốc ông xa xưa lại thuộc vùng Thổ Châu, Thái Bình cũng của nước Âu Lạc nhưng sau khi nhà Hán diệt nhà Triệu thì phần đất Thái Bình lại nằm ở Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay.

Tổ tiên ông đều làm quan triều Lý, tính đến Dương Cảnh Thông là 5 đời, “Dương Cảnh Thông xuất thân trong một dòng họ có thế lực ở Thái Bình (châu/trại Thái Bình), tổ tiên (hiển tổ) từng làm đến chức Binh bộ Thượng thư, cao tổ làm đến chức Thái phó, kị tên húy là Nhật Đăng từng làm đến chức Thái bảo, ông nội (thái vương phụ 太王父) húy là Khuông 匡 làm đến chức Thiếu phó, cha (vương phụ 王父) húy là Huệ Doanh 惠盈 là người có tài về văn chương. Dương Cảnh Thông tuy là con út (quí thiếu 季少) trong ba anh em nhưng có phong tư kì vĩ, là người có tài nên được mời về kinh, cưới công chúa Thọ Dương” (Phạm Lê Huy).

Ông được phong chức là Thứ sử châu Phú Lương gồm các vùng Thượng Nguyên, Vĩnh Thông, Quảng Nguyên, Cảm Hóa, Vạn Nhai, Tư Nông, Tuyên Hóa (thuộc Bắc KạnThái Nguyên, Cao BằngTuyên Quang và một phần Vĩnh PhúcPhú ThọLạng Sơn ngày nay).

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, diện tích vùng biên giới Việt Trung luôn luôn biến động. Năm 1075-1077 trong chiến tranh Lý-Tống, Quách Quỳ tướng nhà Tống đã chiếm các vùng biên giới của ta gồm các động Vật Dương, Vật Ác, và Châu Quảng Nguyên. Sau khi hai nước hòa hoãn, do không quản lý được, vì các thổ tù người Việt do Dương Cảnh Thông chỉ huy, luôn quấy rối (năm 1086, Quảng Tây kinh lược tư có báo lên về việc tri Quảng Nguyên châu Dương Cảnh Thông của nhà Lý sai bọn Đàm An đánh sang đất Tống để cướp biên dân) qua đàm phán nhiều lần, nhà Tống đã trả các vùng đất trên cho nước ta.

Khi được nhà Tống trao trả châu Quảng Nguyên và các động Vật Dương, Vật Ác đã chiếm của nước ta trong chiến tranh Tống – Lý, ông  được nhà Lý giao kiêm Tiết độ Quán sát sứ, tri châu Quảng Nguyên, Tư Lang. Ông đã lập ra Quắc Quốc trên đất ông cai quản, mảnh đất ấy ông cũng đặt là Hoằng Nông quận ở vùng Hạ Lang, Cao Bằng, Hoằng Nông hương vùng Vị Xuyên, Hà Giang. (Văn bia của chùa xây dựng tại đây, thuộc niên đại nhà Trần năm 1367 đã nhắc tên ông là người sáng lập ra Quắc Quốc).

Năm 1113, ông đã đúc chuông chùa Sùng Khánh ở Hoằng Nông quận là vùng Hạ Lang, Cao Bằng để chúc phúc cho Lý Nhân Tông và Ỷ Lan.

Năm 1117, được Lý Nhân Tông gả công chúa Thọ Dương và phong cho làm phò mã lang. Đây là kế sách khôn ngoan của nhà Lý kết giao với các thổ quan người thiểu số để làm phên dậu bảo vệ biên cương.

Trên văn bia “Sùng Khánh tự bi minh tinh tự” (có niên đại năm 1367 vào thời Trần), tìm thấy tại thôn Nùng, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, Hà Giang là quả chuông của ngôi chùa trước kia được xây dựng tại phủ Linh Trường – Thông Giang – Hoằng Nông hương. Bài minh ghi rõ chủ chuông là phò mã lang Dương Cảnh Thông, người sáng lập nên Quắc Quốc.

Dương Cảnh Thông chính là người lính biên phòng đầu tiên của tổ quốc ta. Vai trò của ông đến năm 1124 được chuyển giao cho một người họ Dương khác là Dương Tự Hưng (Theo ĐVSKTT).

Lời bàn

-Dương Cảnh Thông chính là người Việt Nam thuộc nước Âu Lạc của An Dương Vương. Sau này khi nhà Hán diệt nhà Triệu, phần đất quê ông thuộc về nước Dương Ngô (Quảng Tây ) của Hoằng Nông uy vương Dương Ác.

– Về địa danh Hoằng Nông ở Trung Quốc có nhiều song đều gắn bó với người mang họ Dương:

*Vào thời Tây Hán, tại Trung Quốc đã xuất hiện địa danh “Hoằng Nông quận”, được lập năm 113 sau công nguyên, trên địa bàn tương đương với khu vực Đông Bắc thành phố Linh Bảo, Tam Môn Hiệp của tỉnh Hà Nam. (TS Phạm Lê Huy trong bài viết về Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh – Tạp chí Hán Nôm 28-12-2014).

*Từ năm 581, quận Hoằng Nông thuộc nước Tùy do Tùy Văn Đế Dương Kiên (Nguyên quán Hoa Âm – Hoằng Nông – Thiểm Tây ngày nay) làm vua. Đến năm 583, quận Hoằng Nông lại được đổi tên thành “Quắc châu”. Địa danh “Hoằng Nông quận” hay “Quắc châu” cũng được cho là nơi phát tích của họ Dương của Trung quốc. (TS Phạm Lê Huy trong bài viết về Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh – Tạp chí Hán Nôm -28-12-2014).

* Từ năm 604, nước Tùy do Tùy Dạng đế Dương Quảng làm vua. Nước Tùy khi ấy rất rộng lớn bao trùm khắp các tỉnh phía đông Trung Hoa, có các nước chư hầu kéo dài tới vùng ven biển bắc Việt Nam đến bờ biển Thanh Hóa.

Vào năm 619, nước Tùy rơi vào tay nhà Đường.

* Đến 905, tại phía nam Trung Quốc lại xuất hiện Dương Ác là con Dương Hành Mật xưng là quốc vương Hoằng Nông, địa danh Hoằng Nông lúc này lại thuộc nước Ngô – Ngô Việt (Quảng Tây hiện nay- cách rất xa Thiểm Tây) ở cửa sông Dương Tử phía đông nước Sở (Các cụ tổ ta gọi là nhà nhuận Tùy).

Dương Ác tên tự Thừa Thiên gọi theo thụy hiệu là Hoằng Nông uy vương, Ngô Cảnh vương rồi Ngô Cảnh đế, là vị quân chủ độc lập đầu tiên của nước Dương Ngô thời Ngũ đại thập quốc. Thực chất đây là một nước chư hầu của nhà Đường.

* Nước Dương Ngô (Ngô) tồn tại từ 905-937 (Dương Ác xưng là Hoằng Nông uy vương hoặc Ngô Cảnh đế). Nước Dương Ngô có diện tích phía nam là đất Nam Cương – Âu Việt của Thục Phán khi xưa và là đất phía bắc nước Âu Lạc. Như vậy, nước Dương Ngô là vùng Bách Việt sát biên giới Hà Giang – Cao Bằng của Việt Nam. Phải chăng để nhớ về địa danh Hoằng Nông của nước Tùy nơi phát tích họ Dương và Dương Ác cho mình là hậu duệ, nên ông đã lập quốc vương Hoằng Nông và xưng là Hoằng Nông uy vương (vua nước Tùy là Tùy Dạng đế là người Hán bắc sông Dương Tử còn Dương Ác là người Tày gốc Âu Lạc nam sông Dương Tử-  D A D).

Như vậy địa danh Hoằng Nông không phải một khu vực cố định mà là các khu vực luôn gắn bó với người họ Dương. Song địa danh Hoằng Nông tại Hà Nam và Thiểm Tây là họ Dương của người Hán, còn Hoằng Nông ở Quảng Tây của Dương Ác là họ Dương người Tày của Bách Việt có gốc từ Lạc Việt Việt Nam xa xưa thiên di lên.

  1. Dương Tự Hưng

Dương Tự Hưng là người Tày quê ở làng Quán Triều, tỉnh Thái Nguyên thuộc dòng họ có thế lực lâu đời ở địa phương. Ông là thủ lĩnh phủ Phú Lương, một viên quan châu mục từng nổi tiếng một thời.

Năm 1124, ông dâng hươu trắng lên nhà Lý, được vua phong chức là Tri châu Quảng Nguyên, thay vai trò của Dương Cảnh Thông cai quản vùng biên cương của tổ quốc. Năm 1127, vị trí này nhà vua chuyển cho con trai ông là Dương Tự Minh đảm nhiệm. (ĐVSKTT).

Theo thần phả, ông là thủ lĩnh trong vùng, lập nhiều chiến công chống quân Tống xâm lược lần thứ hai trên chiến tuyến sông Cầu. Ông vốn người trung hậu, giàu lòng nhân từ, có bao nhiêu bổng lộc đều chia sẻ cho mọi người nên về già không có nhà cao cửa rộng và của riêng.

  1. Dương Tự Minh

Dương Tự Minh sinh khoảng năm 1100, còn gọi là Đức Thánh Đuổm hay Cao Sơn Quý Minh, dân tộc Tày, người làng Quan Triều, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên). Là con quan châu mục Dương Tự Hưng (theo địa chí Thái Nguyên), một dòng tộc đầy thế lực của người Tày ở vùng phủ Phú Lương. Năm Dương Tự Minh ngoài 20 tuổi, trong vùng có bọn phỉ tặc hoành hành cướp phá, dân tình vô cùng khốn khổ. Dương Tự Minh thành lập đội dân binh, hàng trăm trai tráng trong vùng nô nức tham gia. Đội dân binh do Dương Tự Minh chỉ huy đã chặn được sự hung hãn của bọn phỉ tặc, làng bản trở lại yên bình.

Vào năm Đinh Mùi (1127), vua Lý Nhân Tông liền mời Dương Tự Minh về triều ban thưởng nhiều của cải vàng bạc, gả con gái là công chúa Diên Bình cho và tổ chức đám cưới tại kinh đô, phong cho thay cha làm chức châu Mục vùng thượng nguyên và trấn trị cả phủ Phú Lương rộng lớn, một vị trí chiến lược quan trọng trong công cuộc bảo vệ biên cương đất nước, gồm các châu: Thượng Nguyên, Vĩnh Thông, Quảng Nguyên, Cảm Hóa, Vạn Nhai, Tư Nông, Tuyên Hóa (thuộc Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang và một phần Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lạng Sơn ngày nay). Ông chăm lo xây dựng phủ Phú Lương ngày càng phồn thịnh và có công lớn giữ yên bờ cõi phía bắc Đại Việt.

Dương Tự Minh là người thông minh lanh lợi, tài năng, đức độ, thẳng thắn trung thực, có sức khỏe hơn người, được nhân dân khắp vùng biên cương yêu mến, triều đình tin cậy. Ông phục vụ  trong suốt ba đời vua nhà Lý: Lý Nhân Tông (1072 – 1128), Lý Thần Tông (1128 – 1138), Lý Anh Tông (1138-1175).

Năm 1142, vua Lý Anh Tông cử đi chiêu tập người châu Quảng Uyên, năm 1143, vua chiếu cho cai quản các khe động dọc theo biên giới về đường bộ (ĐVSKTT-Q9/F1).  Dương Tự Minh là một trong những người lính biên phòng kế tiếp vị trí và vai trò của Dương Cảnh Thông và Dương Tự Hưng khi trước.

Năm Đại Định thứ 5 (1144), có kẻ yêu thuật người nước Tống là Đàm Hữu Lượng trốn sang châu Tư Lang, tự xưng là Lữ tiên sinh (có sách ghi là Triệu tiên sinh) nói là vâng mệnh đi sứ để dụ dỗ Lý Anh Tông. Các khe động dọc biên giới có nhiều người theo, Đàm Hữu Lượng đem đồ đảng đến cướp châu Quảng Nguyên.

Bấy giờ Kinh lược súy ty lộ Quảng Tây nước Tống đưa thư nhờ nhà Lý bắt Đàm Hữu Lượng, lại thấy tình hình biên giới bất ổn, Lý Anh Tông tìm phương sách bắt Đàm Hữu Lượng để giữ yên bờ cõi. Cả triều đình lo lắng, nhà vua cho người đi tìm tướng giỏi ra trận.

Lúc này, Dương Tự Minh đang bị giam trong ngục chờ ngày xét xử, phạm tội vì quá lo cho dân bản ở vùng đất phía Bắc bị đói rách sau những năm bị nhà Tống chiếm giữ. Lần này quan trấn đem sớ tấu lên kinh đô, vua Lý Anh Tông xuống chiếu tha cho Dương Tự Minh, đích thân nhà vua trao cho ông thanh Thượng phương bảo kiếm và phong cho chức Đô đốc Thống binh. Vua giao cho 3 vạn binh mã cùng văn thần Nguyễn Như Mai, Lý Nghĩa Vinh phối hợp cùng quân các khe động do Thái sư Mâu Du Đô chỉ huy tiến công thu hồi các vùng đất bị chiếm.

Tại châu Thông Nông, Dương Tự Minh đã đại phá quân phản loạn, chiếm được ải Lũng Đô, bắt sống bè đảng thân cận của Đàm Hữu Lượng là bọn Bá Đại gồm 21 tên, chỉ có Đàm Hữu Lượng chạy thoát trốn vào núi rừng, đầm trạch, về nước Tống. Khi đến trại Dương Sơn thì bị quan Ung Châu nhà Tống Triệu Nguyện bắt giải đến Súy ty chém chết. Sau khi dẹp yên giặc, Dương Tự Minh cho củng cố lại các vùng biên ải, ổn định tinh thần nhân dân, rồi dẫn đoàn quân chiến thắng về kinh đô. Vua Lý sai các quan đại thần ra khỏi thành đô 10 dặm để đón, nhân dân khắp các bản làng, phố thị mở hội khao quân. Vua Lý Anh Tông thiết triều ban yến và tác thành Dương Tự Minh cùng công chúa Thiều Dung tài sắc vẹn toàn và phong cho làm “phò mã lang”. Dương Tự Minh là người duy nhất được lấy (trước sau 17 năm) hai công chúa nhà Lý. Sau đó, ông cũng được điều về kinh thành Thăng Long phò vua giúp nước.

Khi ấy, ở triều đình, vua còn trẻ nên mọi việc chính sự đều dựa vào thái úy phụ chính Đỗ Anh Vũ, ông ta cậy thế chuyên quyền, lại tư thông với Lê thái hậu nên “càng lên mặt, ở triều đình thì giơ tay to tiếng, sai bảo quan lại thì bằng mép bằng hơi, ai cũng gườm mà không dám nói” (Đại Việt sử ký toàn thư). Đỗ Anh Vũ chuyên quyền cử Trung thư hỏa Nguyễn Quyền về cai quản phủ Phú Lương. Phò mã lang Dương Tự Minh, một võ tướng và thủ lĩnh nổi tiếng một thời trong việc giữ gìn bảo vệ biên cảnh hầu như bị vô hiệu hóa.

Trước tình hình đó, Dương Tự Minh cùng một số đại thần đã bàn mưu diệt trừ Đỗ Anh Vũ. Sau khi bàn tính xong, Dương Tự Minh cùng Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái huy động lực lượng tới bao vây cửa Việt Thành ở Thăng Long vạch tội Đỗ Anh Vũ. Nhà vua bèn chiếu sai cấm quân đến bắt Anh Vũ giam ở chái Tả Hưng Thành giao cho đình úy điều tra chờ xét xử.

Để cứu tình nhân và phục hồi chức tước cho ông ta, Lê thái hậu một mặt tác động đến vua, mặt khác ngầm đưa vàng bạc vào cho Đỗ Anh Vũ để ông ta đút lót cho Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái, nhờ thế mà Đỗ Anh Vũ chỉ bị đi đày làm lính phục vụ ở xã Nhật Tảo, ngoại thành Thăng Long.

Sau đó, thái hậu còn cho mở nhiều lễ hội rồi cho xá tội nhân, cuối cùng Đỗ Anh Vũ lại được làm thái úy phụ chính. Sau khi trở lại nắm quyền, Đỗ Anh Vũ cho lập một lực lượng riêng gọi là Đô Phụng quốc vệ, tiếp đến là vu cáo các đại thần đã tham gia lật đổ mình trước đây là có âm mưu làm phản để trả thù.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “Vua chẳng biết gì cả cũng y lời tâu. Anh Vũ sai Đô Phụng quốc vệ bắt bọn Đái giam vào ngục trị tội. Xuống chiếu giáng Trí Minh vương làm tước hầu, Bảo Nghĩa hầu làm tước Minh tự, Bảo Thắng hầu làm phụng chức; bọn nội thị là Đỗ Ất 5 người phải tội “cưỡi ngựa gỗ”, bọn hỏa đầu đô Ngọc Giao là Đồng Lợi 8 người chém ở chợ Tây Nhai, bọn điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái 20 người chém bêu đầu ở các bến sông, bọn phò mã lang Dương Tự Minh 30 người lưu ở những nơi xa độc; các người dự mưu đồ làm điền hoành, khoa giáp.

Sử sách không chép Dương Tự Minh bị đày đi đâu, mất năm nào nhưng theo bản thần tích tại địa phương  thì viết rằng: “Anh Vũ được vua Lý Anh Tông tha cho và lại được làm quan đại thần. Anh Vũ tấu bậy với vua rằng: Ở Quan Triều có đất hình nhân bái tướng, nếu vua không yểm nơi này tất thiên hạ sẽ gặp nạn một nước 2 vua, thần mong đại vương tỏ tường điều đó.

Vua Lý Anh Tông lệnh truyền cho các cơ vệ đem quân lên địa phận xã Quan Triều, trấn Thái Nguyên xây cất một cột đồng trụ trên đỉnh núi có “hình nhân bái tướng”. Quân binh suốt một ngày tới tối xây cất xong cột đồng trụ trên núi tháp.

Đến giờ Sửu thì cao được hơn 7 thước. Đến sáng hôm sau, mọi người trông lên núi tháp thấy có một cột đồng trụ, quân trở về tâu với phò mã lang, ông  than rằng: “Vua Lý Anh Tông đã phản ta!” sau đó cầm bút thảo bài thơ rằng:

Non phú anh linh tạo sắc thần

Cơ đồ nhà Lý cũng tướng quân

Tiên ông áo gấm hai điều gặp

Công chúa hai nàng một túi khăn

Biên ải có đao trừ bọn xấu

Long thành không kiếm triệt gian thần

Vua chúa ghi công xây thành tháp

Miếu vũ ngàn năm rạng vẻ xuân.

Sau đó, phò mã lang đi về bến Giang Ma tắm gội, lên núi Đá Chu hóa, nơi đây có một ngôi chùa (có thần rồng) dân làng tấu với phò mã rằng: xã Động Đạt có một ngọn núi tên gọi núi rồng đá, là nơi thiên tạo có thể xây miếu cổ tích.

Phò mã lang đi về phía làng Đuổm, xã Động Đạt, thấy thế vui lòng đổi tên chùa Giang Sơn thành chùa Cảnh Linh, bến Giang Ma thành bến Giang Tiên. Phò mã lang hóa thác tại đây”.

Tương truyền đền được dựng năm Canh Tý (1180) đời Lý Cao Tông; quanh vùng còn lưu giữ nhiều truyền thuyết về Dương Tự Minh như: Chiếc áo tàng hình, Sự tích giếng Dội, Sự tích chuông lăn, Bàn cờ tiên, Thánh Đuổm trị tà thần…

Đặc biệt tại đền thờ dưới chân núi ở Quán Triều (Phú Lương, Thái Nguyên) còn giữ được tấm bia “Quảng Ninh phúc thần sự tích bia ký” dựng năm Giáp Thìn (1784) đời vua Lê Cảnh Hưng nói khá rõ về công lao của Dương Tự Minh- một vị danh tướng, một phò mã áo chàm nổi danh trong lịch sử nước nhà:

Tướng giúp đất Việt, thánh trung hưng,

Tiếng dậy nước Nam, thần bậc nhất./.

Hằng năm cứ vào đầu tháng giêng âm lịch, nhân dân đều mở lễ hội tưởng nhớ Dương Tự Minh, lớn nhất là hội đền Đuổm được tổ chức trang nghiêm với nghi thức dâng hương, nghênh rước, đọc văn tế tôn vinh. Dương Tự Minh sống mãi trong lòng dân tộc. Ông xứng đáng là vị tướng họ Dương “sinh vi tướng-tử vi thần”.

Thánh Đuổm Dương Tự Minh

Sinh vi tướng-Tử vi thần

Dương Tự Minh người họ Dương tuấn kiệt

Dũng tướng biên phòng giữ một vùng biên viễn

Đã nhiều lần thắng giặc giã Bắc phương

Là người Tày tài trí phi thường

Vua Lý đã 17 năm hai lần ban thưởng hai công chúa

Khi thượng đế gọi về nơi tiên giới

Người vẫn hiển linh phù trợ giúp dân lành

Trăm họ tôn Người là “Thánh Đuổm” lưu danh

Dòng họ ta cháu con đời đời hương khói.

Lời bàn

Xung quanh cụ Dương Tự Minh còn ba điều tồn nghi (đều nằm trong DTKS):

– DTKS cho cụ Dương Tự Minh là con cụ Dương Công Khanh, là em ruột Dương Hoán quê Bắc Ninh?

– Tại Dương tộc kỷ sử lại chép: Đến năm Giáp Ngọ (1234), Dương Tự Minh già yếu bị phản loạn triều đình đàn áp, cụ bỏ chạy về Đô Lương, Thái Nguyên nhập vào với người dân tộc thiểu số thành người Tày, nay là huyện Phú Lương, Thái Nguyên?

– Hiện nay có một câu chuyện là Dương Hoán được tráo đối với con gái vua Lý Nhân Tông tên là Huệ Năng. Huệ Năng làm con (thực chất là con nuôi) của Dương Công Khanh. Vì ở cùng nhà với Dương Tự Minh nên hai người yêu nhau và vì không bình thường nên phải đi xa vào vùng người Tày thành dân tộc Tày (!), sau đó mới có các câu chuyện tiếp theo?

Ba điều tồn nghi trên đều không có cơ sở biện chứng và logic.

– Dương Tự Minh không thể là con của cụ Dương Công Khanh vì năm 1127, trước khi Lý Nhân Tông mất một năm, cụ Dương Tự Minh khoảng 27 tuổi đã được lấy vợ là công chúa Diên Bình và được phong chức. Dương Hoán khi ấy 11 tuổi, năm sau mới được truyền ngôi. Cụ đã là võ tướng triều Lý Nhân Tông. Em không thể hơn anh 16 tuổi (!)

– Khi Dương Hoán ra đời thì Lý Nhân Tông đã 44 tuổi, khi này vua nếu còn có con với thái phi họ Dương để đẻ ra Huệ Năng mà thực sự tráo đổi, thì Dương Tự Minh đã 16 tuổi, không có chuyện vì ở cùng nhà mà có quan hệ với nhau!? (Trong khi chính sử viết Lý Nhân tông 51 tuổi vẫn chưa có con thì sao khi ông 44 tuổi, vợ ông là Phương Hoài lại đẻ con gái để tráo đổi?).

– Năm 1234, cụ Minh nếu tính ra thì 134 tuổi rồi (?). Theo chính sử năm 1150, cụ bị Đỗ Anh Vũ đàn áp, cụ bị đày về vùng xa độc (không phải là  năm 1234, cụ bỏ chạy nhập vào thành người Tày). Khi cụ mất là những năm sau 50 tuổi, DTKS viết sai về năm chăng?

  1. Dương Hoán

Dương Hoán sinh 6-1116, lên ngôi 12-1127,  mất 9-1138, Ở ngôi 11 năm, hưởng dương 23 tuổi.

Tại “Đại Việt sử ký toàn thư” (quyển 8 phần II) chép về vua Lý Nhân Tông và Dương Hoán:

– Mùa thu 1112: “bấy giờ vua tuổi đã nhiều mà chưa có con trai nối dõi, xuống chiếu chọn các con của tông thất để chọn làm con nối.

– Mùa đông tháng 10: “Tìm con trai họ tông thất để nuôi ở trong cung. Xuống chiếu rằng: “Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi con trai của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người nào giỏi thì lập làm thái tử. Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán mới lên 2 tuổi mà thông minh lanh lợi, vua rất yêu và bèn lập làm hoàng thái tử”.

-Tháng chạp năm đầu hiệu Thiên phù Khánh thọ (1127), vua lên ngôi ở trước linh cữu.

Dương Hoán lên ngôi sau hai tuần, vua đã lo việc nước, trả lại ruộng cho dân trước đây bị tịch thu, tha các tăng đạo và tội đồ, cho binh lính thay phiên nhau về làm ruộng. Sắp xếp, giao tước vị cho các quan văn võ trong triều. Tham gia cầu đảo và miễn thuế cho người nhà thái hậu. Phong tước cho cha đẻ là Sùng Hiền hầu làm thái thượng hoàng, mẹ là Đỗ Thị làm hoàng thái hậu …

Ngoài việc thiết triều xử lý các công việc của một vị quân vương, Thần Tông còn chỉ huy lực lượng bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng quấy rối của Chiêm Thanh và Chân Lạp (theo ĐVSKTT quyển 8 phần 4):

  • Ngày Giáp Dần, tháng 2-1128, hơn 2 vạn người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An. Xuống chiếu cho Nhập nội thái phó Lý Công Bìnhđem các quan chức đô cùng người châu Nghệ Anđi đánh. Lý Công Bình đánh thắng bắt được chủ tướng và nhiều binh lính.
  • Tháng 8-1128, người Chân Lạp mang 700 chiến thuyền vào hương Đỗ gia (Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay) cướp bóc, vua sai Dương Ổ- quan coi sóc châu Nghệ An và Nguyễn Hà Viêm- quan coi sóc phủ Thanh Hóa mang quân chặn đánh thắng lợi.

-Tháng 3-1129, Lý Công Bình đem quân về kinh sư, dâng tù 169 người.

– Năm Canh Tuất (1130), nước Chiêm Thành đem 2 vạn quân sang xâm lược nước ta, vua cử tướng Lý Công Bình đem 5 vạn quân đánh bại quân Chiêm Thành.

– Năm 1132 tháng 8, Giao Dương Anh Nhĩ lấy quân Nghệ An, Thanh Hóa đánh quân Chân Lạp và Chiêm Thành tại châu Nghệ An.

– Năm Thiệu Hưng thứ II (1132), nhà Tống cho làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ đặc tiến kiểm hiệu thái úy, phong Giao Chỉ quận vương.

– Năm 1135, cử thái úy Đỗ Anh Vũ và thái phó Lý Công Bình đánh quân Văn Đan tại Nhật Nam.

– Năm 1136, Lý Thần Tông bị trọng bệnh. Truyền thuyết là vua hóa hổ, được đại sư Nguyễn Minh Không dùng kim nhọn nấu trong vạc dầu sôi chữa khỏi. (Thực chất đây là bệnh rậm lông được sư Nguyễn Minh Không dùng kim luộc sát trùng trong dầu sôi châm cứu chữa hết bệnh còn Dương Không Lộ trị bệnh sợ tiếng tắc kè của Lý Nhân Tông – DAD).

– Ngày 4-5-1136, sinh hoàng tử Thiên Tộ.

– Tháng 10-1136, Thái phó Lý Công Bình đánh thắng quân Chân Lạp tại châu Nghệ An.

– Năm Đinh Tỵ năm thứ 5 (1137), mùa xuân, tháng giêng, châu Nghệ An chạy trạm tâu việc tướng nước Chân Lạp là Phá Tô Lăng 22 cướp châu ấy. Xuống chiếu cho thái úy Lý Công Bình đem quân đi đánh.

– Tháng 9, vua không khỏe, lập hoàng tử trưởng Thiên Tộ làm hoàng thái tử.

– Ngày 26/9/1138, vua băng ở điện Vĩnh Quang. Các quan dâng tôn hiệu là Quảng Nhân Sùng Hiếu Văn Vũ Hoàng đế, miếu hiệu là Thần Tông.

Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, hoàng thái tử Thiên Tộ lên ngôi ở trước linh cữu, bấy giờ mới lên ba tuổi, đổi niên hiệu là Thiệu Minh.

Lời bàn:

– Dương Hoán mang họ Dương hay họ Lý?

Đây là một câu hỏi rất hệ trọng của hai họ Dương và Lý. Tất cả các ghi chép của chính sử và Bách khoa toàn thư đều xác định Dương Hoán là người họ Lý. Duy nhất có tập Dương tộc kỷ sử (cuốn sử của các cụ tổ họ Dương để lại) là ghi chép Dương Hoán là con đẻ của Dương Công Khanh, một người họ Dương là em ruột bà Dương Thị Phương Hoài vợ Lý Nhân Tông.

Nhóm sử Khổng Đức Thiêm viện dẫn Việt sử lược với nội dung “Năm Đinh Dậu, hiệu Hội tường Đại Khánh 8 (1117), mùa đông, tháng 11, lập con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán làm thái tử… Thần Tông húy Dương Hoán, cháu vua Thánh Tông, con Sùng Hiền hầu, mẹ là Đỗ Thị. Năm lên ba tuổi, vua Nhân Tông nuôi ở trong cung, lập làm thái tử. Tháng chạp năm đầu hiệu Thiên phù Khánh thọ (1127), vua lên ngôi ở trước linh cữu” làm cơ sở cho việc tin Lý Thần Tông là họ Dương, song đọc đoạn văn trên của Việt sử lược, ta không thấy có sự liên quan gì (!).

a/ Giả thuyết Dương Hoán chính thống là họ Lý:

*Chúng ta thấy, nhà nước phong kiến không dễ gì để vương triều lọt vào tay họ khác nên Lý Nhân Tông nuôi con của các tông thất người họ Lý là có cơ sở (lưu ý tông thất là những người mang họ vua). Bên cạnh đó, Sùng Hiền hầu còn có quan hệ huyết thống mật thiết với Lý Nhân Tông, ông là em họ (không phải là em ruột được vì nếu là em ruột thì bác truyền ngôi ngay cho cháu sao phải chọn?) của Lý Nhân Tông thì Sùng Hiền hầu chính là họ Lý.

Sùng Hiền hầu tên là Dương Công Khanh- em vợ vua thì có được gọi là tông thất không? Nếu không là tông thất thì Dương Hoán không được Lý Nhân Tông chọn để làm con nuôi.

* Tên của Lý Thần Tông là húy Dương Hoán (陽換), vậy Dương Hoán chỉ là tên húy cha mẹ đặt khi sinh. Ông không có tên tự, chỉ có tên “Miếu Hiệu” khi đăng quang là Lý Thần Tông. Theo triết tự, chữ Dương (陽) viết họ ông Hoán có bộ “liễu leo”(阝)là dương “âm dương”, không có bộ mộc (木) như chữ ghi họ của Dương Công Khanh (楊公牼) là cây dương liễu “楊”. Chữ viết họ ông Hoán không là chữ viết họ ông Khanh (!) suy ra Dương (陽) có thể chỉ là tên đệm.

* Khi bị tàn sát, hoàng tử Lý Long Tường chạy sang Cao Ly. Khi này nếu biết mình là gốc Dương sao không đổi trở về họ Dương mà cả các đời sau vẫn mang họ Lý?

*Dương Côn – còn gọi là Lý Dương Côn, con của Thành Quảng hầu (có tư liệu nói là con của Dương Công Khanh) được phong làm thái tử thứ 3 không được Lý Nhân Tông truyền ngôi vua và năm 1138, sau khi làm vua 11 năm thì Dương Hoán qua đời mà Dương Côn đang 22 tuổi cũng không được chọn làm vua kế vị, ngôi vua lại vào tay Anh Tông mới 3 tuổi. Năm 1150, buồn vì không được kế vị và cũng sợ bị nguy hiểm nên Dương Côn đã phải vượt biển đến Pusan của Cao Ly. Qua câu chuyện này, ta đối chiếu thấy giống hệt hoàn cảnh của Dương Hoán. Cũng họ tông thất, cũng con của một công hầu, cũng được làm con nuôi Lý Nhân Tông, cũng được phong là thái tử. Song khi chạy sang Cao Ly, ông không nhận mình là họ Dương mà vẫn nhận họ mình là họ Lý, như vậy Dương Côn là Lý Dương Côn thì Dương Hoán tương tự cũng phải là Lý Dương Hoán. Chi ngành của Dương Côn sau này thành dòng họ Lý Tinh Thiện ở Cao Ly.

Theo như các lý lẽ này thì Dương Hoán chính là họ Lý: Lý Dương Hoán như chính sử đã chép.

b-Giả thuyết Lý Thần Tông chính là người họ Dương.

* Theo DTKS tại phần cụ Dương Công Đức tái sao lục lần I và chép tiếp năm 1262 (Sau chiến thắng Nguyên Mông lần một là 4 năm) vào đời vua Trần Thánh Tông, 204 năm sau phần I của cụ Dương Đình Tiến. Cụ Đức chép về chuyện từ đời cụ Dương Công Khanh trở đi, nhất là chuyện về Dương Hoán. Câu chuyện xảy ra ở năm 1116-1138, tức là ở thời điểm 146 năm trước khi cụ Dương Công Đức sao lục và viết tiếp, ta có tin được câu chuyện này không khi chép khác xa chính sử ?

Nguyên văn chép tại bản gốc DTKS bằng chữ viết tay của cụ Dương Văn San: “Cụ tổ Dương Công Khanh,con trai trưởng tổ Dương Công Tiến.

Sinh trú quán tại: Long Vĩ, Cổ Pháp, Kinh Bắc, xứ Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay là Đình Bảng xã).

Xưa tổ là Sùng Hiền hầu quận công vua Lý Nhân Tông.

Tổ là em bà thái hậu Phương Hoài, xưa vua Lý Nhân Tông không có con trai, vua thân hành đến nhà ông, vua nói rằng: Tôi không có con trai để nối nghiệp, tôi muốn nuôi đứa cháu trai con của ông làm hoàng tử để sau thừa kế nối nghiệp hoàng đế, lúc đó bà phu nhân vợ cụ tổ Dương Công Khanh còn đang có thai nghén (sao đã biết là con trai- DAD).

Nghe tin, sư cụ Từ Đạo Hạnh quê ở núi Sài Sơn tu ở chùa Thích Sơn thân hành đến tại nhà cụ Sùng Hiền hầu quận công Dương Công Khanh báo tin nói rằng: Khi nào bà phu nhân trở dạ kíp báo ngay cho tôi biết.

Sau khi bà phu nhân trở dạ, cụ tổ Dương Công Khanh cử người đến báo cho sư cụ Từ Đạo Hạnh, nhận được tin báo, sư cụ vào trong hang đá núi Sài Sơn hoá thân (chết), thần hồn vào đầu thai làm con nhà Sùng Hiền hầu quận công cụ tổ Dương Công Khanh, bà phu nhân sinh con trai diện mạo phương phi.

Cùng lúc bà thái hậu sinh con gái (sao Lý Nhân Tông 51 tuổi không có con phải tìm con tôn thất để nuôi và chọn kế vị trong khi vợ có chửa chưa biết là trai hay gái?-DAD), bà đem tráo đổi bế đứa cháu trai huý Dương Hoán con của em trai mình là cụ tổ Dương Công Khanh đem vào cung nuôi làm con của mình, vua Nhân Tông mừng rỡ, vua yêu quý nhận làm thái tử đỡ đầu mang họ Lý. (Theo chính sử, Lý Nhân Tông có 5 vợ là: Lan Anh, Khâm Thiên, Chấn Bảo, Thánh Cực và Chiêu Thánh, không có bà nào mang họ Dương. Khi Dương Hoán vào cung được thần phi Lan Anh nuôi dưỡng. Không phải Dương thái hậu nuôi dưỡng? DAD).

Vì vậy họ ta mang tên họ Lý từ đây. Ngày 19/2 năm Đinh Mùi, vua Nhân Tông mất vua, di chiếu lập Dương Hoán vi tự thừa kế nghiệp”.

Vậy thân phụ của Dương Hoán là ai, vì sao chính sử không nói rõ. Ông là Minh Nhân vương Lý Công Khanh dòng dõi nhà Lý em (hay em họ) của Lý Nhân Tông thì Lý Thần Tông con ông chính là Lý Dương Hoán. Ông là Sùng Hiền hầu Dương Công Khanh là em ruột bà thái hậu Dương Thị Phương Hoài vợ vua Lý Nhân Tông thì Lý Thần Tông con ông chính gốc họ Dương là Dương Hoán. Sau khi chọn Dương Hoán, tại sao Sùng Hiền hầu là thượng hoàng của vua mà không được chính sử ghi rõ họ tên? Tại sao là con nuôi lại không phong cho Lý Nhân Tông là thái thượng hoàng mà lại phong cho bố đẻ của mình là thái thượng hoàng (việc này sử gia Lê Văn Hưu chê trách là người hai gốc). Phải chăng sự giấu tên và thân thế của Sùng Hiền hầu và việc vua phong bố đẻ Sùng Hiền hầu làm thái thượng hoàng là gián tiếp xác nhận có sự che giấu việc Lý Thần Tông chính là người họ Dương?

* Xét một sự kiện liên quan đến hai họ Lý – Dương là khi Trần Thủ Độ tàn sát họ lý thì Dương tộc kỷ sử chép:

“…Ông Thủ Độ giả chước khánh thành nhà thái đường gửi thiệp mời nhân dân về dự lễ khánh thành nhà thái đường; lần đầu nhân dân đi ít, ông kê khai danh sách phát tem vào dự tiệc xong, khi về ông Thủ Độ đưa cho mỗi người mấy chỉ vàng, đồ quý vật về, đến ngày 10 tháng 3 năm 1234, ông tổ chức lễ khánh thành lần thứ 2 này, nhân dân nô nức đi đông. Đến nơi, ông kê khai danh sách phát tem vào dự tiệc xong, ông cho lính bao vây hỏi giấy dự tiệc bao nhiêu người họ Dương, họ Lý giữ lại, ông tống vào trong hầm đóng cửa lại. Có một số thanh niên tráng kiện họ Dương và 7 con trai cụ Lý Long Xưởng không chịu, đánh nhau với lính kịch liệt rồi ù chạy. Ông Thủ Độ cho lính đuổi về làng tàn sát chém giết họ hàng trẻ con, người lớn; đốt nhà cửa phá cung điện, đốt sổ sách tộc phả, khai quật mồ mả tổ tiên, họ hàng bỏ chạy lung tung khắp bốn phương thay tên đổi họ. Cụ thượng thượng tướng công Lý Quốc Chính bị ông Thủ Độ chém chết ở Hoa Lâm, con cháu bỏ trốn chạy lên huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, nay là xóm Thân, xã Nội Hoàng, Yên Dũng, Bắc Giang,…”

Theo đoạn văn này của Dương tộc kỷ sử thì Trần Thủ Độ đã biết họ Lý có 5 đời là họ Dương nên khi tàn sát họ Lý thì cũng lừa nhốt vào hầm và giết cả người họ Dương. Rồi con cụ Lý Long Cao, cháu 5 đời của Lý Dương Hoán là Lý Phúc Khánh chạy vào Nguyễn Xá cải thành họ Nguyễn, khi ông Thủ Độ chết mới hồi cải về họ Dương.

*Theo bà Đào Kim Thanh đại diện Đào đại tộc ngũ chi phát biểu ngày 25-2-2017 tại buổi tổng kết lễ hội mùa xuân HDVN: cụ Đào Sư Tích có bài thơ về già, dặn con cháu nói về đất tổ Dương Xá (tức làng Giàng ở Thanh Hóa), đã xác nhận mình có gốc từ họ Dương thì ta có thể tin cụ là dòng dõi của người gốc họ Dương đổi sang. Bài thơ như sau:

“Dương Xá thiên thu trí mộ phần, Gia cư sinh tụ khởi phi chân, Cổ nhân ngự tặc nhưng tồn miếu, Quán chỉ hồi chiêm lại hữu thần”. Dịch nghĩa là “Tại đất Dương Xá (làng Giàng -Thanh Hóa) từ ngàn xưa vẫn có ngôi mộ tổ, tổ tiên hội tụ dựng nhà ăn ở cũng là từ đây. Người xưa chống giặc vẫn còn miếu thờ, mỗi khi trở lại chiêm ngưỡng nơi quê nhà cậy nhờ có thần linh.” Phải chăng cụ Đào Sư Tích nói về  mộ và miếu thờ cụ Dương Đình Nghệ ở làng Giàng?

Tóm lược theo các tư liệu trên, nếu ta tin chính sử và gia phả của họ Đào thì câu chuyện họ Đào có gốc họ Dương như sau:

Năm 1234, Trần Thủ Độ tàn sát nhà Lý thì Trạng nguyên Lý Long Tích chạy vào Thanh Hóa nhờ họ Dương họ Đào cứu giúp đổi tên là Đào Dương Bật. Cụ thành tổ họ Đào ở Thanh hóa nội trấn. Hậu duệ của cụ đều học hành đỗ đạt. Một chi họ Đào về Cổ Lễ, Nam Định. Cháu nội của cụ Đào Dương Bật là Đào Toàn Mân và con trai là Đào Sư Tích đều đi thi năm 1372 và đỗ đạt “phụ tử đồng khoa”. Đào Toàn Mân đỗ tiến sĩ, Đào Sư Tích trúng Tam nguyên (Trạng nguyên) làm quan đến chức Hành khiển Thương thư, Tri thẩm tả thị lang.

Các nội dung viện dẫn ở trên đã củng cố cho lý thuyết Lý Thần Tông là người họ Dương. Song vẫn chỉ là theo Dương tộc kỷ sử chép thôi. Như vậy nếu DTKS là cuốn sử của họ ta do các cụ tổ dày công nghiên cứu và biên soạn có độ tin cậy cao thì ta tin  Lý Thần Tông chính là Dương Hoán.

Tác giả bài viết này cũng tin bằng trái tim là Dương tộc kỷ sử viết đúng. Dương Hoán là người họ Dương. Song lý trí lại tin rằng các chứng lý và chính sử là đúng và Dương Hoán chính là họ Lý, Lý Thần Tông là Lý Dương Hoán.

c- Những điểm còn tồn nghi 

* Song tình tiết tráo đối con thì còn có gì đó rất khiên cưỡng và vô lý:

– Bà thái hậu Phương Hoài có mang đồng thời với bà Đỗ Thị- vợ Sùng Hiền hầu thì Nhân Tông biết mình sắp có con (chưa biết trai hay gái) vội gì mà đến ngỏ lời với Sùng Hiền hầu hoặc bà thái hậu về việc lấy con người họ Dương kế nghiệp?

– Nếu có sự tráo đổi thì đó là hành vi giấu giếm của bà thái hậu. Lý Nhân Tông không biết, tưởng vợ mình đẻ con trai phải mừng rỡ là có người nối dõi là con đẻ chứ sao Dương Hoán lại phải làm thân phận con nuôi? Hay là chính Lý Nhân Tông hối hận về việc đã dung túng để mẹ đẻ của mình là Ỷ Lan hãm hại Thượng Dương hoàng hậu và 72 cung nhân nên đã muốn đền đáp họ Dương bằng cách xin nhận cháu vợ là người họ Dương để kế vị? Hay là Lý Nhân Tông biết nhưng mặc nhiên thừa nhận việc tráo đổi này? Sùng Hiền hầu ngẫu nhiên đặt tên con là Dương Hoán hay do có việc tráo đổi mà có tên này? (bởi chữ Hoán là hoán đổi?).

Nếu có câu chuyện tráo đổi thì hiểu thế nào khi chính sử chép Lý Nhân Tông nuôi các con của tông thất để chọn người kế vị (mà Lý Dương Côn là minh chứng).

– Ông GSTS Nguyễn Quang Ngọc- Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phát biểu tại hội thảo Dương Thanh ở Nghệ An là qua nghiên cứu, ông không thấy có sự liên quan giữa họ Dương và họ Lý ở Bắc Ninh.

Việc Dương Hoán mang họ Dương hay họ Lý, Hội đồng họ Dương Việt Nam rất cần có trách nhiệm cùng ngành Khoa học lịch sử đãi cát tìm vàng, tìm tư liệu để phân tích xác minh làm rõ.

Tôi cho rằng câu chuyện huyễn hoặc về Từ Đạo Hạnh và việc tráo đổi con như DTKS viết là không thật.

d-Đề xuất

Tôi đề nghị phần này họ ta nên để vào tồn nghi.

Tôi kiến nghị HDVN tìm gia phả của hoàng tử Lý Long Tường do Lý Xương Căn mang về Đền Đô và tìm sự liên quan huyết thống giữa Lý Xương Căn với đại diện người họ Dương các chi ngành tại Kinh Bắc và họ Đào Đại tộc ngũ chi ở Nam Định, bằng khoa học gen di truyền, thử AND để giải mã tồn nghi rất trọng đại này.

Nếu Lý Xương Căn có quan hệ huyết thống với hầu hết người họ Dương Kinh Bắc và họ Đào Nam Định thì Dương Hoán chính là người họ Dương. Trường hợp chỉ số ít người có quan hệ huyết thống với Lý Xương Căn thì Dương Hoán chính là họ Lý. Còn người họ Dương nào có cùng huyết thống với Lý Xương Căn thì đó chính là hậu duệ của Lý Phúc Khánh khi bị Trần Thủ Độ truy sát mới chạy về Châu Khê và đổi sang họ Nguyễn, họ Dương. Những người họ Dương này sẽ chính là họ Dương gốc Lý.

  1. Dương Anh Nhĩ

Năm 1128 được vua Lý Thần Tông giao trấn giữ Nghệ An. Tháng 08 năm 1132, giao Dương Anh Nhĩ lấy quân Nghệ An, Thanh Hóa đánh tan quân Chiêm Thành, Chân Lạp xâm lấn vùng  Thanh – Nghệ – Tĩnh.

  1. Dương Công Đảo (có tên khác là Dương Công Tảo)

(Theo Dương tộc kỷ sử và ĐVSKTT)

Quê hương ở Long Vĩ, Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay Đình Bảng). Thân phụ là Dương Công Dám.

Tháng 8 năm Canh Tuất 1130, nước Chiêm Thành Chân Lạp, người Chân Lạp mang 700 chiến thuyền vào hương Đỗ gia (Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay) cướp bóc lấn chiếm 3 châu Ma Lịch, Địa Hạt và Bố Chính (nay là Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị).

Vua Lý Thần Tông cử tướng Nguyễn Hà Viêm quan coi sóc phủ Thanh Hóa và tướng Dương Công Đảo (Dương Ổ) quan coi sóc châu Nghệ An đem 10 vạn quân tiến vào Ma Lịch, Địa Hạt, Bố Chính tập kích kịch liệt bắt được tướng nước Chiêm Thành trị tội tại chỗ, giết chết rất nhiều binh lính của nước Chiêm Thành, còn lại rất ít sống sót trốn chạy về nước. Từ đó về sau, nước ta yên ổn làm ăn an cư lạc nghiệp.

Cuối năm 1130, vua Lý Thần Tông cấp chiếu chỉ cho cụ Tổ Dương Công Đảo vào trấn thủ tại 3 châu, trông coi bảo vệ biên giới phía nam Tổ quốc. Vâng lệnh nhà vua lĩnh tiền quân, cụ Dương Công Đảo chuyển toàn bộ gia đình vào cư trú tại tỉnh Nghệ An. Hiện nay con cháu dòng họ vẫn còn cư trú rất đông đúc tại Nghệ An.

  1. Dương Nhật Lễ

Dương Nhật Lễ (chữ Hán: 楊日禮; không rõ năm sinh, mất 1-12-1370), tên khác Trần Nhật Kiên (陳日熞), còn gọi Hôn Đức Công (昏德公), là một vị hoàng đế nhà Trần, là người kế vị Trần Dụ Tông. Ông ở ngôi từ ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Dậu (tức 18 tháng 7 năm 1369) đến ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370).

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông vốn là con của kép hát Dương Khương. Mẹ ông là vợ Dương Khương, là cô đào rất đẹp hát hay, thường đóng vai Tây Vương Mẫu đã có mang ông, nhưng bị Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, anh vua Trần Dụ Tông lấy làm vợ. Khi ông sinh ra, Cung Túc vương Trần Nguyên Dục nhận làm con mình.

Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Ông lên ngôi, đặt niên hiệu Đại Định. Ông cai trị hơn 1 năm, ăn chơi sa đọa, lại định đổi vương triều sang họ Dương nên bị hoàng tộc chống đối, đưa đến 2 cuộc đảo chính do các tôn thất nhà Trần lãnh đạo. Đầu tiên, tháng 9 âm lịch năm 1370, thái tể Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác làm binh biến, nhưng bị Nhật Lễ đánh bại và giết chết.

Hai tể tướng tôn thất còn lại là thái sư Cung Định vương Trần Phủ, Hữu Tướng quốc Cung Tuyên vương Trần Kính chạy ra Đà Giang, tập hợp lực lượng. Dương Nhật Lễ nhiều lần cho quân đánh dẹp song binh sĩ đều theo về Trần Phủ. Trần Phủ cùng Trần Kính và Thiên Ninh công chúa dẫn quân về kinh, phế truất Dương Nhật Lễ. Trần Phủ lên ngôi, tức Trần Nghệ Tông.  Người họ Dương là Dương Nhật Lễ làm vua 1 năm.

  1. Dương Công Đình

Dương Công Đình sinh năm (1374). Quê hương ở Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Vốn có chí khí, thông minh văn võ kiêm toàn, có sức khoẻ và dũng cảm hơn người, năm 20 tuổi,  Dương Công Đình vào triều làm quan nội giám bảo vệ hoàng cung vua Trần Thuận Tông, sau vua Thuận Tông mất, thái tử Trần An lên nối ngôi hoàng đế, là vua Trần Thiếu đế lên 3 tuổi. Hồ Quý Ly đoạt ngôi vua Thiếu đế, lập ra triều nhà Hồ, Hồ Quý Ly rời kinh đô về đất An Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đem cả vua Trần Thiếu đế đi cùng. Dương Công Đình đi theo tôn thất nhà Trần, song cũng như dân chúng cho nhà Hồ là cướp ngôi nên không ủng hộ và có ý luôn chống đối. Khi một tông thất nhà Trần là Trần Tông bị Hồ Quý Ly bắt, gia nô của ông là Nguyễn Khang tự nhận là Trần Thiên Bình- con thứ ba vua Trần Nghệ Tông, trốn sang Lào và theo đường Vân Nam sang Trung Quốc. Trần Thiên Bình cầu cứu nhà Minh giúp mình lấy lại ngôi vua và nói là trong nước không ủng hộ nhà Hồ, chỉ một lực lượng nhỏ là chiếm được. Vốn có dã tâm xâm chiếm nước ta, vua Minh nhân cớ đó cử Lý Ý sang xem xét. Biết ý đồ của nhà Minh và tránh binh đao, nhà Hồ đã cử Nguyễn Cảnh Chân sang xin rước Trần Thiên Bình về làm vua.

Vua Minh giả chước phù Trần, tháng 4 năm 1406 cho hơn 5000 binh sĩ cử tướng Hàn Quan và Hoàng Trung hộ tống Trần Thiên Bình về nước, tướng Dương Công Đình theo Hồ Nguyên Trừng đem quân ra Lãnh Kinh đánh lại. Do chủ quan bị thua to, bốn tướng chết, Hồ Nguyên Trừng suýt bị bắt, may có tướng Hồ Vấn mang quân Tả Thánh Dực cứu viện đánh úp, quân Minh đại bại rút về, bị chặn ở ải Chi Lăng, đành giao nộp Trần Thiên Bình để được rút về nước.

Tháng 7-1406, nhà Minh huy động 80 vạn quân, chia làm 2 đường tấn công nước ta. Nhà Đại Ngu của họ Hồ đã không phòng thủ ở biên giới, mà tập trung phòng thủ ở bờ Nam sông Hồng. Quân Minh với sự dẫn đường của các ngụy quan đầu hàng người Việt đã đánh bại Đại Ngu ở trận Mộc Hoàn, sau đó là trận Đa Bang, chiếm được Đông Đô. Quân Minh tiếp tục đánh bại hoàn toàn quân chủ lực của Đại Ngu ở trận Hàm Tử, khiến cho nhà Hồ phải rút lui về Thanh Hóa, quân Minh tiến công, bắt được cha con Hồ Quý LyHồ Hán Thương vào tháng 6 năm 1407. Triều đại nhà Hồ hoàn toàn chấm dứt, tướng Dương Công Đình rút lui đem cả gia đình chạy xuôi về miền Nam Hải cửa biển Đại Ác nha Hải Khẩu luồn vào trong bãi biển rừng sậy trú quân ẩn giặc, gia đình và quân lính tự sản xuất lấy lương thực nuôi nhau.

18 năm dưới ách nô lệ nhà Minh, dân ta vô cùng cực khổ, mãi đến năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, tướng Dương Công Đình có số quân ẩn giặc ở bãi biển, đem vào hội nhập với nghĩa quân Lam Sơn. Suốt 10 năm chống giặc Minh, có rất nhiều lần bị giặc bao vây, quân sĩ phải chạy tản mạn mỗi người mỗi nơi, sau rồi lại triệu hồi tụ tập, mãi đến năm 1426, Lê Lợi được Thần ban kiếm báu có chữ Thuận Thiên ở nhà ông Lê Thận, từ đó mới đánh thắng bè lũ đô hộ nhà Minh.

Năm 1428, vua Minh lại sai tướng Liễu Thăng đem 30 vạn hùng binh tiến sang xâm lược nước ta lần thứ 3.

Ngày 10/10/1428, quân Minh đánh ải Chi Lăng. Lê SátLưu Nhân Chú được Lê Lợi giao làm tướng tiên phong. Tướng Dương Công Đình nằm trong cánh quân của tướng Trần Ngọc Lưu, được mật sai ra đánh rồi vờ thua chạy. Liễu Thăng đốc suất đại quân đuổi theo. Đến chỗ có phục binh, Lê Sát, Lưu Nhân Chú tung hết quân mai phục, bốn mặt đều nổi dậy xông vào đánh. Liễu Thăng bị chém chết ở núi Mã Yên, hơn 1 vạn quân Minh bị giết.

Thắng trận, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Lê Thái Tổ Thuận Thiên, ba năm ổn định triều đình, vua lệnh cho dân đâu đấy trở về nguyên quán làm ăn, ban ra chính sách miễn thuế 3 năm cho dân khai khẩn điền, xong vua Lê cấp sắc, cấp chiếu chỉ cấp ruộng đất đền công cho các tướng sĩ có công với nước. Dương Công Đình cũng được vua Lê cấp sắc, cấp chiếu chỉ cấp ruộng đất đền công hàng nghìn mẫu. Cụ trở về nhận liền khu đất bãi biển rừng sậy nơi trú quân ẩn giặc ngày trước thuộc cửa biển Đại Ác nha Hải Khẩu, không về quê cũ. Năm sau, cụ Phạm Đạo Soạn về nhận phía đông, cụ Nguyễn Phúc Khang về nhận phía Tây, dần dà các họ về đông, các cụ họp bàn lấy họ Dương, họ Phạm làm gốc, đặt tên là xã Dương Phạm, chia làm 3 thôn:

  1. Dương Phạm xã trung thôn
  2. Dương Phạm xã đông thôn
  3. Dương Phạm xã đoài thôn

Cụ tổ Dương Công Đình định cư, định canh, lập tân ấp tại khu trung tâm khi xưa là quán nước, sau này lập Đình thờ bà lão bán hàng nước (là Thần Long Tảo hiện lên bán hàng đón tiếp vua Triệu Việt Vương hoàng đế từ thế kỷ thứ 6).

Đình bằng bệ đá, long kiệu lô lương đá, bia lịch sử đá đứng bên cạnh có giếng nước thanh thuỷ (gọi là Đình Trần). Cụ tổ Dương Công Đình nhận thờ cúng làm đình riêng của gia đình con cháu đông lên mới gọi là giáp tây. Đến đời vua Lê Thần Tông, được phong sắc làm thêm hai toà trong cung thờ Thánh, toà ngoài thờ Tổ. Về sau cụ Tổ Dương Công Đình làm ngôi nhà thờ 3 toà thờ Tổ, mấy chục năm sau, các cụ 3 thôn làm ngôi đình giữa xã gọi là đình Cả (giờ là đình Voi).

Cụ Dương Công Đình vận chuyển 2 cánh cửa chạm rồng ở cung điện quan thừa tướng Dương Công Tiến ở làng Long Vĩ xưa nhà Trần phá huỷ còn sót lại, đem về làm 2 cánh cửa cung cấm đình Cả và số vật liệu khác, nay những di tích vật liệu đó vẫn còn nguyên vẹn.

Cụ làm quan tại triều mãi đến đời vua Lê Nhân Tông, do quá già yếu xin nghỉ việc về nhà. Cụ Dương Công Đình mất ngày 16 tháng giêng Bính Dần, giờ dần, hưởng thọ 71 tuổi.

  1. Dương Công Tảo

Dương Công Tảo sinh 1386, là con trai thứ 3 của cụ Dương Công Dám, là em út của Dương Công Đình, quê hương ở Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.

Dương Công Tảo có chí khí thông minh, có sức khoẻ, dũng cảm hơn người. Tháng 4-1406, giặc Minh kéo sang xâm lược lần thứ nhất. Dương Công Tảo tham gia làm tướng trong quân đội nhà Hồ đánh thắng giặc Minh.

Đến tháng 7-1406, vua Minh lại cử 80 vạn hùng binh, sai tướng Trương Phụ, Lý Bân, Trần Húc, Mộc Thạnh tiến sang xâm lược lần thứ 2.

Dương Công Tảo tham gia chiến đấu trận này, do giặc Minh nhiều quân hùng tướng mạnh lại thiện chiến, quân nhà Hồ không chống cự nổi rút về Thanh Hóa, cuối cùng bị thua trận. Cha con vua nhà Hồ bị bắt về Trung Quốc.

Dương Công Tảo cùng anh là Dương Công Đình đem cả gia đình chạy xuôi về miền Nam Hải thuộc cửa biển Đại Ác nha Hải Khẩu, ẩn trong bãi biển rừng sậy cây sú, cây vẹt um tùm, gia đình tự sản xuất lương thực sinh hoạt hằng ngày, mãi đến năm 1418, khi Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, ông lại đi theo Lê Lợi, 10 năm chiến đấu thắng được giặc Minh. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, vua cấp sắc, cấp ruộng đất, đền công cho tướng sĩ có công với nước.

Dương Công Tảo được vua Lê cấp sắc, cấp ruộng đất đền công 500 mẫu, cụ nhận liền bãi biển rừng sậy nơi ẩn giặc khi trước, không về Bắc Ninh. Ổn định, cụ lập làng đặt là làng Thụ Chiền. Nay di tích còn lại là cánh đồng chiền ở cửa làng.

  1. Dương Thị Bí

Dương Thị Bí  (Dương Chiêu Nghi) (楊昭儀)  sinh năm 1420, quê gốc ở thôn Thượng Phúc thuộc quận lỵ Hà Đông, Hà Nội ngày nay. Là em ruột quan ngự y Dương Phiến Ái (người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều công lao nên khi lên ngôi vua, Lê Lợi phong cho ông làm ngự y ở Hàn lâm viện).

Dương Thị Bí nổi tiếng xinh đẹp và thông tuệ, được Lê Thái Tông tuyển vào cung. Khi sinh Lê Nghi Dân thì được phong là chính cung hoàng hậu. Là người háo sắc, sau này Lê Thái Tông lại sủng ái Nguyễn Thị Anh (mẹ Lê Bang Cơ) là người cũng rất đẹp, con cháu của các đại thần quê Thanh Hoá. Bà Dương Thị Bí bị thất sủng và bị phế truất làm thứ nhân, thái tử Lê Nghi Dân cũng bị giáng xuống làm Lạng Sơn vương.

Dương Thị Bí đã cùng anh là Dương Phiếm Ái về phủ Hạ Hồng (Vinh Quang, Vĩnh Bảo, Hải Phòng ngày nay), là quê mẹ sinh sống và trở thành tổ ngành họ Dương xã Vinh Quang.

Lê Thái Tông băng hà khi 20 tuổi trong vụ án đầy tai tiếng “Lệ Chi viên”.

Kế tiếp Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ) lên ngôi lúc 2 tuổi, mẹ là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Sau 17 năm nắm quyền, khi ấy Lê Nghi Dân 20 tuổi với suy nghĩ là con trưởng và vì lẽ có nghi ngờ Lê Bang Cơ không phải huyết thống của vua Lê Thái Tông nên ngày 3-10-1459  đã cướp lại ngôi vua, lấy niên hiệu là Thiên Hưng.

Năm 1460, Nguyễn XíĐinh Liệt và các tướng lĩnh đại thần khác đã làm binh biến lật đổ Lê Nghi Dân.

Dương Thị Bí mất năm 1454, hưởng dương 35 tuổi.

Khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông (Lê Tư Thành) đã minh oan và phục chức cho nhiều vị công thần bị hãm hại các triều trước, khôi phục tước vị hoàng hậu, cấp tiền bạc, nguyên vật liệu để xây dựng lăng mộ và cấp ruộng đất để lấy hoa lợi tế tự cho bà. 

Năm 1977, Viện Khảo cổ học Việt Nam đã khai quật lăng mộ, di hài của bà vẫn mặc phẩm phục của triều Lê. Trong quan tài có nhiều đồ tùy táng, đặc biệt là các di vật quý hiếm chế tác bằng vàng.

Lịch sử đã xác nhận bà Dương Thị Bí là hoàng hậu triều Lê, Lê Nghi Dân là thái tử và là vua Lê Thiên Hưng- vị vua thứ tư của triều Lê sơ.

Lời bàn

Tuy chỉ ở ngôi được 8 tháng, Lê Nghi Dân đã có công thiết lập nền hành chính nước nhà. Sau này, Lê Thánh Tông hoàn thiện thêm và là hình mẫu để các triều đại phong kiến sau này tiếp thu thực thi. Lê Nghi Dân khi ở ngôi đã sủng ái Lê Tư Thành (con của bà Ngọc Dao) là người được Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cứu thoát khỏi sự truy sát của bà Nguyễn Thị Anh.

Sau khi Lê Nghi Dân bị các đại thần gốc Thanh Hoá phế truất và tôn Lê Tư Thành (Lê Thánh Tông) làm vua, Lê Tư Thành đã ưu ái chỉ giáng Lê Nghi Dân xuống làm Lệ Đức hầu.

Từ đây, vị vua sáng suốt Lê Thánh Tông đã bước qua 30 năm nhiễu nhương đầu triều Lê Sơ lập nên một vương triều Lê thịnh trị suốt 355 năm.

Sự kiện chính biến lật đổ mẹ con thái tử Lê Nghi Dân là một hạn chế lịch sử, là hệ quả tất yếu của nhà Lê Sơ (trong 30 năm đầu xác lập chế độ đầy bi ai và khủng hoảng).

Tháng 9-2012, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Hải Phòng, Hội đồng họ Dương Hải Phòng và UBND xã Vinh Quang tổ chức hội thảo đã đánh giá đầy đủ toàn diện về chính biến gắn với hoàng hậu triều Lê Sơ họ Dương là Dương Thị Bí.

  1. Dương Chấp Trung (1414-1469)

Dương Chấp Trung sinh năm 1414, quê xã Sài Xuyên, lớn lên ở xã Nhụy Chu, huyện Kỳ Hòa, nay là huyện Cẩm  Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Cha ông là Dương Công Nguyên, võ tướng của Lê Lợi, làm phó tướng của Trần Nguyên Hãn. Trong trận Xương Giang nổi tiếng, Dương Công Nguyên chém nhiều tướng giặc và anh dũng hy sinh. Lê Lợi tri ân các công thần có công với nước đã nhận con ông là Dương Chấp Trung khi ấy 26 tuổi vào cung giúp việc và cho theo học với thầy giáo của các hoàng tử. Năm 31 tuổi, khi Lê Nhân Tông lên ngôi, ông được bổ chức Tham chính-Thừa tuyên sứ.

Khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa 6 đời Lê Nhân Tông (năm 1448), ông đậu Đệ nhất giáp cận đệ  (Hoàng Giáp). Ông được cử làm quan Khởi cư xã nhân Sơn Tây, một năm sau được thăng chức Chuyển vận sứ huyện Thủy Đường. Năm 1446, làm Đại lý tự khanh, năm 1467, làm Hình bộ hữu thị lang giữ chức Đô đốc Thủy quân.

Khoa thi Hiền thị 1469 do vua chủ trì, chọn tuyển hiền tài, ông giữ chức Hình bộ hữu thị lang được cử làm giám thị. Sau ông được tăng làm Tả thị lang bộ Hình.

Cuối năm 1469, ông mất. Do có nhiều công với đất nước, ông được truy tặng Công bộ Thượng thư bộ Hình.

Ông là một nhân sĩ của họ Dương, tên ông được vinh danh trên văn bia Tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám. Dương Chấp Trung là niềm tự hào cho họ Dương Hà Tĩnh nói riêng và họ Dương Việt Nam nói chung.

  1. Dương Trực Nguyên

Dương Trực Nguyên (1458-1509) người làng Thượng Phúc, trấn Sơn Nam (nay là huyện Thường Tín thuộc thành phố Hà Nội). Ông đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490), lúc 33 tuổi.

Sau khi đỗ Đồng tiến sĩ ít lâu, vào ngày 9 tháng 2 năm Tân Hợi, Hồng Đức thứ 22 (1491), Dương Trực Nguyên theo hầu Lê Thánh Tông về thăm Lam Sơn, họa thơ vua bài Truy hoài Thánh Tổ huân nghiệp (Nhớ lại cơ nghiệp lớn lao của Thánh Tổ), được Lê Thánh Tông khen ngợi “có khí phách cao rộng”. Đây là một cơ sở để sau này Lê Thánh Tông chọn ông tham gia hội Tao đàn.

Năm sau, Nhâm Tý, Hồng Đức thứ 23 (1492), Dương Trực Nguyên được bổ chức Hàn lâm viện hiệu lý. Dương Trực Nguyên đã làm việc hết sức xứng đáng với chức vị đó.

Năm Hồng Đức thứ 23 (1492) lại được thăng Hiến sát sứ ty hiến sát sứ thừa tuyên Hải Dương. Năm (1493), vì tâu trái ý vua nên ông bị giáng xuống chức cũ: Hàn lâm viện hiệu lý.

Năm Hồng Đức thứ 25 (1494), do có tài văn thơ, ông trở thành một trong 28 vị trong hội thơ Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông là “nguyên súy”.

Năm Đinh Tỵ, Hồng Đức thứ 28 (1497), Lê Thánh Tông qua đời, thái tử Chanh lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Cảnh Thống. Và ngay sau đó, Cảnh Thống cho Dương Trực Nguyên giữ chức Đông các hiệu thư. Năm ấy đại hạn, ông xin với vua nên tu sửa đức chính, được vua nghe theo.

Năm Cảnh Thống nguyên niên (1498), Dương Trực Nguyên được thăng Lại khoa cấp sự trung, lại vì liêm khiết mà được vua ban thêm bổng lộc.

Năm Cảnh Thống thứ 3 (1500), vì Dương Trực Nguyên có công trấn trị phủ Phụng Thiên như dẹp được những hành vi chèn ép người dân lương thiện của bọn cường hào và bọn quyền quý, nên được thăng chức Đô đình úy.

Thời Lê Hiến Tông (Cảnh Thống thứ 4-1501), ông được thăng làm Cấp sự trung Lại khoa. Do liêm khiết, ông được thăng làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên (Hà Nội), rồi Hữu thị lang bộ Hình.

Năm Cảnh Thống thứ 5 (1502), lại giữ chức Tả thị lang bộ Binh. Tháng 2 năm ấy, triều đình tổ chức thi Hội, Dương Trực Nguyên được cử làm giám thị, tháng 11 năm ấy lại được cử giữ chức Tả thị lang bộ Lễ.

Năm Cảnh Thống thứ 6 (1503), Tả thị lang bộ Lễ Dương Trực Nguyên tâu xin đắp đê bên sông Tô Lịch, trên từ xã Trát Kiều xuống đến xã Cống Xuyên, đề phòng lụt, hạn, lợi cho việc nhà nông, và khai con cừ từ An Phúc xuống đến Thượng Phúc để tưới nước vào ruộng cho dân. Mùa đông tháng 12 năm ấy, Dương Trực Nguyên kiêm quản Hàn lâm viện sự.

Tháng 5 năm Cảnh Thống thứ 7 (1504), vì quá ham mê tửu sắc mà Cảnh Thống mắc bệnh nặng qua đời, thái tử Thuần nối ngôi, miếu hiệu là Túc Tông. Tháng 12 năm ấy, Túc Tông lại ốm nặng rồi mất.

Uy Mục đế nối ngôi, lấy niên hiệu là Đoan Khánh thứ 2 (1507), Dương Trực Nguyên làm chánh sứ đi sang nhà Minh, tháng 6 năm sau (1508) trở về, được vua ban cho hốt ngọc và đai bạc.

Đến năm Đoan Khánh thứ 5 (1509), Uy Mục lại bổ Dương Trực Nguyên chức Đô ngự sử đài. Đây cũng là chức quan cao nhất trong đời làm quan của ông.

Dương Trực Nguyên làm quan trải bốn triều vua: Lê Thánh Tông, Hiến Tông (Cảnh Thống), Túc Tông, Uy Mục, gồm 19 năm với nhiều chức quan khác nhau. Riêng thời Cảnh Thống, chỉ trong vòng hơn năm năm, thay đổi tới 9 chức vụ, có thể nói Dương Trực Nguyên là một hội viên Hội Tao đàn nắm giữ nhiều chức vụ nhất.

Cuối năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh cùng tướng Nguyễn Văn Lang khởi binh ở Thanh Hoa chống lại vua Uy Mục. Khi quân nổi dậy tiến đến gần kinh thành Thăng Long, Dương Trực Nguyên được lệnh cùng tướng Lê Vũ mang quân ra chống lại.

Khi đối trận với quân Nguyễn Văn Lang, quân triều đình bị thua. Lê Vũ tử trận, ông cùng các tướng Phạm Thịnh, Trần Năng tiếp tục chiến đấu, nhưng cuối cùng cả ba người đều bị tử trận tại Châu Cầu. Năm đó, ông 52 tuổi.

Lê Oanh tiến vào kinh thành giết Lê Uy Mục và lên ngôi, trở thành vua Lê Tương Dực.

Năm 1512, triều đình Lê Tương Dực truy tặng ông làm Ngự sử đài trung đô ngự sử.

Tương truyền, ông chết rất linh thiêng, được dân địa phương lập đền thờ. Các triều vua đều phong “Thượng đẳng phúc thần”.

Lời bàn:

Dương Trực Nguyên tham gia Tao Đàn do Lê Thánh Tông làm Đô nguyên súy. Phó nguyên súy: Thân Nhân TrungĐỗ Nhuận, Thái Thuận. Tao nhân: Ngô Luân, Ngô Hoán, Nguyễn Nhân PhùngLưu Hưng HiếuNguyễn Quang BậtNguyễn Đức HuấnVũ DươngNgô ThầmNgô Văn CảnhPhạm Trí KhiêmLưu Thư NgạnNguyễn Nhân Bị, Nguyễn Tôn MiệtNgô QuyềnNguyễn Bảo KhuêBùi Phố, Dương Trực Nguyên, Chu HoãnPhạm Cẩn TrựcNguyễn Ích TốnĐỗ Thuần ThứPhạm Nhu HuệLưu DịchĐàm Thận HuyPhạm Đạo Phú, Chu Huân.

Mặc khách: Đào Cử, Lương Thế VinhQuách Đình BảoLê Tuấn NgạnNgô Sĩ LiênPhạm Phúc ChiêuLê Hoằng DụcNguyễn Đình MỹQuách Hữu Nghiêm.

  1. Dương Bang Bản

Dương Bang Bản (1452-1514) được nhà Lê ban quốc tính là Lê Tung. Quê ở xã An Cư, nay thuộc thôn Cháy, xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, Hà Nam.

Lê Tung là một vị quan nhà Lê Sơ dưới thời các vua Lê Thánh Tông, đến Lê Tương Dực và đồng thời cũng là một trong các tác giả của bộ quốc sử Việt Nam- bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

Sinh ra trên quê hương nằm trong vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi, tâm hồn ông được nuôi dưỡng trong mạch nguồn văn hóa dân gian giầu có. Có lẽ đường học hành gặp khó khăn, nên đến khi 33 tuổi năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) dưới triều Lê Thánh Tông, ông mới đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng Giáp), tuy nhiên đó là sự đỗ đạt cao, chỉ đứng sau Đệ nhất giáp tiến sĩ.

Ông được nhà Lê trọng dụng. Do có tài năng, ông được Lê Thánh Tông ban quốc tính và đổi cả họ tên thành Lê Tung. Năm 1497, Lê Thánh Tông mất, Lê Hiển Tông lên ngôi. Lúc này, Lê Tung giữ chức Lại khoa Đô cấp sự. Ông được vua giao cùng Thương thư bộ Lại Trần Cận xem xét việc thực hiện các chức phận và tư cách đạo đức của các quan trong triều.

Năm 1505, Lê Uy Mục lên ngôi, đã bổ Lê Tung làm Thừa tuyên sứ Thanh Hóa. Năm 1507, ông được cử trong nhóm quan dẫn đầu đoàn sứ bộ sang nhà Minh. Hoàn thành nhiệm vụ, ông lại về Thanh Hóa.

Giản tu Công Dĩnh (Lê Oanh) là cháu nội Lê Thánh Tông và là em họ Lê Uy Mục. Năm 1509, Lê Oanh bị Lê Uy Mục bắt giam. Lê Oanh trốn vào Thanh Hóa, cùng đại thần Nguyễn Văn Lang và nhóm đại quan, trong đó có Lê Tung bàn bạc khởi binh quyết lật đổ Lê Uy Mục. Quân Lê Oanh tiến ra uy hiếp Đông Kinh, ngày 1-12-1509, Uy Mục phải uống thuốc độc tự tử.

Giản tu Công Dĩnh lên ngôi, tức Lê Tương Dực đã cử Lê Tung và các đầu mục Lê Quảng Đô, Lê Điều, Nguyễn Văn Lang đi sứ sang nhà Minh dâng biểu để tránh bị sách nhiễu.

Năm 1510, Tương Dực xét công cho các quan giúp mình lên ngôi đã phong cho Lê Tung chức Thượng thư tước đôn thư bá. Năm 1512, vua gia phong Lê Tung được làm Thiếu bảo, bổ giữ chức Thượng thư bộ Lễ, Đông các đại học sĩ kiêm Quốc Tử Giám tế tửu. Cùng một lúc, ông giữ ba chức lớn trong triều Lê Uy Mục.

Trong lĩnh vực sử học, ông được vinh danh là nhà sử học có tên tuổi. Tác phẩm giá trị nhất của ông là “Việt giám thông khảo tổng luận” chép từ thời Kinh Dương Vương tới thời Lê Sơ, ông cũng là một trong các tác giả của bộ quốc sử Việt Nam- bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Ngoài viết sử, ông còn viết về sự tích các nhân vật có công trạng với đất nước cũng như thần tích các vị thần.

Không chỉ đóng góp về chính trị và sử học, ông còn là nhà giáo dục, nhà văn hóa, cống hiến cho thời đại và đào tạo nhân tài cho đất nước.

Tháng 8-1513, nhà vua giao cho Lê Tung và các đại quan dựng bia đá ghi danh các tiến sĩ. Ngoài ghi danh, ông còn đề xuất việc đào tạo trọng dụng nhân tài. Ông đã đề cao nhận định của Thân Nhân Trung khi dựng bia  năm 1484: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Ông viết: “Đế vương vỗ yên muôn phương, ắt phải tìm hiền tài để trị nước. Hiền tài là nguyên khí của nhà nước” và “Phải mở rộng đường vun đắp. Khoa mục là điển chương của triều đình, phải chú ý mở mang”.

Với họ Dương, Lê Tung có bài thơ rất quý khi nói về Dương Tam Kha trong bài “Quá Bình vương cựu trạch từ” (Qua đền trên nền nhà cũ Bình vương),  trong có câu: “Thực thung giang khẩu thiết kỳ mưu/Trảm Hán Hoằng Tháo tuyết phụ cừu” (dịch nghĩa: Cắm cọc xuống sông, khéo bày mưu lạ/Chém đầu Hoằng Tháo nhà Hán rửa hận cho cha). Với hai câu thơ này, Lê Tung khẳng định Dương Tam Kha là người chém chết Hoằng Tháo.

Lê Tung còn có tập thơ “Giang hồ ký sự” gồm 53 bài, tài hoa trong thi pháp, tâm huyết với lịch sử, thơ ông là một tài sản quý của nền thi ca dân tộc.

Dương Bang Bản – Lê Tung đã có những đóng góp xứng đáng trong công cuộc trị quốc an dân thời Lê Sơ. Ông là tấm gương sáng, một nhà khoa bảng tài cao đức trọng, một sử gia nổi danh, niềm tự hào của họ Dương và dân tộc.

Lời bàn:

Theo văn bia do Lê Tung soạn năm Hồng Đức thứ ba tại Nghĩa Xá, Nghĩa Đạo, Thuận Thành, Bắc Ninh đã cho ta một tư liệu quý là người chém đầu Liễu Thăng khi Lê Lợi đánh quân Minh là hai anh em ruột Ngọn Côn, Thuấn Nghi người Thuận Thành, Bắc Ninh.

  1. Dương Văn An

Dương Văn An (chữ Hán: 楊文安) (1514 – 1591), biểu tự là Tĩnh Phủ (靜甫). Quê ở làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, phủ Tân Bình, lộ Thuận Hóa, ngày nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng  Bình.

Trong thời gian làm quan với nhà Mạc, ông có nhà ở xã Phù Diễm, huyện Từ Liêm (nay là ngoại thành Hà Nội).

Dương Văn An sinh ra trong một gia đình nho giáo, cha là cụ Dương Văn Nhân làm nghề dạy học, nên ông sớm được cha và chú rèn luyện, học hành đến nơi đến chốn. Năm 1543, ông đi thi Hương đỗ Hương Cống, năm 1546 đi thi Hội đỗ Giải nguyên, năm 1547 đi thi Đình đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân (khoa thi này, Dương Phúc Tư đỗ Trạng nguyên).

Sau khi thi đậu, ông được triều đình nhà Mạc bổ làm quan. Ông thăng tiến dần lên đến chức Lại khoa đô cấp sự trung, tước Sùng Nham bá, về sau được thăng lên Tả thị lang bộ Lại rồi dần dần tăng lên chức Thượng thư bộ Lại, tước Sùng nham hầu.

Năm 1553, ông về quê chịu tang mẹ (3 năm), trong thời gian này, Dương Văn An đã dùng vào việc “đọc khắp các loại sách“, ông được đọc hai tập tài liệu của hai người đồng hương biên chép về hai phủ Tân Bình và Triệu Phong. Bởi ham thích, nên sau đó ông đã khảo cứu thêm, bổ sung và sửa chữa trong hai năm làm ra tác phẩm “Ô Châu Cận Lục” (1553 – 1555).

“Ô Châu Cận Lục” (烏州近錄) của Dương Văn An là một tác phẩm có hàm lượng kiến thức khoa học quá lớn, quá phong phú với nhiều chuyên ngành khác nhau như: địa lý, dân tộc học, nông học, văn hóa, giáo dục học… mà người đời sau đã tham khảo, trích dẫn trong các công trình nghiên cứu của mình. Nhất là các sử thần triều Nguyễn và các nhà khoa học ngày nay.

Dương Văn An còn những tác phẩm thơ văn khác, nhưng chỉ riêng với tác phẩm này, ông đã xứng đáng được xem là một danh nhân văn hóa có công lớn trong lịch sử nền học thuật nước nhà cũng như trong lịch sử văn học dân tộc.

Ông yêu quê hương, đã tạo dựng cho dân làng có nghề làm giấy. Ông đưa bà con ở quê ra vùng Cầu Giấy học nghề rồi về làm. Do vậy dân làng sống với nghề sung túc.

Năm 1557, Dương Văn An trở lại triều đình và được tin tưởng giao nhiều trọng trách hàng Sùng Nham hầu, chức Thượng thư bộ Lại (tương đương Tể tướng).

Năm Tân Mão (1591), Dương Văn An mất lúc 77 tuổi, được tặng tước Tuấn Quốc công.

  1. Dương Đức Nhan

Danh thần Dương Đức Nhan đời Lê Thánh Tông,  không rõ năm sinh, mất năm 1524, quê ở xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Năm Quý Mùi (1463), ông đỗ Tam giáp tiến sĩ, được bổ làm Hữu thị lang bộ Hình, tước Dương Xuyên hầu. Ông là học trò của Thám hoa Lương Nhữ Học.

Ông có người con gái đẹp là Dương Thị Từ Ý gả cho Nguyễn Bỉnh Khiêm là học trò yêu của quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Con gái ông là vợ cả trong 3 vợ của quan Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Hà Dương quê ông vốn là vùng bãi bồi ven sông. Khoảng cuối thế kỷ thứ 9 có các dòng họ Chu, Khúc, Dương, Nguyễn vùng Thanh Nghệ Tĩnh và vùng trung du đến khai phá vỡ hoang tạo lập làng xóm và đồng ruộng.

Khi xem địa lý, phong thủy của làng, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy mảnh đất cao ở khu đồng làng có vị trí đắc địa để xây chùa. Cụ Dương Đức Nhan bàn với dân di chuyển chùa về vị trí mới. Cụ Dương Đức Nhan đóng góp cùng dân làng xây dựng chùa Hoa Am khang trang trên khu đất rộng rãi gần 2 mẫu. Năm 1524, khi cụ tạ thế, để tưởng nhớ công đức của người, dân làng xin ý kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa phần mộ của cụ Dương Đức Nhan đặt ở phía đông chùa Hoa Am và tôn làm Phúc thần của làng. Mỗi khi hội làng, các cụ cao niên lại rước bài vị của cụ về đình tế lễ để tạ ơn.

Tác phẩm nổi tiếng của cụ là – 古今詩家精選 – “Cổ kim thi gia tinh tuyển”, còn gọi là “Tinh tuyển chư gia thi tập” hay “Tinh tuyển chư gia luật thi tập”. Tác phẩm là tuyển tập thơ 5 quyển do Dương Đức Nhan sưu tầm, theo bản hiện có gồm 472 bài của 11 nhà thơ (7 đời Trần, 4 đời Lê), từ Trần Nguyên Đán đến Vũ Mộng Nguyên. Đây là bộ hợp tuyển thơ thứ hai trong 3 bộ kế tiếp nhau xuất hiện ở thế kỉ XV: Việt âm thi tập – Phan Phù Tiên, Tinh tuyển chư gia thi tập – Dương Đức Nhan và Trích diễm thi tập – Hoàng Đức Lương.

Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, thì bộ sách này có lẽ được Dương Đức Nhan biên soạn khi chưa đỗ tiến sĩ, tức trước năm 1463. “Tinh tuyển chư gia luật thi” không có tựa, bạt và chú dẫn. Tờ thứ nhất có đề là: “Hồng Châu Lương Như Hộc Tường Phủ phê điểm; môn nhân Dương Đức Nhan biên tập” (Lương Như Hộc phê bình và chấm câu; học trò ông là Dương Đức Nhan biên tập).

Dương Đức Nhan được ghi danh trong bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Cụ được tôn vinh làm Thành hoàng làng Hà Dương. Đền thờ của cụ được cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố. Cùng với Dương Luận, Dương Tông Hải, cụ là một trong ba tiến sĩ họ Dương người Hải Phòng.

  1. Dương Chấp Nhất

Dương Chấp Nhất (楊執一) tước hiệu Trung Hậu hầu (DTKS ghi là Dương Văn Chấp), quê hương ở Hoằng Hóa, Ái Châu (nay là tỉnh Thanh Hoá).

Dương Chấp Nhất là người có trí thông minh văn võ toàn tài, là tướng giỏi phù họ Mạc chống lại họ Trịnh, làm quan từ thời Mạc Đăng Dung lên ngôi (1527-1529), qua đời vua Mạc Đăng Doanh, đến đời vua Mạc Phúc Hải, lên đến chức Chưởng bộ, một chức vụ võ quan cao cấp. Tháng 11 năm Nhâm Thìn 1532, vua Mạc Đăng Doanh phong Dương Chấp Nhất là đại tướng lãnh binh thống quản Thanh Hoa tam phủ đồng tam ty, tổng trấn quân dân.

Lực lượng Lê trung hưng trỗi dậy, đánh bại quân Mạc ở nhiều nơi. Năm 1543, quân Lê mở rộng địa bàn ở Thanh Hóa, tiến đến thành Tây Đô, Dương Chấp Nhất bèn đem con em, thuộc hạ ra đầu hàng, dâng thành Tây Đô. Vì vậy, vua Lê vẫn cho Dương Chấp Nhất tiếp tục giữ binh quyền. (Cả Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Cương mục đều cho rằng đây thực chất chỉ là hành vi trá hàng của Dương Chấp Nhất, nhằm mục đích ám sát vua Lê Trang Tông. Tuy nhiên, việc ám sát không thực hiện được. Vì vậy Dương Chấp Nhất mới đổi mục tiêu sang ám sát Nguyễn Kim, người thực sự nắm giữ binh quyền của lực lượng Lê trung hưng).

Ngày 20 tháng 5 (âm lịch) năm Ất Tỵ 1545, Dương Chấp Nhất mời Nguyễn Kim sang chơi bên quân doanh của mình. Bấy giờ tiết trời mùa hè, đương lúc nắng nóng, Chấp Nhất mời Nguyễn Kim ăn dưa. Tuy nhiên, sau khi ăn dưa và ra về, khi về đến quân doanh của mình, Nguyễn Kim cảm thấy trong người không được khỏe và qua đời ngay sau đó. Dương Chấp Nhất ngay trong đêm đó trốn về lại với nhà Mạc.

Năm 1570, nhân dịp Trịnh Kiểm chết, Mạc Kính Điển liền đem 10 vạn quân đi đánh Nam triều, ban đầu thắng lợi, sau không quen thủy thổ phải rút quân.

Tháng 10 năm Canh Thìn 1580, trụ cột triều chính nhà Mạc là Mạc Kính Điển chết.

Sau khi đã ổn định tình hình chính trị và có thời gian chuẩn bị, cuối năm Nhâm Thìn 1592, Trịnh Tùng đem quân ra Bắc, bắt và diệt được Mạc Mậu Hợp.

Tàn quân họ Mạc rút chạy lên Cao Bằng. Để khống chế nhà Lê, nhà Minh dùng uy thế “thiên triều” ép họ Trịnh cắt đất Cao Bằng cho họ Mạc cát cứ trong nhiều năm, tới năm 1677 mới chấm dứt.

Tướng Dương Chấp Nhất cũng cùng đi, cụ di chuyển toàn bộ gia đình con cháu lên ở tại tỉnh Cao Bằng. Nhà Mạc ban cho Dương Chấp nhất quốc tính của nhà Mạc, đổi họ Dương thành dòng họ Dương Mạc lớn mạnh ở Cao Bằng. Đây là dòng họ tổ tiên của Dương Mạc Thạch- Chính trị viên của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

  1. Dương Phúc Tư

Dương Phúc Tư (chữ Hán: 楊福滋, 1505-1564), có tên húy là Phúc Tư, tự là Nhuận Phủ, hiệu là Nột Trai, người làng Lạc Đạo, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Văn LâmHưng Yên).

Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng (Nghĩa Yêm) đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ, thuộc dòng dõi chi Bính, con thứ ba của cụ Dương Công Phùng người Nghệ Tĩnh có gốc tích tại Hoằng Nông (Cao Bằng- Hà Giang- Việt Bắc).

Thuở hàn vi, Dương Phúc Tư vừa đi cày vừa đi học. Sẵn có tư chất thông minh, lại ngày đêm đèn sách, với sự quan tâm dạy dỗ chu đáo của người cha, người thầy mẫu mực là cụ Giảng Dụ Nghĩa Yêm, Dương Phúc Tư đã đạt đến đỉnh cao của nền học vấn thời cổ. Dương Phúc Tư là người tài giỏi, nhưng gặp buổi nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê, ông đắn đo về thời cuộc nên không muốn “lều chõng” đi thi.

Năm 1547 khi 43 tuổi, Dương Phúc Tư mới ra dự thi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh, tức Trạng nguyên, đứng đầu 30 tiến sĩ đời Mạc Phúc Nguyên. Bài văn sách thi Đình của Dương Phúc Tư được vua phê rằng: “Điều đối thiết yếu, chân đại thủ bút, sĩ vị chân nho, xuất thế đạo hành” (Có thể hiểu là: Điều đối thật là thiết yếu, đây là cây bút lớn, là vị chân nho, xuất thế đạo hành).

Ông là người khai khoa của dòng họ Dương. Năm ấy họ Dương có bốn người đỗ đồng khoa là: Dương Phúc Tư, Dương Trí Tri, Dương Đôn Cương, Dương Văn An. Trạng nguyên Dương Phúc Tư từng làm quan đến chức Binh bộ Thượng thư, được vua phong Tử Khanh Thiếu Bảo, Dương tướng công.

Dương Phúc Tư sáng tác nhiều thơ, phú toàn bằng chữ Hán. Tư chất, tính tình và hình ảnh của ông thể hiện trong văn chương, trung thực đôn hậu, khoan dung độ lượng, quý sự học hành thi thư lễ nhạc. Thơ ông ca ngợi công ơn người dạy dân làm ruộng, trồng dâu dệt lụa, ca ngợi người thục nữ đảm đang, ca ngợi những ông vua nhân từ, chăm lo vỗ về dân chúng, phê phán lối sống sa đoạ.

Sau 5 năm làm quan, trước những nhiễu nhương của lịch sử thời Lê – Trịnh – Mạc, ông từ quan về làm thầy giáo. Lúc đầu ông về Cổ Thiết – Sơn Tây mở trường. Sau vài năm lại về quê Lạc Đạo tiếp tục mở lớp dạy học. Với danh tiếng là cây bút lớn, là người hiểu nhiều, biết rộng nên lớp học của ông đã thu hút rất nhiều sĩ tử khắp nơi đến học. Sau 3 năm dạy học, ông đã có một học sinh đỗ Trạng nguyên là Phan Trấn (khoa thi năm 1556).

Ông là tấm gương sáng cho đạo học của người họ Dương tại quê hương. Tính từ năm 1547 – 1754, họ Dương ở xã Lạc Đạo có chín người đỗ đại khoa, trong đó có 1 trạng nguyên và 8 tiến sỹ, bao gồm: Dương Phúc Tư, Dương Thuần, Dương Hoàng, Dương Khuông, Dương Hạo, Dương Lệ, Dương Công Thụ, Dương Khiêm, Dương Sử.

Con cháu ông sau di cư lập nghiệp ở nhiều nơi, đến đâu họ đều làm ăn thịnh đạt, học hành đỗ đạt cao, nhiều người thành danh. Đó là chi Dương Công Thiện ở xã Vĩnh Mộ, Sơn Tây, nay thuộc Tam Nông, Phú Thọ, đỗ cử nhân, mở trường dạy học đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Ở xã Dương Xá, huyện Gia Lâm có hai cha con Dương Đôn, Dương Hiệu đều đỗ tiến sĩ và làm quan thượng thư cùng triều, lại có anh em Dương Sử và Dương Khiêm đỗ tiến sĩ cùng khoa. Xã Phú Thị, huyện Châu Giang (nay là xã Mễ Sở, huyện Văn Giang) có chi Dương Duy Thanh (đỗ cử nhân) từng làm Đốc học Hà Nội và các cháu chắt là Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Dương Tụ Quán, Dương Bích Liên v.v…

Trạng nguyên Dương Phúc Tư về quê hương sinh sống và mất năm 1563, hưởng thọ 59 tuổi.

Con cháu và nhân dân sở tại dựng nhà thờ cụ trên nền đất của dòng họ. Nhà thờ cụ Trạng được xây dựng từ thời Lê và đã trải qua nhiều lần tu sửa vào thời Nguyễn. Nhà thờ đã được UBND tỉnh Hưng Yên cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

  1. Dương Trọng Tế

Dương Trọng Tế (chữ Hán: 楊仲濟, 17271787),trước có tên là Dương Trọng Khiêm, là một văn thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

Ông là người xã Lạc Đạo, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên).

Sử sách không cho biết gia thế và cuộc đời lúc nhỏ của ông, chỉ biết năm 27 tuổi, ông và anh ruột là Dương Nễ đều thi đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754) thời vua Lê Hiển Tông. Sau đó, Dương Trọng Tế được bổ làm quan tại triều, trải các chức Hàn lâm Hiệu lý, Giám thí, Thiêm đô Ngự sử…và được phong tước là Thời Trung hầu.

Dương Trọng Tế ra làm quan được ít lâu, thì bị bãi chức vì tội nhận tiền của hối lộ. Mãi sau nhờ phát giác việc Trịnh Lệ (còn gọi là Trịnh Đệ) mưu tranh ngôi chúa mới được phục chức. Tháng 7 năm 1786, Lê Duy Kỳ lên nối ngôi lấy hiệu là Chiêu Thống, dựng lại triều Lê vốn đã rất suy yếu.

Quân Tây Sơn ra Bắc, văn thần Dương Trọng Tế vốn không biết việc binh. Nhưng ông có Dương Vân là con trai người anh ruột, có lực lượng trong tay, khi bị Tây Sơn truy diệt, Trọng Tế cả sợ, bất đắc dĩ mới phải khởi binh, kéo cờ, chiếm cứ huyện Gia Lâm. Chỉ trong mười ngày, quân của ông  đã lên trên một vạn. Quân tuần tiễn của Tây Sơn sang đánh không hạ nổi.

Thủ lĩnh quân Tây Sơn là Nguyễn Huệ bị Nguyễn Nhạc gọi trở về Quy Nhơn. Lúc bấy giờ, danh tướng trong thiên hạ thì có Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ, Liễn quận công Đinh Tích Nhưỡng; còn văn thần có binh lực mạnh mẽ thì chỉ có tiến sĩ Dương Trọng Tế.

Trọng Tế ủng hộ Trịnh Lệ làm chúa, song Trịnh Bồng đã dâng biểu xin được về chầu vua, được Lê Chiêu Thống chấp nhận, các quan triều đình ủng hộ, nên Trịnh Bồng được triệu về triều. Bấy giờ, bề tôi trong triều thấy rõ việc làm của Dương Trọng Tế là trái lẽ nên đều bỏ Trịnh Lệ mà ủng hộ Trịnh Bồng.

Lúc này, Trọng Tế lại thấy phe Trịnh Bồng về thế và lực đều mạnh hơn Trịnh Lệ, cho nên ông đã bí mật sai một gia tướng là Nguyễn Mậu Nệ đến để xin hàng. Thấy Trọng Tế đã hàng Trịnh Bồng nên đội quân của Trịnh Lệ là Trương Tuần liền tan rã. Mặc dù ngả theo Trịnh Bồng, nhưng Dương Trọng Tế lại sợ vua Lê không bao dung cho mình vì tội xé chiếu thư khi trước, nên không dám cùng Trịnh Bồng vào hoàng thành mà vội vã chạy lên trú ở đất Kinh Bắc (vùng Bắc Ninh ngày nay).

Mâu thuẫn giữa cung vua và phủ chúa lên đến đỉnh điểm và bùng phát thành bạo lực vào tháng 11 năm Bính Ngọ (1786). Trong lúc ấy, Trịnh Bồng   muốn mau chóng củng cố địa vị của mình, cho nên sai người đi triệu Trọng Tế về kinh thành. Việc này khiến ông vừa mừng vừa lo. Mừng là vì được chúa Trịnh Bồng dung nạp (được cai quản bộ Hộ), còn lo là vị sợ vua Lê tìm cách trả thù.

Sau khi cân nhắc, Trọng Tế bèn ngầm khuyên Trịnh Bồng đem quân vây chặt hoàng thành, bắt giết hết những quan lại nào thuộc phe nhà vua, rồi lập một ông vua khác. Nghe lời, chúa Trịnh Bồng bèn sai Nguyễn Mậu Nễ và Bùi Nhuận nhân đêm tối bí mật đem quân vào cấm thành. Hay tin có biến, vua Lê Chiêu Thống lập tức triệu hết các hoàng thân đem binh mã đến để cùng chống đỡ.

Khi ấy, có viên Đề lãnh là Hoàng Phùng Cơ vốn không cùng phe cánh với Trọng Tế, lại có nhà riêng ở trong hoàng thành, cho nên ông này liền đem hết quân bản bộ của mình ra đánh trả. Trước lực lượng mạnh mẽ của quân ủng hộ nhà vua, Nguyễn Mậu Nễ sợ nên cho quân rút lui.

Sau sự kiện này, vua Lê Chiêu Thống liền phê mật chỉ mời Nguyễn Hữu Chỉnh về triều (lúc ấy Chỉnh đang bị Nguyễn Huệ bỏ rơi song vì chạy theo kịp nên Nguyễn Huệ cho làm trấn thủ ở Nghệ An). Thừa cơ hội, Hữu Chỉnh bèn lấy danh nghĩa phù Lê để mộ quân. Nhờ vậy, chỉ trong khoảng mười ngày chiêu tập được một vạn lính.

Được tin đội quân của Hữu Chỉnh đang hùng hổ tiến ra Bắc, chúa Trịnh Bồng liền cử Trọng Tế giữ chức trấn thủ Thanh Hoa (sau là Thanh Hóa) để cầm quân cản ngăn. Trọng Tế bất đắc dĩ phải vâng mệnh, nhưng cứ dùng dằng mãi. Đến khi quân của Hữu Chỉnh đã vượt sông Thanh Quyết (tức là sông Gián Khẩu, đoạn hạ lưu sông Đáy) mà quân của Trọng Tế mới đến làng Bình Vọng (tức làng Bằng, huyện Thường TínHà Đông cũ). Không dám đối đầu, Trọng Tế liền cho thu quân rồi chạy một mạch lên Kinh Bắc, đến nỗi không kịp vào gặp chúa Trịnh Bồng.

Ở Kinh Bắc, Dương Trọng Tế liền cùng cháu là Dương Vân, học trò là Nguyễn Mậu Nễ, đắp đồn lũy ở huyện Gia Lâm để cố thủ. Nhưng chẳng bao lâu sau, Nguyễn Hữu Chỉnh sai hai bộ tướng là Nguyễn Như Thái và Hoàng Viết Tuyển mang quân đánh dẹp lực lượng của Trọng Tế. Bị thua trận, Trọng Tế bị bắt giải về Thăng Long xử tội.

Năm ấy (1787), Dương Trọng Tế vừa tròn 60 tuổi.

37. Dương Thị Ngọc Hoan -Dương Thị Ngọc Khoan

Dương Thị Ngọc Hoan (楊氏玉歡) quê làng Long Phúc, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Bà có chị gái là Dương Thị Ngọc Khoan (Ngọc Thịnh), ái phi của chúa Trịnh Doanh, nên được đưa vào làm cung tần của thế tử Trịnh Sâm. Ngọc Hoan kém sắc lại không được học hành gì, thế tử Trịnh Sâm không đoái hoài tới. Do được chị giúp để sinh con cho Trịnh Sâm, tuy không được vời song nhờ được Khê trung hầu giúp, bà được đưa vào cung hầu chúa. Sau “tình một đêm” với chúa Trịnh Sâm, bà có thai, sau đó sinh hạ được Trịnh Khải (tức Trịnh Tông). Đó là năm Quý Mùi, Cảnh Hưng 24 (1763).

Dù sinh con trai nhưng thái phi vẫn không được chúa thương yêu. Bởi vậy thái phi xin chúa rời cung về làng An Định, phường Yên Nghĩa ngày nay “ở ẩn”, tránh xung đột nơi cung cấm.

Năm Nhâm Dần (1782), vào tháng 9, chúa Trịnh Sâm mất, Trịnh Cán mới có 6 tuổi nối ngôi, quyền lực nằm trong tay tuyên phi Đặng Thị Huệ cùng thân tín của tuyên phi là Huy quận công Hoàng Đình Bảo. Đặng Thị Huệ bắt Trịnh Tông ra sống ở nhà Tả Xuyên, giam giữ cấm đoán nghiêm ngặt. Lòng dân và binh lính chán ghét mẹ con Đặng Thị Huệ.

Tháng 10 năm 1782, binh lính Tam phủ (Hầu hết là người Thanh-Nghệ-Tĩnh) nổi loạn, truất ngôi Trịnh Cán, đập phá nhà cửa, giết Hoàng Đình Bảo cùng thân thuộc phe cánh. Họ đón Trịnh Tông lên ngôi vương, phong là Nguyên soái Đoan Nam vương. Phe cánh Đặng Thị Huệ bị truy lùng và trả thù, bà tuyên phi bị truất xuống thứ nhân, Trịnh Cán bị giáng xuống làm Cung quốc công, rồi hơn tháng sau phát bệnh chết. Trịnh Tông lên ngôi, bà Dương Thị Ngọc Hoan được phong làm thái phi.

Thái phi họ Dương đã cho xây dựng nhiều công trình giao thông, đình chùa, văn hóa ở Yên Nghĩa, bà tậu 35 mẫu ruộng để cấp cho những người đi lính gọi là “binh điền” và cấp cho học trò được đi thi Hương, thi Hội, thi Đình gọi là “học điền”. Sau đó, bà ốm nặng và qua đời. Theo lời truyền, mộ thái phi được an táng ở khu ruộng làng Do Lộ, giáp làng An Định. Người dân vẫn quen gọi khu đồng này là khu mộ bà chúa Nghĩa.

Lời bàn:

Dương Ngọc Hoan tuy người Hà Tĩnh song đã ở Yên Nghĩa nhiều thời gian, nên khi mất bà được an táng tại đây. Năm 2007, do giải phóng mặt bằng, dân làng đã di chuyển và xây lại lăng mộ cho bà chúa.

Sáng 16 tháng chạp năm 2007, hàng trăm dân làng ăn mặc chỉnh tề tập trung tại đình làng để ra đồng bốc ngôi mộ. Sau khi phát quang lớp đất cỏ bề mặt, đào sâu xuống khoảng nửa mét, ai nấy nhìn thấy hình dáng mộ cổ khác lạ, được xây dựng kì công. Trên cùng là lớp chất liệu lạ cứng như bê tông dày khoảng 60 cm có hình mai rùa. Dưới mai rùa là lớp chất liệu lạ dày khoảng 20 cm: “Phá hết lớp chất lạ này mới lộ ra phần quách được xây như bể nước, thành cao gần 1 m, dày 10 cm. Ở giữa quách đặt quan tài bằng gỗ màu hồng đỏ dài 2 m, xung quanh có hạt kim tuyến thêu chữ ngoằn ngoèo không ai đọc được. Toàn bộ diện tích ngôi mộ rộng hơn 10 m2”, ông Chuyên chứng kiến toàn bộ quá trình bốc mộ cổ thuật lại.

Điều khiến nhiều người bất ngờ nhất là quan tài gần như nguyên vẹn dù phần mộ đã vài trăm năm tuổi. Nhiều người suy đoán quan tài nguyên vẹn nhờ vào chất liệu lạ phủ xung quanh mà họ gọi lớp đất nện. Sau đó, người làng còn đem loại vật liệu lạ này đến Viện Hóa học nhờ phân tích. Loại chất liệu do người xưa sáng tạo gồm vỏ sò, mật ong và một số loại nhựa cây đặc biệt trộn lại, có tác dụng chống thấm nước rất tốt.

Khoảng 10h sáng ngày 17 tháng chạp, đoàn người đi rước bà chúa về tới cổng làng An Định. Dẫn đầu là đội chiêng trống, cầm lộng, mặc trang phục tổ chức nghi truyền thống. Theo sau là hàng trăm dân làng kéo dài cả cây số. Chiếc quan tài được bọc vải đỏ, đặt trang nghiêm trước sân nhà văn hóa để dân vào làm lễ bái theo đúng phong tục lễ tang địa phương.

Chỉ sau khoảng một tháng, lăng bà chúa hoàn thành. Người dân cho biết lăng mộ hiện tại được xây nguyên mẫu như ngôi mộ cổ giữa cánh đồng. Tổng kinh phí xây dựng 40 triệu đồng đều do người dân quyên góp, tiền hỗ trợ di dời mộ.

  1. Dương Khuê

Dương Khuê (楊奎, 18391902), tự Giới Nhu, hiệu Vân Trì, danh sĩ đời Tự Đức. Tục gọi ông Nghè Vân Đình vì ông quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng HòaHà Nội). Thân phụ ông là Dương Quang, một người nổi danh trong giới học sĩ, được các bậc danh công quý trọng; thân mẫu là Bùi Thị Tôn, con gái Thượng thư họ Bùi làng Thịnh Liệt, một họ lớn sản sinh nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Bùi Xương Trạch, Bùi Huy Bích. Ông là quan nhà Nguyễn và là nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19.

Dòng họ Dương Khuê là hậu duệ của cụ Dương Công Phùng gốc Hoằng Nông vào Hà Tĩnh, chi ngành thứ ba ra định cư ở Lạc Đạo, sau con cháu chuyển đến vùng Vân Đình (Hà Tây) từ thời chúa Trịnh Cương (1709-1725).

Xuất thân trong một gia đình nhà Nho. Ông là cháu nội cụ Đốc học ở tỉnh Sơn Tây Dương Đức Ứng, húy Thụy, con cả cụ Đô ngự sử Dương Quang, anh ruột danh sĩ Dương Lâm. Thời niên thiếu, Dương Khuê rất thông minh, nổi tiếng văn hay chữ tốt, bạn bè ai ai cũng kính mến.

Nhờ chuyên cần, học giỏi, Dương Khuê ứng thí đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên); nhưng vào kinh thi Hội, thì bị hỏng khoa đầu. Được Tùng Thiện Vương mời về nhà dạy con cháu học, ông nán lại chờ khoa thi sau.

Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, khi 29 tuổi, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Khi này là lúc bang giao với Pháp ở vào giai đoạn khó khăn, vua Tự Đức nhân thời thế đó ra đề thi là “Chiến hay hòa”. Trong bài văn Dương Khuê làm có câu: “Độc bệ hạ chi chiếu nhi bất thống khóc giả, phi nhân thần dã” (Đọc chiếu của bệ hạ không khóc lên đau đớn thì không phải là người thần vậy), để nói lên nỗi đau thương của ông trước tình hình của đất nước. Tự Đức vốn là một nhà vua rất ưa chuộng văn thơ cho nên sau khi thi đỗ, vào triều bệ kiến, nhà vua thấy ông tiến sĩ mới, có lời phê rằng: “Trẫm kiến tiến sĩ Dương Khuê bẩm chất ty nhược, yếu nghi gia tâm điều dưỡng, vị quốc trừ dụng…”. Và nhà vua đặc ban cho một miếng quế để dùng vào việc thuốc thang.

Ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính.

Đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang.

Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng.

Dương Khuê và vụ án ở Định-Yên: Năm 1878 ở Nam Định – Hưng Yên xảy ra một vụ nhũng lạm công quỹ khổng lồ mà số thiếu hụt về tiền, gạo, thóc lên tới hàng trăm ngàn quan. Vua Tự Đức phái quan Khoa đạo Trần Đình Liêm cùng với Bố chính Đồng Sĩ Vịnh, Án sát Nguyễn Duy Kế đến tận nơi điều tra. Trong vụ này, Bố chính Phan Đức Trạch (đã chết) đã bị thuộc hạ cáo buộc là đã lấy từ kho tiền đưa cho Dương Khuê vay 100 lạng bạc (10000 quan) và Vũ Khoa vay 150 lạng bạc (15000 quan). Các lời khai của Dương Khuê và Vũ Khoa không làm triều đình hài lòng, nên Dương Khuê bị phạt trảm giam hậu (nghĩa là bị tạm giam, trong thời hạn 3-5 năm phải trả lại số tiền đã lấy, nếu không trả được thì sẽ bị thi hành án tử), Vũ Khoa bị giáng cấp và đổi nhiệm sở. Sau này nhà vua gia ân, chuẩn cho 2 ông được làm việc chuộc tội và được khai phục chức vị cũ.

Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ” của mình, khen bài hát tặng người tình cũ của Dương Khuê tình ý lâm ly văn cách nhẹ nhàng, vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam ĐịnhNinh Bình.

Năm 1897, Toàn quyền Paul Doummer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guồng máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.

Trong suốt khoảng thời gian làm việc trong chốn quan trường, Dương Khuê thường ở nhiều nơi, việc cai trị trung hậu thanh liêm, không bao giờ động đến tiền của nhân dân. Vì vậy, những khi ông bị thuyên chuyển đi nơi khác thì dân chúng địa phương đi đưa tiễn rất đông, còn có người níu xe mà khóc. Cũng giống như văn nho đồng thế hệ, Dương Khuê có một lối sống hào hoa, phong nhã, lấy rượu xướng ca trăng thanh gió mát để khiển hứng. Ông rất sành về đánh trống chầu và ham thích thú hát ả đào. Cả cuộc đời của Dương Khuê làm quan nhưng ông sống thanh liêm, trong sạch, ăn ở với mọi người đầy tình yêu thương và có một tấm lòng yêu nước thầm kín. Với tâm trạng buồn chán của một nghệ sỹ trước cảnh nước mất nhà tan, ông đã chọn cho mình lối thoát ra ngoài cuộc sống ấy bằng thú cầm, kỳ, thi, họa và thú hát ả đào.

Trong sự nghiệp sáng tác thơ của ông, nổi tiếng là bài “Hồng hồng, Tuyết tuyết”, đây là bài thơ phổ cập cho những người bắt đầu hát ca trù. Hai anh em Dương Khuê, Dương Lâm, cùng với các tài tử văn nhân như: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm… góp phần làm nghệ thuật ca trù trở nên nổi tiếng. Dương Khuê vốn rất giỏi về tài Hán văn và văn Nôm. Tác phẩm của ông chủ yếu trong tập Vân Trì thi tập và một số thơ văn câu đối. Thơ ca Nôm của ông có những nét riêng rất đặc sắc, nhất là trong thể loại ca trù. Nói chung Dương Khuê khá đa tài và ông là người có tài năng nghệ thuật khá hoàn hảo cả bằng Hán văn lẫn chữ Nôm. Tìm hiểu thơ ông có thể phân làm ba loại chính:

Thứ nhất là thơ ca Đường luật với lời lẽ trịnh trọng, ung dung như các bài Ngũ thập tự thọ, Tự vịnh, Đánh cờ, Tiễn đưa sứ thần… Thứ hai là thơ lục bát, thường là những bài thơ nhỏ, ngắn nhưng hé mở cho ta thấy đó là một tâm hồn biết sống say mê, nặng tình cùng non sông đất nước như Hà Nội tức cảnh, Hỏi thăm bạn ở Hưng Hóa, Lời hẹn…. Thứ ba là văn ca trù, đây là thể loại sáng tác sở trường của ông nên ở thể loại này có nhiều bài tuyệt tác và trở thành mẫu mực như bài Hồng hồng Tuyết tuyết (Gặp cô đào cũ), Nhân vong cầm tại, Tiễn đào Cần, Tặng cô đào Cúc… Phần thứ ba có thể xem là phần quan trọng nhất trong thơ văn của Dương Khuê bởi nó thể hiện được cá tính và địa vị văn chương của tác giả, địa vị của nhà văn sành nghe hát ả đào với sở trường sáng tác hát nói.

Trước đây, ông vẫn được xem là một đại biểu của khuynh hướng “thoát ly hưởng lạc” trong văn học Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ 19. Song gần đây, bước đầu giới nghiên cứu đã có cách lý giải mới đối với phần tâm sự của ông gửi gắm trong thơ văn. Là một viên chức buổi giao thời, đường làm quan không mấy suôn sẻ…, vì thế các sáng tác của ông chính là một phương tiện giúp ông giải tỏa những bất mãn đối với hiện thực. Thơ văn ông truyền tụng hầu hết là những bài hát nói, đặc sắc hơn cả là bài “Đề động Hương Tích”.

Tuy có làm thơ chữ Hán, nhưng ông nổi tiếng nhờ những bài ca trù. Với sự tinh luyện về ngôn ngữ và sự hài hòa trong thanh điệu của ông, khiến những bài ấy luôn cuốn hút người nghe bởi lời ca – thơ của Dương Khuê đã đạt đến trình độ “thanh thoát, uyển chuyển và hóm hỉnh”.

Dương Khuê mất ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần (1902), thọ 63 tuổi. Nghe tin, bạn thân ông là Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ nổi tiếng “Khóc bạn” để viếng ông (trong đó mở đầu bằng câu: “Bác Dương thôi đã thôi rồi”).

Có thể nói cùng với Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê là nhà nho tài tử cuối thế kỷ XIX, có vai trò trong sự giữ gìn dòng mạch văn chương tài tử từ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đến Tản Đà và Thơ mới, góp phần làm phong phú hơn kho tàng văn học, văn hóa Việt Nam.

  1. Dương Lâm

Dương Lâm tự Vân Hồ, Thu Nguyên, Mộng Thạch, biệt hiệu Quất Tẩu, Dương Công, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1851, trong một gia đình nhà nho thanh bạch, có truyền thống hiếu học, tại làng Vân Đình, tổng Phương Đình, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Ông là em ruột nhà thơ Dương Khuê, kém Dương Khuê 12 tuổi.

Thuở nhỏ Dương Lâm đã có ý thức rèn luyện trí, đức, nối nghiệp thi thư, phát huy truyền thống văn học của họ Dương và họ Bùi; về sau ông trở thành một trong những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỷ XX.

Dương Lâm đỗ Tú tài năm 1867, vào Huế thi Hội năm 1868. Năm 1873, thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, ông cùng thân phụ chiêu mộ dân giữ thành đánh giặc. Sau hơn hai tháng chống cự, Pháp buộc phải rút lui, trả lại bốn tỉnh mà chúng đã chiếm; Dương Lâm và thân phụ được triều đình ban thưởng hàm Hàn lâm viện Cung phụng.

Năm 1878, Dương Lâm đỗ Giải nguyên; năm 1884 ra dạy học ở Ý Yên. Dạy học chưa được bao lâu, ông nhận được sớ triệu làm Tri huyện Hoài Yên. Do chứng kiến việc triều đình Huế dâng đất nước cho Pháp, Dương Lâm chán nản, lấy cớ chăm sóc thân phụ già yếu, xin nghỉ việc quan một năm. Năm 1887, ông lại được triệu ra làm Bang tá, một chức vụ nhỏ tại Nha Kinh lược.

Cuộc đời và tư tưởng của Dương Lâm chịu ảnh hưởng của nhiều biến cố đau thương trong lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX. Quan lộ của Dương Lâm gập ghềnh, quanh co. Sử sách và văn thơ của ông cho biết, nhiều lần ông phải viện cớ từ quan, về nhà dạy học, viết sách, viết báo.

Năm 1888, Dương Lâm nhậm chức Án sát ở Hưng Hóa. Trong thời gian đương chức, ông cho thả hàng trăm tù nhân. Sau sự kiện này, ông bị đổi về làm ở Bố chánh Sơn Tây, hàm Quang lộc khanh; rồi được cử làm Bố chánh ở miền rừng Lục Nam (Bắc Giang) có nhiều thổ phỉ quấy phá. Năm 1890, Dương Lâm lập công dẹp giặc Tàu, giặc thổ phỉ, cứu thoát hàng trăm phụ nữ, trẻ em sắp bị bán sang Tàu. Nhớ ơn ông, dân làng Quỷnh đã lập đền thờ ngay lúc ông còn sống.

Hồi nhớ về sự kiện đó, trong Hành trạng, Dương Lâm đã viết: Nực cười cái kiếp làm quan/ Xoay nhau cho mỏi dặm trường mới cam/ Đổi trị lỵ Lục Nam Bố chánh/ Rừng núi xanh quanh tỉnh bốn bề/ Giặc Quách Mãn, tướng Lưu Kỳ/ Vừa Thanh, vừa Hán phân chia đánh thành…

Năm 1891, Dương Lâm về Hà Nội, chuyển sang viết văn, làm chủ bút Đại Nam đồng văn nhật báo, một tờ báo đầu tiên do người Việt chủ trương ở Bắc Kỳ: Qua Canh Dần đến năm Tân Mão/ Cuộc Đồng văn nhật báo đặt ra/ Văn chương cái nợ với ta/ Dứt đi lại buộc đến ba bốn lần (Hành trạng)…

Năm 1892, ông nhận chức Tuần phủ Thái Bình, giúp dân chống “thủy tai khắp cả toàn kỳ”.

Năm 1895, đổi về Nha Kinh lược Bắc Kỳ, giữ chức Tham tá. Sau Pháp chiếm giữ, buộc vua Thành Thái ra dụ giải tán Nha Kinh lược, Dương Lâm phải thôi giữ chức Tham tá, nhưng bù lại ông được triều đình Huế cử giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán, hàm Thượng thư, chuyên về viết sử cho triều đình, sau đó, triều đình còn cử ông đứng đầu ban Tu thư sửa đổi phép học, phép thi.

Song do buồn nản cảnh vua nhỏ mải lo vui chơi đàn hát, lại gặp cảnh gia đình có tang, Dương Lâm sớm cáo quan về nhà dạy học.

Năm 1900, ông nhận được chiếu chỉ cử làm Tổng đốc Bình Định – Phú Yên, hàm Thái tử Thiếu bảo. Trong suốt hai năm làm quan ở đây, ông đã ba lần xin từ chức về nuôi dưỡng mẹ già, dạy học và viết sách giáo khoa. Cuốn Tự học Hán tự tân thư của ông được soạn trong giai đoạn đó.

Dương Khuê có nhiều công đối với dân, với nước: giữ thành đánh Pháp, cứu dân đánh thổ phỉ, đuổi giặc Tàu, viết sử nước nhà, viết sách thường thức sơ học…

Ngoài cuốn Tự học Hán tự tân thư nêu trên, Dương Lâm còn soạn viết: Nam sử phú, Bắc kỳ châu quận canh hoán phân hợp chú, Vân Dương văn tập, Vân Dương thi tập; Dương gia thi tập, Trung học Ngũ kinh toát yếu, Văn sách tân thức hợp tuyển, Túy hậu nhàn ngâm tập, Vân Đình biểu văn khải trướng toàn tập, Vân Đình Giải nguyên Dương Lâm văn tập phụ tạp văn, Tấu nghị tiền tập…

Theo Dương Thiệu Tống trong sách Tâm trạng Dương Khuê, Dương Lâm (2000), Dương Lâm cũng có một số bài thơ, phú sách, câu đối trong các sách Cường dư văn chiến, Hà Đông danh đối liên thi văn tập, Phúc Giang thi văn tập, Tạp sáo tân biên, Tinh nghĩa sao tập… Các tác phẩm của ông chủ yếu đề cập đến lịch sử, các chính sách canh nông, địa lí cương vực, văn hóa, văn minh… Sử sách nhắc đến Dương Lâm ở nhiều vai trò: nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo và nhà viết sử.

Khác với các tác phẩm của anh mình, vốn được ghi chép và bình luận nhiều dưới thời Pháp thuộc vì không ảnh hưởng gì đến chính trị thời cuộc, các tác phẩm của Dương Lâm ít được phổ biến hơn, có lẽ vì phần nhiều đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến thời kỳ người Pháp xâm lăng Việt Nam và nói lên cảm nghĩ của tác giả về các sự kiện lịch sử ấy.

Dương Lâm chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo nhưng cũng có tư tưởng thức thời. Ông tiếp biến hài hòa cái mới, từ bỏ cái lạc hậu, một mặt giáo huấn con cái đạo lí truyền thống, mặt khác lại phê phán cung cách giáo điều, cứng nhắc; có lúc ông noi theo sử sách, có khi ông điều chỉnh thiên về thực tiễn trước mặt. Ở ông chữ Trung – Hiếu vẫn có sức nặng, nhưng cách nghĩ, cách nhìn về những chuẩn mực đó đã có nhiều đổi khác. Ông đặt chữ Hiếu, chữ Nhân lên trên chữ Trung: Thờ vua ngày tháng còn dài/ Mà ngày thờ mẹ ngắn rồi phải lo...

Thơ văn của Dương Lâm miêu tả, ngợi ca hình ảnh anh hùng Nguyễn Trãi, Quang Trung; phản ánh sự kiện thổ phỉ Quách Mãn ở Lục Nam. Ông ghi lại việc giải tán Nha Kinh lược sứ ở Bắc kỳ, nạn lụt năm Quý Tỵ (1893), thời tàn của Nho học, con đường mới của các chí sĩ yêu nước, sự kiện xuất bản tờ báo đầu tiên ở Bắc Kỳ. Thơ văn của ông đã bộc lộ tự nhiên, chân thực hoài bão “mở giang sơn mi mục” của một nhà Nho, tâm trạng dằn vặt, giằng co gay gắt trước những biến động lịch sử của một trí thức yêu nước, tinh thần phản tỉnh, phê phán thời cuộc nghiêm khắc của một vị quan thương dân.

Dương Lâm thẳng thắn phê phán, trách vấn Hoàng Cao Khải, người đã đàn áp phong trào văn thân ở Bắc Kỳ, đẩy ông lên miền rừng cao diệt thổ phỉ. Song, cái tiến bộ, đáng trọng nữa của Dương Lâm được thể hiện ở chỗ, ông luôn giữ vẹn lòng thủy chung với đất nước. Ông băn khoăn đặt ra hàng chục câu hỏi về thế sự đau buồn, về chủ quyền của non sông gấm vóc; tỏ bày một cách bình dị nỗi hổ thẹn, uất hận trước sự xâm lăng của ngoại bang, đồng thời cũng luôn tự vấn, tự trào, tự phê phán mình đã bất lực sống làm tôi tớ, cảm khái bi thương trước cuộc “mất không”: Ngoảnh mặt lại mấy phen dâu bể/ Thương cuộc đời mà vui vẻ với riêng ai?

Dương Lâm cũng nói về chữ “nhàn”, song chữ nhàn ở ông luôn có điều kiện kèm theo, được đặt sau trách nhiệm đối với dân tộc, lịch sử. Ở Dương Lâm, ý thức “xốc vác non sông” được đặt lên hàng đầu và trở thành bổn phận của kẻ làm trai.

Sinh trưởng trong giai đoạn ý thức hệ cũ suy tàn, Dương Lâm cũng có cảm thức “trống rỗng”, “người thừa”. Ông bị đặt giữa bi kịch của thời đại, buộc phải đối diện mà lựa chọn giữa tân học và cựu học, giữa xuất và xử, giữa tị thế và nhập thế. Ông đánh giá bản thân mình như sau: Chân cựu học dựa theo tân học/ Trong tân thư còn học cựu thư/ Ai khen, khen cũng bằng thừa/ Ai chê thì cũng xin ừ rằng chê... Có lúc ông chọn con đường ra làm quan, nhưng ở vị thế ấy, ông lại không thể chấp nhận biến mình thành bù nhìn, giương mắt trông “phường thi tố”. Có khi ông chọn con đường lui về ở ẩn, chấp nhận nghèo túng, vậy rồi ông lại bị triệu ra nhậm chức. Dương Lâm, một nhà Nho hành đạo, cố gắng đi về phía nhà nho ẩn dật nhưng không thành. Dương Lâm, một nhà Nho muốn vùng vẫy trong cơn dâu bể, nhưng lại thấy cho dù có bạc đầu đi nữa thì chuyện khanh tướng công hầu ở đời đâu phải dễ. Dương Lâm mang nhiều uẩn khúc, ôm mãi mối uất hận riêng tây không biết ngỏ cùng ai. Ở bài Phú thị tử đệ, ông viết: Tâm uất uất kỳ thùy ngữ/ Đông gia thực, Tây gia trúc/ Bán sinh chi trần lộ dĩ phi (Lòng uất hận không biết ngỏ cùng ai/Ăn nhà Đông, ngủ nhà Tây, nửa kiếp đường trần đã lỡ).

Cuối đời Dương Lâm an ủi tổng kết: Trăm năm đống quất vùi ba thước/ Ghi lại nhân gian một tấc son. Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1920. Đúng một tháng sau, triều đình có sắc chỉ truy phong Dương Lâm là Khánh Vân Nam tước. Ngày nay, tấm văn bia ghi sắc chỉ đó vẫn còn được giữ nguyên vẹn tại lăng mộ Dương Lâm ở Tảo Khê (Ứng Hòa, Hà Nội). Do ông có tước Hàm Thiếu bảo, quê Vân Đình nên người đương thời thường gọi là cụ Thiếu Vân Đình.

Các cháu nội của hai ông Dương Khuê, Dương Lâm kế tiếp cha ông cũng là những văn nghệ sĩ, nhà khoa học nổi tiếng như: nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, giáo sư-tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh (đang làm việc cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ), nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ kiêm thi sĩ Dương Hồng Kỳ.

Dương Lâm xứng đáng là một nhân sĩ văn tài của họ Dương.

  1. Dương Thị Thục

Dương Thị Thục người huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, con gái của Phú quốc công Dương Quang Hướng (楊光向). Được Bảo Đại tôn xưng là Khôn Nghi Xương Đức Thái hoàng thái hậu (18 tháng 4 năm 1868 – 17 tháng 9 năm 1944). Bà là thứ thất của Đồng Khánh thuộc triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Bà là sinh mẫu của Khải Định và là tổ mẫu của Bảo Đại.

Khi đến tuổi cập kê, bà được tuyển vào làm thứ thất cho hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đàng. Năm 1882Hoàng tử được phong làm Kiên Giang quận công (堅江郡公).

Năm 1885Hàm Nghi phát động trận Kinh thành Huế 1885 và phong trào Cần Vương liên tiếp chống Pháp, cuối cùng thất bại và bị tù đày. Giữa lúc đó, chính quyền Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn chọn ra một hoàng thân lên ngôi hoàng đế và Kiên Giang quận công được chọn.

Ngày 19 tháng 9 năm 1885, Kiên Giang quận công đăng cơ, tức Đồng Khánh, bà được phong tước tiệp dư, thuộc hàng ngũ giai, trong 9 bậc cung giai. Bà sinh được hai người con trai là Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹) và Nguyễn Phúc Bửu Cát (阮福寶嶱), nhưng chỉ có Bửu Đảo còn sống đến tuổi trưởng thành, đồng thời cũng là con trưởng của Đồng Khánh. Vì là sinh mẫu của hoàng trưởng tử, dù chỉ là thân phận phi tần nhưng bà vẫn được tôn quý không kém gì hoàng quý phi Nguyễn Hữu thị, chính thất của Đồng Khánh.

Năm Đồng Khánh thứ 4 (1889), Đồng Khánh băng hà khi chỉ mới 24 tuổi. Hoàng trưởng tử Bửu Đảo còn quá nhỏ tuổi, triều đình Huế thông qua ý định của Toàn quyền Pierre Paul Rheinart, đưa con trai của Dục Đức là Nguyễn Phúc Bửu Lân lên kế vị, tức Thành Thái. Năm đó, bà được phong Tứ giai Hòa tần (和嬪), con trai bà Bửu Đảo lớn lên với tước vị Phụng Hóa công (奉化公). Năm Duy Tân thứ 8 (1914), bà được nâng làm Tam giai Nghi tần (宜嬪).

Năm Duy Tân thứ 10 (1916), sau nhiều chính biến khiến Thành Thái bị phế, Duy Tân bị lưu đày, Phụng Hóa công Bửu Đảo được kế thừa ngôi vị, tức Khải Định. Bà được sắc phong hoàng thái phi (皇太妃), sinh thần gọi là Tiên Thọ tiết (僊壽節), vì vậy còn gọi là Tiên Mẫu.

Năm Khải Định thứ 8 (1923), tháng 10, bà được chính thức tôn phong làm Khôn Nghi hoàng thái hậu (坤儀皇太后), cùng năm đó, hoàng thái hậu Nguyễn Hữu thị cũng được đồng sắc phong làm Khôn Nguyên hoàng thái hậu (坤元皇太后). Vì để phân biệt thứ bậc, người ta bắt đầu gọi Khôn Nguyên hoàng thái hậu là Thánh Cung hoàng thái hậu (聖宮皇太后) hay Đức Thánh Cung (德聖宮), còn Khôn Nghi hoàng thái hậu là Tiên Cung hoàng thái hậu (僊宮皇太后) hay Đức Tiên Cung (德仙宮).

Năm Bảo Đại thứ 8 (1933), 20 tháng 3Bảo Đại tôn bà làm Khôn Nghi Xương Đức thái hoàng thái hậu (坤儀昌德太皇太后). Năm Bảo Đại thứ 19 (1944), Khôn Nghi Xương Đức thái hoàng thái hậu băng thệ, thọ 77 tuổi. Lăng của bà được gọi là Tư Thông lăng (思聰陵), dân gian quen gọi là Tiên Cung lăng (僊宮陵), tọa lạc ở làng An CựuHương ThủyThừa Thiên. Dân chúng trong vùng quen gọi là Vạn Vạn lăng (萬萬陵).

Dương Thị Thục cùng với Phụ Thiên Thuần hoàng hậu, chính thất của Đồng Khánh, là hai vị thái hoàng thái hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn cũng như trong lịch sử Việt Nam. Bà cũng là người phụ nữ họ Dương cuối cùng làm hoàng hậu của nhà nước phong kiến Việt Nam.

C- Người họ Dương tiêu biểu   thời Pháp thuộc đến nay

  1. Dương Văn Hạnh

Dương Văn Hạnh sinh năm 1821, quê quán xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè, tổng Cần Giờ (nay thuộc huyện Cần Giờ), thành phố Hồ Chí Minh. Ông được nhân dân tôn vinh là “Thần không đầu”. Vào những năm đầu kháng chiến chống Pháp, quê ông có rất nhiều người tham gia nghĩa quân của Trương Định và là hậu phương vững chắc cho quân khởi nghĩa.

Ngày 28 tháng 02 năm 1863, sau khi thất thủ tại căn cứ Tân Hoà, Gò Công, Trương Định đã rút về Lý Nhơn, nơi đây kênh rạch và rừng sác đã che chở an toàn và bí mật cho nghĩa quân.

Tại xã Lý Nhơn, Dương Văn Hạnh bí mật tham gia nghĩa quân, trong khi vẫn làm xã trưởng để huy động nhân tài vật lực tiếp tế, nuôi sống nghĩa quân qua những ngày gian khó.

Ông trực tiếp tham gia chiến đấu, là bộ tướng đắc lực của Trương Định, với nhiều trận đánh oanh liệt ở các địa danh như: Hoà Nghi, Tráng Cốc (Bình Ân, Vàm Láng hiện nay), cầu Nổi (Gò Công).

Biết ông Hạnh cùng với một số người bí mật liên lạc với Trương Định, quân Pháp bắt ông, bước đầu chúng mua chuộc, dụ dỗ để ông khai ra nơi ẩn trú của nghĩa quân nhưng ông một lòng một dạ kiên trung, cuối cùng chúng dùng đến cực hình tra tấn đánh đập khảo tra tàn nhẫn song không kết quả. Ông dõng dạc nói: “Tao là Dương Văn Hạnh thà đứt đầu chứ không bao giờ khai báo với bọn cướp nước Tây Dương chúng mày để dắt chỉ những người yêu nước”. Không khai thác được gì, ông bị giặc Pháp chém đầu ngày 16 tháng Chạp năm 1863 tại đình Củ, xã Lý Nhơn, ông hưởng dương 42 tuổi. Giặc Pháp mang đầu ông đi, dân làng chôn cất ông bằng đầu gáo và suy tôn là “Thần không đầu”.

Năm 1869, nhân dân Lý Nhơn lập đền thờ và tôn ông là Thành hoàng làng.

Dương Văn Hạnh là vị nhân thần xuất thân từ người dân yêu nước và được dân tôn kính, cái chết của ông đã hun đúc sức mạnh tinh thần yêu nước của nhân dân Nam Bộ nói chung và Cần Giờ nói riêng. Tinh thần bất khuất của ông trở thành tấm gương sáng chói về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

  1. Dương Bá Trạc

Dương Bá Trạc sinh ngày 22 tháng 4 năm 1884 tại làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Khoái Châu (nay là huyện Văn Giang), tỉnh Hưng Yên. Là anh

Là anh ruột Dương Quảng Hàm (18981946) và Dương Tụ Quán (1902 – 1969); cả hai đều là nhà giáo tiến bộ thời cận đại.

Năm 16 tuổi, Dương Bá Trạc thi đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900). Năm Giáp Thìn (1904), ông cùng Phan Chu Trinh vào mật khu Yên Thế bàn việc nước với lãnh tụ Hoàng Hoa Thám.

Năm Bính Ngọ (1906), ông cùng với Nguyễn QuyềnLê ĐạiHoàng Tăng BíLương Văn Can lập Đông Kinh nghĩa thục.

Tháng 3 năm 1907, trường khai giảng  ở Hàng Đào, do Lương Văn Can làm Thục trưởng kiêm giảng. Bị nghi ngờ có tư tưởng chống đối, khoảng tháng 12 năm 1907, trường bị nhà cầm quyền Pháp đóng cửa.  Cùng thời gian ở Hà Nội  xảy ra vụ Hà Thành đầu độc ngày 27 tháng 6, khiến thực dân Pháp nghi là do các thân sĩ (trong đó có nhóm Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân) xúi giục nên thẳng tay đàn áp. Ông bị bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội). Dương Bá Trạc bị kết án 15 năm tù khổ sai, bị đày ra đảo Côn Lôn.

Tháng 8 năm Canh Tuất (1910), sau khi ở Côn Lôn 20 tháng, Dương Bá Trạc được đưa về đất liền an trí. Năm 1939, ông được Việt Nam phục quốc đồng minh hội của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để mời tham gia theo Nhật để chống Pháp. Ngày 29 tháng 10 năm 1943, ông cùng Trần Trọng Kim được  người Nhật đưa sang Singapore. Ở xứ người, ý nguyện chưa thành, thì Dương Bá Trạc mất vì bệnh ung thư phổi vào ngày 26 tháng 10 năm Giáp Thân (11 tháng 12 năm 1944). 

Dương Bá Trạc là nhà cách mạng, nhà báonhà văn Việt Nam thời Pháp thuộc. Cuộc đời và thơ văn của ông rất đáng để tìm hiểu và nghiên cứu, bởi vì ông là một nhân vật có thể đại diện cho lớp sĩ phu nho học khoa cử cuối cùng cố gắng tiến theo thời đại. Thơ văn của ông góp phần phản ánh giai đoạn lịch sử nước ta ở nửa đầu thế kỷ XX.

  1. Dương Quảng Hàm

Dương Quảng Hàm sinh ngày 14 tháng 7 năm 1898 trong một gia đình có truyền thống Nho học tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cụ nội là Dương Duy Thanh (1804 – 1861), từng làm Đốc học Hà Nội. Cha của ông là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc, một trong những người sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, trường học cách mạng đầu tiên của thành phố Hà Nội, em là Dương Tự Quán, đều là những danh sĩ có tiếng đương thời.

Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau ra Hà Nội học chữ Quốc ngữ. Năm 1920, tốt nghiệp thủ khoa Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Từ năm 1920 đến 1946, ông làm giáo viên Trường Bưởi (tức trường trung học bảo hộ, tiền thân của Trường Chu Văn An ngày nay). Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được bổ nhiệm làm Tổng Thanh tra Trung học (đến 26/11/1946, được thay bởi Nguyễn Văn Hiểu),  rồi làm Hiệu trưởng của Trường Bưởi.

Trong hơn 20 năm (1920 – 1945), ông đã làm việc không mệt mỏi, vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học cho nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc trung học, vừa bằng tiếng Pháp vừa bằng tiếng Việt. Ngoài công trình Quốc văn tích diễn, Việt Nam thi văn hợp tuyển ra thì hai cuốn sách có giá trị nghiên cứu nhất của ông là Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942). Riêng tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10) trong nhiều năm liền.

Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhà giáo Dương Quảng Hàm được Việt Minh giao làm Hiệu trưởng Trường Bưởi. Tuy nhiên, đến 19 tháng 12 năm 1946, ông bị Pháp bắt và xử tử hình, trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, hưởng dương 48 tuổi.

  1. Dương Văn Dương

Dương Văn Dương (Ba Dương – Ba Lê – Sáu Phận – ông Sáu Nam Vang) sinh năm 1900 quê quán ở Bến Tre. Ông là thủ lĩnh của lực lượng quân sự kháng chiến chống Pháp gọi là lực lượng Bình Xuyên, trong những năm 1945-1946. Ông lên Sài Gòn làm ăn từ nhỏ. Dương Văn Dương sinh trong một gia đình nghèo, mồ côi cha từ tấm bé. Ba Dương theo mẹ bỏ xứ đi kiếm sống khắp nơi, cuối cùng trụ lại ở khu vực cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, TPHCM).

Nhà nghèo, Ba Dương học hết tiểu học thì nghỉ, làm đủ thứ nghề để mưu sinh.

Lúc trẻ, ông đã từng lăn lộn, chăn vịt chạy đồng mướn khắp miền đồng ruộng Nhà BèCần GiuộcCần ĐướcGò Công. Có khiếu võ nghệ từ nhỏ nhờ được cha dượng chỉ dạy, lớn lên đi chăn vịt chạy đồng, đến đâu Ba Dương cũng tìm xem có ông thầy nghề võ nào là tìm tới làm quen, xin làm đệ tử để thọ giáo cho bằng được những miếng võ hay. Nhờ vậy, nghề võ của Ba Dương đã sớm hơn người. Ông tinh thông nhiều độc chiêu của những thầy võ nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn, thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh, thầy Bộ Dực ở Bến Tre… Sau khi chấm dứt đời chăn vịt, trở về Nhà Bè sống cuộc đời hảo hán, Ba Dương nhanh chóng nổi bật trong giới giang hồ ở Sài Gòn.

Năm 1936, Ba Dương mở lò dạy võ ở khu vực cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, ông dạy võ không lấy tiền, chủ yếu là giúp những người dân lương thiện có được vài miếng võ phòng thân. Nhiều lần ông cho các môn sinh đi cướp của cải nhà giàu, bọn quan lại, đem về chia cho dân nghèo quanh vùng. Tiếng tăm của Ba Dương từ đó càng vang xa. Ba Dương sống rất phong lưu nhờ nguồn thu bảo kê cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hoá từ Nam Kỳ lục tỉnh trên kênh Cây Khô, ngay cửa ngõ Sài Gòn.

Ông là người nghiêm nghị, ít nói, nhưng hòa nhã, thân thiện, lạc quan và kiên trì, tài đức song toàn. Ông nổi tiếng không chỉ nhờ nghề võ hơn hẳn các tay anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn, mà còn do cách hành xử rất quân tử, mã thượng. Có miếng võ nào độc đáo, ông sẵn sàng truyền lại cho “chiến hữu”, không giấu giếm. Chẳng bao lâu, Ba Dương quy phục hàng trăm tay “đâm thuê chém mướn” về dưới trướng. Ông hướng họ theo con đường “giang hồ nghĩa hiệp”, từ bỏ chuyện cướp cạn đầu đường xó chợ. Ông được xem là thủ lĩnh của giới lục lâm thảo khấu Nam Kỳ bấy giờ. Ông là dân “anh chị” trong giới giang hồ ở Chánh Hưng, Chợ Lớn. Trong đám “em út” có Bảy Viễn (Lê Văn Viễn), Mười Trí (Huỳnh Văn Trí), Hai Vĩnh (Mai Văn Vĩnh), Bảy Môn, Năm Hà (Dương Văn Hà) … sau này phần lớn họ đều theo kháng chiến chống pháp.

Năm 1940, cùng với em cùng cha khác mẹ là Năm Hà vào làm công nhân cho hãng đóng tàu Nichinan của Nhật (có khuynh hướng thân Nhật). Sau đó, Ba Dương lập ra Thanh niên cảm tử đoàn (còn gọi là hải quân Bình Xuyên) toàn là dân thuộc giới giang hồ, em út ông, trụ sở đặt tại chợ Tân Qui (thuộc Nhà Bè). Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt và tra tấn dã man. Chính trong những ngày lao tù, Ba Dương đã tiếp xúc với tù chính trị, được giúp đỡ, giác ngộ con đường cánh mạng. Mãn hạn tù, Ba Dương trở lại vùng Tân Quy tiếp tục cuộc sống giang hồ hảo hán, nhưng trong lòng đã có cảm tình với những người chống Pháp. Ông đã có ý thức tập hợp, cảm hoá các nhóm giang hồ và thu thập vũ khí chờ thời cơ làm chuyện lớn.

Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ba Dương lợi dụng tình hình rối ren đã cho đàn em thu mua được số lượng lớn vũ khí, đồng thời tập hợp nhiều băng nhóm giang hồ nổi tiếng ở Sài Gòn như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ… Không chỉ mua vũ khí, Ba Dương còn cho đàn em đón đường tước vũ khí của giặc Pháp để trang bị cho mình. Từ tháng 5-1945, lực lượng của Ba Dương đã phối hợp với lực lượng Thanh niên Tiền phong khống chế, tiêu diệt nhiều mật thám, cảnh sát ác ôn, có nợ máu với nhân dân. 

Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra ở Sài Gòn, theo lệnh của Xứ uỷ Nam Kỳ, đội quân của Ba Dương đã đánh chiếm những địa điểm quan trọng như: toà án, khám lớn Sài Gòn, bót số 6, giải thoát hàng trăm tù chính trị bị Pháp, Nhật giam giữ. Với tư cách là một tay anh chị có uy tín nhất Sài Gòn, Ba Dương đã thống nhất các nhóm vũ trang giang hồ tứ chiếng lân cận trở thành một lực lượng giang hồ có vũ trang hùng mạnh. Họ đã chọn tên ấp Bình Xuyên (thuộc làng Chánh Hưng) làm tên chính thức cho lực lượng vũ trang do Ba Dương làm thủ lĩnh. Danh xưng “Bộ đội Bình Xuyên” ra đời từ đó, xóm cầu Rạch Đỉa trở thành tổng hành dinh.

Lực lượng Bình Xuyên sau đó được tổ chức chính quy và được đặt tên là trung đoàn Dương Văn Dương. Lực lượng của bộ đội Bình Xuyên lúc này quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên. Ba Dương đã trực tiếp chỉ huy, phối hợp với bộ đội Tám Mạnh phục kích đánh địch trên kênh Cây Khô, tiêu diệt một đoàn tàu của Pháp, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu 1 tàu kéo, 1 sà lan và 4 tàu chở đầy lương thực, thực phẩm. Tháng 12.1945, tướng Nguyễn Bình – Khu bộ trưởng Khu 7 – đến thăm sở chỉ huy bộ đội Bình Xuyên và quyết định bổ nhiệm Ba Dương làm Khu bộ phó Khu 7.

Ngay sau khi thành lập, bộ đội Bình Xuyên đã phối hợp với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực đánh Pháp nhiều trận, gây được tiếng vang. Dưới sự chỉ đạo của các cán bộ cách mạng, lực lượng Bình Xuyên của Ba Dương đã phát triển thành nhiều đơn vị vệ quốc đoàn. Những thủ lĩnh Bình Xuyên một thời giang hồ hảo hán như Ba Dương, Mười Trí, Hai Vĩnh, Năm Hà… trở thành những người đi theo cách mạng, quyết tâm phục vụ đất nước. Ba Dương nhiều lần yêu cầu các “chiến hữu” Bình Xuyên phải học tập người chiến sĩ cách mạng, kiên quyết từ bỏ thói giang hồ vô tổ chức, không có lý tưởng. Những nhóm giang hồ nào chưa chịu vào khuôn phép, còn rượu chè bê tha, ức hiếp quần chúng, đều bị phạt rất nặng; thậm chí có thể bị “tử hình”.

Ngày 23-9-1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến mùa thu. Xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Mặt trận phía nam Sài Gòn (mặt trận số 4) được thành lập, Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông. Đến tháng 11-1945, ông trở thành Chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, Ba Dương cùng bộ đội Bình Xuyên rút về rừng Sác (Cần Giờ) lập căn cứ kháng chiến chống Pháp. Cùng lúc, tướng Nguyễn Bình từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng được lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp tốc vào Nam để thống nhất các lực lượng vũ trang chống Pháp. Sau khi nhận được chỉ thị từ tướng Nguyễn Bình, Ba Dương đã tổ chức đột kích đánh vào nhiều vị trí quan trọng của địch trong nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn, gây được tiếng vang.

Đầu năm 1946, Ba Dương lại dẫn quân xuống tăng cường chiến khu Bến Tre, ứng cứu mặt trận An Hoá – Giao Hoà đang bị Pháp uy hiếp. Ông cho quân ăn tết trước 3 ngày, trong đêm giao thừa vượt sông Soài Rạp. Vừa đi, bộ đội Bình Xuyên vừa đánh địch ở Cần Giuộc, Cần Đước, Chợ Gạo. Nhưng khi đến Bến Tre thì được tin mặt trận An Hoá – Giao Hoà đã mất.

Ba Dương đón đánh đoàn tàu vận chuyển lương thực, thực phẩm của địch trên sông Tiền, rồi kéo quân về Giồng Trôm cùng lực lượng tại chỗ bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Pháp. Ngày 16-1-1946, quân Pháp tấn công vào căn cứ, đơn vị của Ba Dương bị bao vây tứ phía. Ông đã cùng các chiến sĩ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh. Tướng Nguyễn Bình và Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đã đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh truy phong cấp bậc thiếu tướng cho Ba Dương

Ngày 5 tháng 8 năm 1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã truy phong ông là liệt sĩ, Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam, là vị tướng được truy phong đầu tiên của Việt Nam. Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho một con kênh ở Mộc Hóa, Tân An (tên cũ là Lagrange). Tên này còn được giữ lại cho đến ngày nay. Ngày nay, giữa vùng Đồng Tháp Mười có một con kênh lớn, dài gần 50 cây số, mang tên Dương Văn Dương. Con kênh bắt đầu từ thị trấn Tân Thạnh (huyện Tân Thạnh, Long An) chạy xuyên qua Đồng Tháp Mười về Đồng Tháp. Con kênh này trước đây Pháp cho đào để nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây làm tuyến vận tải huyết mạch của đồng bằng Sông Cửu Long.

Ngày 7 tháng 4 năm 2000, thành phố Hồ Chí Minh đã đặt tên đường Dương Văn Dương cho một đường mới được mở rộng từ năm 1996, dài khoảng 450 mét, nằm trên địa bàn phường 16 quận Tân Bình. Ngày 23 tháng 6 năm 2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định thành lập Trường Trung học phổ thông Dương Văn Dương đặt tại ấp 2, xã Phú Xuânhuyện Nhà Bè.

Dương Văn Dương từng một thời gian dài là tay giang hồ lừng danh nhất đất Sài Gòn, tất cả các băng đảng khác phải nể phục. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có lẽ cuộc đời Ba Dương và tổ chức Bình Xuyên cũng chỉ dừng lại ở “giang hồ nghĩa hiệp”. Cách mạng đã chắp cho Ba Dương và Bình Xuyên đôi cánh, giúp họ biết chiến đấu và hy sinh cho độc lập, tự do của đất nước, dân tộc.

Cuộc đời binh nghiệp gắn với cách mạng của Ba Dương thật ngắn ngủi, nhưng lừng danh, để lại dấu ấn đậm nét. Những tướng lĩnh nổi tiếng một thời của Nam Bộ như Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Đồng Văn Cống, Thiếu tướng Tô Ký, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định… đều xem Thiếu tướng Dương Văn Dương là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam Bộ.

Họ Dương Việt Nam tự hào vì có vị tướng cách mạng đầu tiên của dân tộc là Dương Văn Dương, kế tiếp truyền thống của Dương Thanh, Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha. Tiếc một tài năng người họ Dương, không hy sinh, ông còn phục vụ nhiều cho cách mạng, sẽ thành lãnh đạo tài ba của quân đội ta. Họ Dương kính nể, tự hào, biết ơn và ghi công, tưởng nhớ đến ông một người con ưu tú của dòng họ.

  1. Dương Quang Đông

Dương Quang Đông (Dung Văn Phúc- Năm Đông) sinh năm 1902, quê tại ấp Mỹ Cẩm, xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Dương Quang Đông học đến ban Thành chung thì bị đuổi học vì có tư tưởng nổi loạn, chống lại nhà đương cục.

Năm 1920, Dương Quang Đông, khi ấy mới 18 tuổi trở thành Thư ký và là Trưởng ban Giao liên của tổ chức lập Công hội đỏ do Tôn Đức Thắng thành lập.

Năm 1921, Tôn Đức Thắng cử Dương Quang Đông trở về quê hương Trà Vinh vận động, xây dựng được hai tổ chức công hội ở Cầu Ngang và Trà Vinh.

Năm 1927, được sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, tổ chức Công hội đỏ chuyển thành Kỳ bộ thanh niên cách mạng đồng chí hội, do Tôn Đức Thắng làm bí thư. Dương Quang Đông chuyển hai tổ chức công hội thành hai chi bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội và sau này là các chi bộ Cộng sản do ông làm bí thư.

Giữa năm 1931, trong sự kiện Lý Tự Trọng bắn chết tên chánh mật thám Le Grand tại sân vận động Mayer, Dương Quang Đông bị bắt và kết án 3 năm tù. Khi mãn hạn tù, ông trở lại Xứ ủy Nam kỳ làm Trưởng ban Giao liên.

Năm 1936, trong phong trào dân chủ, Dương Quang Đông được đề bạt tham gia Xứ ủy Nam kỳ, Ủy ban Hành động Nam bộ, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Hành động Trà Vinh.

Năm 1939, thế chiến thứ hai nổ ra, Đảng rút vào hoạt động bí mật. Đầu năm 1940, Xứ ủy được củng cố lại, Dương Quang Đông nhận nhiệm vụ Thường vụ Xứ ủy. Với nhận định thời cơ khởi nghĩa vũ trang đã đến, Xứ ủy phát động cuộc khởi nghĩa. Cơ mưu bị lộ, Dương Quang Đông trên đường truyền đạt cho các tỉnh miền Tây trở về Sài Gòn thì bị mật thám đón lỏng. Chúng bắt ông và gần như toàn bộ Xứ ủy Nam kỳ, đày lên Tà Lài (nay thuộc tỉnh Đồng Nai).

Đêm 27/3/1941, Dương Quang Đông cùng 7 đồng chí tổ chức vượt ngục Tà Lài. Cuộc vượt ngục thành công nhưng chỉ có 3 đồng chí trong số 8 đồng chí về được Sài Gòn, trong đó Dương Quang Đông. Ông phải lặn lội khắp Sài Gòn, Gia Định, chợ Lớn, các tỉnh miền Tây, các tỉnh miền Đông Nam Bộ để móc nối, khôi phục các tổ chức Đảng. Ngày 13/10/1943, Dương Quang Đông triệu tập 11 đồng chí là bí thư các tỉnh về chợ Gạo dự Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam kỳ, Dương Quang Đông làm Bí thư Xứ ủy lâm thời. Sau khi đồng chí Trần Văn Giàu nhận chức vụ Bí thư Xứ ủy thì Dương Quang Đông làm Thường vụ kiêm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh.

Ngày 24/8/1945, Xứ ủy Nam kỳ công bố lệnh Tổng khởi nghĩa, Dương Quang Đông về quê lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Trà Vinh. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược nước ta. Dương Quang Đông chỉ huy chiến đấu kéo dài suốt đêm sau đó, ông lui quân xuống đến vùng U Minh.

Cuối năm 1945, thực dân Pháp xua quân đánh chiếm hết các tỉnh Nam kỳ. Xứ ủy chủ trương tự lực kháng chiến và tổ chức một đơn vị sang Thái Lan tìm mua vũ khí.

Năm 1946, Dương Quang Đông chỉ huy 14 người làm nhiệm vụ. Trong hơn ba năm, từ năm 1946 đến năm 1949, đơn vị đã tìm mua hàng trăm tấn vũ khí, khí tài quân sự ở Thái Lan và Malaysia, chuyển về Nam bộ… Không những thế, đơn vị còn làm nhiệm vụ xây dựng lực lượng cách mạng giúp nước bạn Campuchia kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 1949, Dương Quang Đông được Xứ ủy cử dự lớp chính trị cao cấp Trường Chinh, khóa III. Sau đó, ông được Xứ ủy phân công tham gia Khu ủy khu Tây Nam K.

Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Dương Quang Đông phụ trách công tác chuyển quân tập kết các đơn vị công tác ở Campuchia về nước. Sau đó, ông được phân công ở lại miền Nam, chuẩn bị cho ngày hiệp thương Tổng tuyển cử, ông tham gia vào Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn, phụ trách công tác binh vận.

Năm 1957, Dương Quang Đông bị địch bắt tra tấn dã man tại bót cảnh sát Lê Văn Duyệt, rồi chuyển lên nhà lao Biên Hòa. Lợi dụng sơ hở của địch, ông vượt ngục, về khôi phục và làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh.

Thông thạo ở nước ngoài, Dương Quang Đông được giao nhiệm vụ mở tuyến giao thông qua đất bạn ra Bắc, với phiên hiệu là Đoàn A53, để đoàn của Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn ra Bắc báo cáo với Bác Hồ. Một hệ thống cơ sở trên suốt tuyến đường bộ từ Nam bộ qua Campuchia, Lào, Thái Lan, Hà Nội hoặc tuyến đường thủy Thái Lan – Hồng Kông – Hà Nội hoạt động liên tục, bảo đảm liên lạc thông suốt phục vụ nhu cầu lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Sau Đồng khởi 1960, tuyến giao liên Bắc Nam đã ổn định, Trung ương Cục điều Dương Quang Đông làm Chỉ huy Phó kiêm Chính ủy Đoàn tàu Không số mở đường Hồ Chí Minh trên biển vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Ông đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng giao phó.

Năm 1963, Dương Quang Đông làm Thường trực Hội đồng cung cấp tiền phương của Trung ương Cục miền Nam. Sau đó, ông lại được điều về  làm Phó ban Giao bưu miền.

Sau năm 1975, thống nhất đất nước, Dương Quang Đông về công tác tại Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh phụ trách ngành Giao thông Công chánh. Năm 1977, ông nghỉ hưu, được Thành ủy cử làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hưu trí thành phố Hồ Chí Minh từ khi thành lập năm 1977 đến khi qua đời năm 2001 là 24 năm.

Năm 1986, mặc dù đã già song còn minh mẫn, nhà cách mạng lão thành là đại biểu chính thức đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Ông thay mặt thế hệ cách mạng lão thành trình bày tham luận về tình hình đất nước và những yêu cầu bức xúc về công tác đổi mới. Năm 1987-10/1998, Dương Quang Đông được tín nhiệm bầu vào cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm 1988 đến 1990, Dương Quang Đông còn là Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Xô thành phố Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ VII, năm 1991, ông được Bộ Chính trị và Ban Tổ chức Đại hội mời tham dự với tư cách là khách mời danh dự.

Hơn 100 tuổi, 80 năm hoạt động cách mạng liên tục tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và toàn Nam bộ, bảy lần bị địch bắt, sáu lần ngồi tù của Pháp, Mỹ, Thái Lan, Dương Quang Đông luôn tỏ ra là người chiến sĩ cộng sản kiên trung, sáng tạo, tâm huyết và khiêm nhường, suốt đời vì dân, vì nước, vì Đảng, là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, một trong những người lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước.

Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và đã được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

–    Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng

–    Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng

–    Huân chương Hồ Chí Minh

–    Huân chương Độc lập hạng Nhất

–    Huân chương Độc lập hạng Nhì

–    Huân chương Độc lập hạng Ba

–    Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì

–    Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất

–    Huy hiệu Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ

Ông Dương Quang Đông mất năm 2003, đại thọ 101 tuổi. Ba năm trước khi mất, ông đã quyết định bán căn nhà, trong đó dành 40 cây vàng ủng hộ đồng bào bị bão lũ và 20 cây vàng để làm từ thiện.

Họ Dương Việt Nam tự hào có cây đại thụ của dòng họ, của cách mạng, của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, một người họ Dương ưu tú của dòng họ, đã dành trọn đời hy sinh cống hiến cho dân tộc, cho non sông đất nước Việt Nam.

  1. Dương Bạch Mai

Dương Bạch Mai sinh năm 1904 ở xã Long Mỹ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong một gia đình giàu có.

Ông nội là một địa chủ lớn; bố là thư ký Tòa Thống đốc Nam Kỳ. Năm 1934, ông tốt nghiệp và xin vào làm việc tại một xí nghiệp in.

Làm được một thời gian, ông xin thôi và sang Pháp du học. Thời gian học ở Pháp, ông tham gia các phong trào yêu nước của sinh viên, tham gia tổ chức An Nam độc lập do một số nhà yêu nước Việt Nam sáng lập với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp. Thấy Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, ông gia nhập và cùng Nguyễn Văn Tạo ở trong nhóm nghiên cứu chính sách về Việt Nam.

Năm 1929, ông được Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu sang Matxcơva để liên lạc với Đảng Cộng sản Liên Xô và được bố trí vào học tại Trường Đại học Phương Đông.

Tốt nghiệp Đại học Phương Đông, ông trở lại Pháp làm công chức và tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1933, ông trở về nước và tham gia các hoạt động yêu nước tại Sài Gòn trong Hội Phản đế. Ông tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin trong các tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương, các thành viên của Hội Phản đế Liên minh.

Năm 1936, theo chủ trương của Đảng, ông nhân danh Mặt trận vô sản thống nhất ra ứng cử vào Hội đồng thành phố và đắc cử. Với cương vị Ủy viên Hội đồng thành phố, ông có những phát biểu, những tham luận nhằm tuyên truyền chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng trong tình hình mới,   chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Ông lên án và phản đối những chính sách của thực dân Pháp khiến bọn chúng muốn ám hại ông.

Dương Bạch Mai phụ trách đứng ra thành lập Ban vận động Đông Dương Đại hội nhằm tập hợp, liên kết các lực lượng yêu nước cùng những người cộng sản thành một khối thống nhất chống thực dân Pháp vì mục tiêu dân sinh, dân chủ.

Với khẩu hiệu “Vì cuộc sống của người dân, Vì dân chủ cho mọi người”, ngày 13/8/1936, Ủy ban lâm thời gồm 19 đại biểu được Đại hội cử ra, trong đó có 3 đảng viên cộng sản do Dương Bạch Mai phụ trách. Trong các năm 1936 – 1939, Đông Dương Đại hội phát triển nhanh chóng, lan rộng ra toàn quốc. Riêng ở Nam Kỳ đã có tới trên 600 ủy viên hành động được thành lập, gần một nửa có trụ sở công khai, phần lớn là do những người cộng sản chỉ đạo. Cuộc vận động dân chủ, mà mở đầu là bằng Đông Dương Đại hội được Đảng ta đánh giá là cuộc tập dượt thứ hai, chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Lo sợ, thực dân Pháp ra lệnh giải tán các Ủy ban hành động, đàn áp phong trào Đông Dương Đại hội. Chúng bắt Dương Bạch Mai, đưa ra tòa xử án với tội danh “Cộng sản làm loạn” và cưỡng bức ông lưu trú ở Cần Thơ. Ông đã tuyệt thực, phản đối chính sách đàn áp dã man của thực dân Pháp ở xứ Đông Dương, gây xôn xao dư luận tiến bộ cả ở trong nước lẫn ở Pháp.

Nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình nổ ra. Cuối cùng nhà cầm quyền buộc phải trả tự do cho Dương Bạch Mai.

Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Vin vào tình trạng chiến tranh, thực dân Pháp lại bắt ông và đầy ra Côn Đảo. Sống ở địa ngục trần gian với những đòn thù dã man, ông vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng.

Năm 1943, Dương Bạch Mai được trả tự do, trở về đất liền, nhưng vẫn bị quản thúc tại Tân Uyên thuộc Bình Dương ngày nay. Ông đã tìm cách trốn về Sài Gòn, bắt liên lạc với tổ chức và tham gia Xứ ủy Nam Kỳ. Được Xứ ủy phân công phụ trách Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu, để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Dương Bạch Mai đã nhiều lần về Bà Rịa, Long Điền móc nối, tập hợp các đảng viên cũ ở địa phương thành lập lại chi bộ, chỉ đạo hoạt động của lực lượng thanh niên tiền phong sẵn sàng vùng lên giành chính quyền.

Tại Vũng Tàu, Dương Bạch Mai đề xuất việc thành lập Thanh niên cứu quốc. Năm 1945, theo sự chỉ đạo của ông, Quốc gia tự vệ cuộc được giao nhiệm vụ diệt trừ một số tên phản động, tay sai bán nước.

Từ ngày 17 đến 25/8/1945, Xứ ủy Nam Kỳ họp tại chợ Đệm để quyết định những vấn đề quan trọng, trong đó mấu chốt là đưa Mặt trận Việt Minh ra hoạt động công khai, quyết định việc cướp chính quyền ở Tân An làm điểm, khẩn trương chuẩn bị cướp chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh. Xứ ủy phân công Dương Bạch Mai về Bà Rịa – Vũng Tàu truyền đạt nghị quyết của Xứ ủy và trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ở Bà Rịa- Vũng Tàu.

Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ủy ban khởi nghĩa, hơn bốn nghìn đồng bào Vũng Tàu đại diện cho lực lượng đã tham gia khởi nghĩa tập trung ở sân vận động Lam Sơn chào mừng thắng lợi. Dương Bạch Mai – đại diện Xứ ủy Nam Kỳ phụ trách Quốc gia tự vệ cuộc trong Ủy ban hành chính lâm thời Nam bộ kiêm Thanh tra chính trị miền Đông đã long trọng tuyên bố: “Từ giờ phút này, chính quyền đã thực sự về tay nhân dân”.

Năm 1946, ngày 6 tháng Giêng, cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên của dân tộc được tiến hành. Dương Bạch Mai trúng cử đại biểu Quốc hội tại Bà Rịa. Cũng trong năm đó, ông được cử làm thành viên của phái đoàn nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị trù bị tại Đà Lạt để đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Sau Hội nghị trù bị tại Đà Lạt, ông tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định làm Trưởng đoàn, dự Hội nghị Phong-ten-nơ-blô tại Pháp.

Thực dân Pháp phản bội Tạm ước 14/9/1946. Chúng bắt ông và đưa về giam tại nhà lao Kon-Tum. Ngày 14/7/1949, ông được một đơn vị tình báo giải thoát. Thực dân Pháp đưa ra giải thưởng 5 nghìn Franc cho ai bắt hoặc chặt đầu người đã giải thoát cho Dương Bạch Mai. Thoát khỏi ngục tù, ông được Trung ương điều ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ Phó ban Mặt trận của Đảng giúp việc cho Trưởng ban Hoàng Quốc Việt – Ủy viên Thường vụ Trung ương kiêm Trưởng ban Mặt trận.

Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ và cực kỳ gian khổ, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp bằng chiến dịch Điện Biên Phủ. Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Nhiệm vụ cách mạng đã thay đổi. Mặt trận Liên Việt đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng cần có một tổ chức Mặt trận phù hợp với tình hình mới nhằm thu hút tất cả mọi tổ chức và cá nhân yêu nước và tiến bộ, nhất là những người ở vùng mới giải phóng. Đồng chí Dương Bạch Mai được Đảng cử vào Ban Vận động thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ ngày 5 đến ngày 10/9/1955, Đại hội Mặt trận thống nhất Việt Nam đã họp tại Hà Nội, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.  Dương  Bạch Mai được cử vào Ban Thư ký của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sức yếu và nhiều bệnh, ông đã đột quỵ ngay trong ngày họp cuối cùng của kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa II ngày 4/4/1964, thọ 60 tuổi.

Một người con kiên trung của họ Dương đã có đóng góp bền bỉ và nhiều công sức cho cách mạng Việt Nam, Dương Bạch Mai là nhà trí thức lớn, một tấm gương cho mọi người họ Dương nói riêng và Việt Nam nói chung noi theo.

  1. Dương Hữu Miên (1912-1954)

Dương Hữu Miên sinh năm 1912, là một chỉ huy quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương. Quê ở xã Quảng Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Trước năm 1945, ông đi lính khố xanh, được thăng đến chức Quản cơ. Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ông được thăng làm Chỉ huy trưởng bảo an binh tỉnh Thái Bình.  Khi đó phong trào Việt Minh đang lên. Do được một cán bộ Việt Minh là Nguyễn Tài tiến hành vận động, ông chuyển cho cách mạng 50 khẩu súng. Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, ông đưa toàn bộ lực lượng bảo an binh, cảnh sát gia nhập lực lượng Việt Nam giải phóng quân, sau đó đổi thành Vệ quốc đoàn.

Tháng 4 năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1946, ông lần lượt làm các chức vụ từ Đại đội trưởng đến Tiểu đoàn trưởng, rồi Tham mưu trưởng Liên quân Tiếp phòng Hải Dương.  Cuối năm, ông được điều về Hải Phòng làm Trung đoàn phó Trung đoàn 42, Ủy viên Ủy ban Bảo vệ thành phố Hải Phòng (bao gồm Đinh ThịnhNguyễn Văn KhaVũ Quốc UyTrần Thành Ngọ, Dương Hữu Miên).

Năm 1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 thay Đinh Thịnh. Đồng thời là Chỉ huy trưởng Mặt trận HảiKiến, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ thành phố Hải Phòng.  Ngày 25 tháng 1 năm 1948, trước yêu cầu của mặt trận, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 120/SL thành lập Liên khu III gồm các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Dương Hữu Miên chỉ huy Trung đoàn 42 là một trong những Trung đoàn quan trọng đứng chân ở đồng bằng Bắc Bộ.

Đường số 5 là nơi giành giật ác liệt giữa ta và Pháp. Tháng 2 năm 1948, Mặt trận Đường 5 được thành lập do Dương Hữu Miên làm Chỉ huy trưởng. Quân ta mở liên tiếp hai cuộc tổng công kích đường 5 vào tháng 5 và tháng 10 năm 1948. Dưới sự chỉ huy của Dương Hữu Miên, đường số 5 nối Hà Nội-Hải Phòng đã trở thành con đường khủng khiếp với quân Pháp.

Tháng 5 năm 1952, tách Liên khu III thành hai khu: Tả Ngạn và Hữu Ngạn sông Hồng. Khu Tả Ngạn do đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính. Đảng ủy mặt trận gồm các ông: Đỗ MườiVăn Tiến DũngNguyễn Khai, Dương Hữu Miên. Dương Hữu Miên được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Mặt trận Đường 5, Chỉ huy phó Khu Tả ngạn.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), ông tham gia chỉ huy nhiều trận tiến công làm chủ đồng bằng Bắc Bộ và hy sinh ngày 2 tháng 7 khi đang làm nhiệm vụ đi nghiên cứu chiến trường.

Dương Hữu Miên tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Ông là người chỉ huy có bản lĩnh, trong tình huống nào cũng bình tĩnh, sáng suốt, gan dạ và quyết tâm, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, sống chan hòa với cán bộ, chiến sĩ, có nghị lực khắc phục khó khăn cả trong công tác và sinh hoạt.

Với những công lao to lớn đóng góp cho kháng chiến, liệt sĩ Dương Hữu Miên đã được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười tặng 8 chữ vàng: Trung thành, Dũng cảm, Mưu lược, Nhân hậu. Ông không mất sát ngày chiến thắng thì dân ta đã có một lãnh tụ cao cấp người họ Dương.

  1. Dương Thiệu Tước

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915, quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng HoàHà Nội. Xuất thân trong gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định.

Trong thập niên 1930, Dương Thiệu Tước gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm OánhLê YênVũ Khánh… Ông là người có sáng kiến soạn nhạc “bài Tây theo điệu ta”, những nhạc phẩm đầu tay của ông thường được viết bằng tiếng Pháp. Mặc dù học nhạc phương Tây nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc.

Ông vào Sài Gòn từ năm 1954. Tại đây, ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài Phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy lục huyền cầm/Tây Ban cầm tại trường Quốc gia Âm nhạc.

Sau ngày thống nhất, ông không di tản mà ở lại Việt Nam. Nhạc của ông bị chính quyền mới cấm đoán và ông bị đuổi khỏi trường Quốc gia Âm nhạc. Đến thời kỳ Đổi mới, nhạc của ông mới được phép lưu hành trở lại. Ông mất ngày 1 tháng 8 năm 1995 tại thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Dương Mạc Thạch

Dương Mạc Thạch sinh năm 1915,  là người dân tộc Tày,   quê ở Tổng Ngần – Gia Bằng, nay là xã Minh Tâm – Hòa An-Cao Bằng. (Thực chất ông là người Kinh họ Dương gốc Thanh Hóa, hậu duệ của Dương Chấp Nhất, theo nhà Mạc lên Cao Bằng năm 1592 -DAD). Ông được bố mẹ cho đi học trường Tây ở phố huyện Nguyên Bình. Học hết lớp 4 về đi làm cho Pháp trong ngành Tư pháp để tiện hoạt động bí mật.

Tháng 8-1934, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sinh hoạt bí mật tại chi bộ Nậm Lìn, chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh Cao Bằng. Ông hoạt động ở Nguyên Bình để phát triển Đảng. Ngày 15-11-1935, chi bộ Đảng đầu tiên của xã Minh Tâm được thành lập do ông  làm bí thư.

Năm 1940, Võ Nguyên Giáp vào Minh Tâm công tác với danh nghĩa thầy đồ người Kinh lên đây dạy học. Ông  mở lớp chính trị dạy cán bộ Trung ương và cán bộ tỉnh Cao Bằng, trong đó có Dương Mạc Thạch. Năm 1941, ông Thạch được giao nhiệm vụ tìm chọn chỗ làm việc cho Bác Hồ tại Cao Bằng và bảo vệ Người một thời gian.

Ngày 22-12-1944, tại rừng Trần Hưng Đạo, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, Dương Mạc Thạch bí danh Xích Thắng được cử làm chính trị viên của đội. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp), đội quân non trẻ đã giành được 2 chiến thắng quan trọng đầu tiên tại Phai Khắt và Nà Ngần.

Ngày 5-2-1945, chính trị viên Dương Mạc Thạch đã cùng với Đội trưởng Hoàng Sâm chỉ huy đội đánh thắng trận Đồng Mu (xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng) – một đồn Pháp có hệ thống phòng thủ khá vững chắc.

Đầu năm 1945, khi đội phát triển thành nhiều đại đội, Mạc Thạch được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy một đại đội hoạt động dọc đường 3b, vừa vũ trang tuyên truyền, vừa chặn đánh quân Nhật ở Nà Phặc, Hà Hiệu, Đèo Giàng.

Không chỉ giỏi về quân sự, ông Dương Mạc Thạch còn có tài vận động thuyết phục quần chúng. Khi tiến về Bắc Kạn, ông đã làm công tác địch vận ở xã Thuần Mang, huyện Ngân Sơn thành công. Ở đó, người Hoa kiều rất nhiều. Họ thành lập một đơn vị tự vệ, lúc Pháp mạnh thì theo Pháp, lúc Nhật mạnh, họ lại theo Nhật. Ông Thạch đưa thêm 2 chiến sĩ là người to khỏe, bắn súng giỏi cùng đi tới gặp ông trùm người Hoa nói chuyện. Tên này ra tận cổng làng gặp ông Thạch, hai bên là hai hàng lính bảo vệ. Bọn chúng yêu cầu ông để súng ở ngoài, không cho mang theo vào trong nhà. Ông Thạch đồng ý và dặn 2 chiến sĩ đi cùng mình không được phản ứng.

Ông Thạch gan lắm, vào hang ổ của kẻ đối địch mà ông vẫn cười nói vui vẻ, tâm thế đĩnh đạc như đang ở nhà mình vậy. Ông Thạch bảo trùm người Hoa: Bạn sang Việt Nam làm ăn lâu rồi. Thời thế thế nào thì phải theo thế. Bây giờ Việt Minh mạnh, Nhật, Pháp yếu rồi. Theo Việt Minh là con đường sống. Bằng này quân của ông không làm gì được Việt Minh đâu. Việt Minh đánh tới nơi rồi. Sau một hồi nói chuyện, trùm người Hoa đồng ý theo Việt Minh. Hắn nói: “Việt Minh cần lương thực gì, tôi sẽ lo cho.” Rồi chính trùm người Hoa dẫn ông Thạch ra tận chỗ để súng, lấy 3 khẩu súng mới tặng cho ông.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông Dương Mạc Thạch đã trải qua nhiều cương vị khác nhau: Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Bắc Kạn; Trưởng phòng Quốc dân miền núi của Liên khu I; Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Yên Bái; Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Ủy ban Hành chính, Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang (giai đoạn 1951-1970)… Tháng 8-1978, ông được nghỉ hưu và từ trần 1 năm sau đó.

Với những cống hiến quý báu cho cách mạng, người chính trị viên đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý.

Con trai cả của Dương Mạc Thạch là Dương Mạc Thăng – nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng. Đối với ông Thăng, di sản quý nhất mà cha ông để lại chính là tấm lòng sắt son, kiên trung với Đảng, là tấm gương để ông soi vào và phấn đấu mỗi ngày.

  1. Dương Đức Hiền

Dương Đức Hiền sinh ngày 16/09/1916, quê thôn Linh Quy Bắc, xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Ông là học sinh trường Bưởi.

Sau khi đỗ Tú tài, ông vào học khoa Luật ở Viện Đại học Đông Dương và làm giáo sư ở trường tư thục để hoạt động cách mạng. Ông phụ trách Tổng hội sinh viên, lãnh đạo nhóm sinh viên yêu nước của Đại học Đông Dương.

Ông đã cùng với Tổng hội sinh viên tổ chức cho tuổi trẻ và sinh viên trong trường về thăm các di tích lịch sử đấu tranh giữ nước, dựng nước của tổ tiên, như Đền Hùng, sông Bạch Đằng, Cổ Loa, đền Lý Bát Đế, Kiếp Bạc, Chi Lăng, Côn Sơn, làng Phù Đổng… để hun đúc lòng yêu nước cho lớp trẻ.

Ông đã đề xướng cho Tổng hội sinh viên tổ chức giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đồng thời mở nhiều cuộc nói chuyện về văn hóa và lịch sử của đất nước.

Thời gian này, ông vận động sáng tác các bài hát yêu nước cho các bạn sinh viên như: “Sinh viên hành khúc”, “Đi hội Đền Hùng”, “Bạch Đằng Giang” … của Lưu Hữu Phước, Hoàng Gia Lịch, Nguyễn Thành Nguyên …

Ông đã được Tổng bí thư Trường Chinh đánh giá: “Dù phát xít Pháp và Nhật hết sức quỷ quyệt, khuynh hướng yêu nước cũng đã nảy nở ngay trong phong trào hợp pháp của thanh niên và sinh viên. Đó là khuynh hướng Dương Đức Hiền”. Đại Việt Nguyễn Tường TamQuốc dân đảng Vũ Hồng Khanh đã gặp gỡ ông để thuyết phục ông tham gia đảng của họ.

Năm 1940, ông tốt nghiệp cử nhân Luật. Năm 1939 – 1945, ông là cộng tác viên của báo Thanh Nghị.

Ngày chủ nhật 30/06/1944, Dương Đức Hiền đã bí mật triệu tập một cuộc họp gồm 8 người: luật sư Dương Đức Hiền, bác sĩ nha khoa Nguyễn Dương Hồng, nhà thơ, kỹ sư canh nông Cù Huy Cận, bác sĩ Huỳnh Bá Nhung…  Đảng Dân chủ được thành lập. Dương Đức Hiền là một trong những người sáng lập và được bầu là Tổng thư ký đầu tiên của Đảng Dân chủ Việt Nam. Mục tiêu của Đảng Dân chủ cũng chính là mục tiêu của Đảng Cộng sản Đông Dương: Phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ thực dân, giành độc lập tự do cho quê nhà đất nước. Đảng Cộng sản  đã chú ý đến hoạt động của nhóm trí thức Dương Đức Hiền và cử cán bộ đến gặp gỡ, đưa chương trình hoạt động, điều lệ tổ chức của Mặt trận Việt Minh cho nhóm nghiên cứu.

Lính mật thám đã bắt ông ở 70 phố Jac Quin, nay là phố Ngô Thị Nhậm, Hà Nội. Tên chánh mật thám đã hỏi han đe dọa khéo ông nhiều điều và rồi cuối cùng đưa ra 3 điều kiện để ông suy nghĩ:

  1. Ông thôi không làm chính trị nữa, không theo Việt Minh nữa.
  2. Ông thôi không làm Hội trưởng Hội Sinh viên nữa, không làm gì trong phong trào sinh viên nữa.
  3. Ông đi làm tri huyện, nó sẽ dành cho ông một huyện thật tốt.

Ngay trước ngày họp Đại hội đồng của Tổng hội Sinh viên, biết giặc Pháp không để yên, ông đã thoát li đi hoạt động bí mật. Đầu tháng 7 năm 1944, lấy danh nghĩa một chính đảng cách mạng, Đảng Dân chủ Việt Nam đã tự nguyện gia nhập Mặt trận Việt Minh.

Cuối năm 1944, với chức danh Tổng thư ký Đảng Dân chủ, ông  làm phó đoàn cùng ông Hoàng Quốc Việt – Trưởng đoàn đại biểu Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh, sang Quảng Tây (Trung Quốc) bàn việc hợp tác chống phát xít Nhật, theo lời mời của chính quyền Tưởng Giới Thạch.

Ngày 7-8-1945, Đại hội quốc dân Tân Trào họp bầu ông làm Ủy viên Ủy ban Dân tộc giải phóng.

Từ năm 1945 cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp: ông đại diện Đảng Dân chủ trong Chính phủ lâm thời. Đại biểu Quốc hội khóa I (1946), các khóa II, III đơn vị tỉnh Bắc Ninh, ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội và ông cũng là đồng tác giả soạn thảo Hiến pháp năm 1946. Ông là Ủy viên chính thức của Ủy ban Thường trực Quốc hội khóa I và khóa II.

Ông còn là Ủy viên Tổng bộ Việt Minh; Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt; và Ủy viên Ban Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Quốc dân đại hội Tân Trào ngày 16/8/1945 đã bầu ra 15 vị thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và ông Dương Đức Hiền được cử làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên, kiêm Ủy viên Ủy ban thường trực Ủy ban Dân tộc giải phóng. Ông còn là Ủy viên Tổng bộ Việt Minh trong Quốc hội và Ủy viên thường trực Quốc hội khóa I và khóa II. Trong Mặt trận Liên Việt, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương cho đến khi ốm nặng qua đời ngày 19/2/1963 ở tuổi 47, ông đã dành trọn cả 47 tuổi xuân cho công cuộc giải phóng dân tộc của đất nước.

Ông là một trong những trí thức có công lớn trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất. Do có nhiều công lao đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, ông đã được tặng thưởng:

Năm 1963, ông nhận Huân chương Độc lập (là người đầu tiên trong cả nước được nhận tấm huân chương này). Năm 2006, ông được tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc. Năm 2011, ông được tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Với 3 tấm huân chương cao quý được Chủ tịch nước tặng thưởng đã nói lên tất cả công lao và thành tích của ông cống hiến cho nhân dân và Tổ quốc.

Năm 1999, tên ông đã được đặt cho con đường đẹp giữa thành phố Hồ Chí Minh tại phường 15 quận Tân Bình.

Năm 2011, thành phố Đà Nẵng đã đặt tên ông cho một con đường ở quận Liên Chiểu.

Họ Dương tự hào về Dương Đức Hiền, một trí thức, cả cuộc đời đã cống hiến cho dân tộc. Đặc biệt, ông chính là Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong chính phủ của Hồ chủ tịch, Tổng thư kí một đảng bạn của Đảng Cộng sản Việt Nam, chung tay đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Lời bàn: 

Dương Đức Hiền là Tổng Thư ký hay Tổng Bí thư Đảng Dân chủ? Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết “Ngày 30 tháng 6 năm 1944, Dương Đức Hiền là một trong những người sáng lập và là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Dân chủ Việt Nam”. Dương Văn Phong – PCT HĐHD Gia Lâm, Long Biên viết về nhà hoạt động cách mạng Dương Đức Hiền (1916 – 1963): “Ông là người sáng lập và là Tổng Bí thư đầu tiên”.

Nói như vậy là không chuẩn. Bởi lẽ ở đại hội lần thứ Nhất Đảng Dân chủ Việt Nam tổ chức ngày 15 tháng 8 năm 1946 đã bầu ra Ban Chấp hành mới gồm 21 người (19 chính thức, 2 dự khuyết) và nhất trí cử giáo sư  Ca Văn Thỉnh làm Tổng Thư ký  (không có ai là Tổng Bí thư), điều này có nghĩa là tại cuộc họp trù bị thành lập Đảng lần đầu 30/06/1944 cũng không bầu chức danh Tổng Bí thư,  chỉ có chức danh Tổng thư ký.

Lịch sử Đảng dân chủ cũng ghi: “Cuối năm 1944, với chức danh Tổng Thư ký Đảng Dân chủ, ông làm phó đoàn cùng ông Hoàng Quốc Việt làm Trưởng đoàn sang Trung Quốc”. Và Dương Đức Hiền là Tổng Thư ký đầu tiên của Đảng, cố Bộ trưởng Bộ Thanh niên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Ủy ban Thường trực Quốc hội khóa I và khóa II.

  1. Dương Văn Minh

Dương Văn Minh sinh ngày 19 tháng 2 năm 1916 trong một gia đình trung nông tại Mỹ Tho.

Năm 1938, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần Pháp (Part II). Sau đó, ông được bổ dụng làm công chức thuộc ngạch Thư ký hành chính.

Năm 1939, Dương Văn Minh nhập ngũ vào quân đội thuộc địa Pháp. Sau khi theo học khóa 1 tại trường Sĩ quan Thủ Dầu Một, đầu năm 1941, ông mang cấp bậc Chuẩn úy Bộ binh.

Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông tản cư về chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại, chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp.

Cuối năm 1945, Dương Văn Minh bị Nhật bắt đưa về Sài Gòn giam giữ tại khám Catinat.  Năm 1946, Pháp tái chiếm Nam Kỳ, ông được trả tự do và tái phục vụ ở Trung đoàn 11 Bộ binh của Quân đội Pháp, giữ chức vụ Trung đội trưởng. Hai tháng sau, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Giữa năm 1948, chuyển biên chế sang Quân đội Liên hiệp Pháp, ông được thăng cấp Trung úy, giữ chức vụ Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn Bộ binh Việt Nam.

Tháng 8 năm 1950, Dương Văn Minh chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia mới thành lập, ông được thăng cấp Đại úy. Năm 1951, ông được chuyển sang Dinh Thủ Hiến Nam Việt Thái Lập Thành, giữ chức vụ Chánh Võ phòng. Cuối năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Đầu tháng 7 năm 1952, ông được thăng cấp Trung tá, được cử làm Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu Nam Việt. Cuối năm, ông được cử đi du học tại trường Tham mưu Paris. Đầu tháng 2 năm 1953, mãn khóa về nước tái nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu. Cuối năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Phân khu Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sau khi người Pháp thất trận Điện Biên Phủ, Dương Văn Minh là một trong những sĩ quan cao cấp ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm nắm quyền, loại trừ vai trò của Quốc trưởng Bảo Đại. Vì vậy ngày 1 tháng 5 năm 1955, ông được Thủ tướng Diệm cử làm Chỉ huy trưởng chiến dịch Bảo vệ Thủ đô Sài Gòn – Chợ Lớn, chống lại quân Bình Xuyên của tướng Lê Văn Viễn tại vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và phụ cận. Ngày 5 tháng 5, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Ngày 21 tháng 9 cùng năm, ông được Thủ tướng Diệm cử làm Tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu, truy kích và tiêu diệt các lực lượng tàn quân Bình Xuyên của tướng Bảy Viễn.

Ngày 1 tháng 11 năm 1955, Dương Văn Minh được tân Quốc trưởng Ngô Đình Diệm thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đầu năm 1956, sau khi hoàn tất việc dẹp loạn Bình Xuyên, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Huệ rồi tiếp đến Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu để bình định miền Tây, đánh dẹp lực lượng quân sự giáo phái Hòa Hảo của các tướng Năm Lửa và Ba Cụt. Ngày 26 tháng 10, ông được Tổng thống Diệm chỉ định làm Tổng Chỉ huy cuộc duyệt binh mừng lễ kỷ niệm Đệ nhất Chu niên ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa trên Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Ngày 8 tháng 12 cuối năm, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Đầu năm 1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân khu Thủ đô.  Cuối năm, ông được cử đi du học tại  Hoa Kỳ. Tháng 5 năm 1958 về nước, ông tiếp tục giữ chức vụ Tư lệnh Quân khu Thủ đô, kiêm Tư lệnh Liên Quân khu 1 và 5.

Tuy nhiên, trong những năm sau đó, sự tín nhiệm của Tổng thống Ngô Đình Diệm với Dương Văn Minh bị giảm sút. Ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ không có thực quyền. Đầu năm 1960, ông được cử làm Tổng Thư ký Thường trực Bộ Quốc phòng. Qua đầu năm 1961, giữ chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân tại Bộ Tổng Tham mưu. Giữa năm 1962, ông được cử hướng dẫn Phái đoàn Quân sự du hành quan sát cuộc thao dượt Hải quân Liên phòng Đông Nam Á. Ngày 8 tháng 12, Bộ Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng tham mưu giải tán. Đầu năm 1963, ông được chuyển về phủ Tổng thống giữ chức vụ Cố vấn quân sự cho Tổng thống.

Vốn đã có bất mãn tồn tại, cộng thêm là một tín đồ Phật giáo, Dương Văn Minh không hài lòng với những biện pháp trấn áp Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông đóng vai trò chính với cương vị Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, cùng với các tướng Trần Văn ĐônLê Văn KimMai Hữu XuânĐỗ Mậu

Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, tướng Nguyễn Khánh cầm đầu cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, lật đổ chính quyền quân sự này và giành quyền cai trị Việt Nam Cộng hòa. Ông bị thất thế về chính trị, mặc dù vẫn được giữ chức vụ Quốc trưởng.

Nhận chức Quốc trưởng, việc làm đầu tiên của Dương Văn Minh là giải tán ấp chiến lược toàn Miền Nam vì lý do: “Người Việt Nam trọng chữ Hiếu, không một ai tự nguyện xa rời mồ mả ông cha để đến nơi ở mới… Tôi đã nghĩ đúng và hành động đúng vì lợi ích dân tộc của chúng tôi” (Ông Dương Văn Minh đã trả lời Trưởng đoàn quân sự Mỹ).

Tiếp đó Quốc trưởng Dương Văn Minh ra lệnh: Phóng thích ngay tức khắc các trí thức, tăng ni, phật tử, giáo học, học sinh, sinh viên… chống đối chế độ Ngô Đình Diệm đang bị giam giữ trong các nhà tù.

Quốc trưởng Dương Văn Minh từ chối, không đồng ý cho Mỹ ném bom Miền Bắc, phá huỷ hệ thống đê điều với lý do: “Tôi không muốn người dân thường vô tội bị chết oan hoặc lâm vào nạn đói do mất mùa”. Bởi thế Quốc trưởng lâm thời Dương Văn Minh bị CIA , Mỹ ép nhường ngôi cho phái Dân sự, thực chất là bị phe Nguyễn Khánh được CIA , Mỹ hậu thuẫn đảo chính soát ngôi. (Nhà văn-Đại tá QĐNDVN Nguyễn Trần Thiết).

Ngày 24 tháng 11 năm 1964, Dương Văn Minh được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng cấp Đại tướng (cùng với Nguyễn Khánh). Tháng 12, ông bị ép đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thái Lan. Năm 1965, ông nhận được quyết định giải ngũ của Hội đồng Quân lực. Tuy nhiên, ông vẫn được giữ làm Đại sứ tại Thái Lan cho đến năm 1968 mới được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho hồi hương.

Năm 1971, Dương Văn Minh trở lại chính trường để đối đầu với đương kim Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người được Mỹ ủng hộ, trong cuộc tranh cử Tổng thống. Tuy được nhiều người cho rằng rất có thể ông là lãnh đạo của “Lực lượng thứ ba“, có thể đàm phán hòa bình với quân Giải phóng để tránh việc chiến tranh tiếp diễn lâu dài, nhưng nỗ lực của ông đã bị Nguyễn Văn Thiệu cản trở. Cuối cùng, ông đã rút ra khỏi cuộc tranh cử sau khi tuyên bố rằng cuộc bầu cử chỉ là “trò múa rối”. Nguyễn Văn Thiệu hiển nhiên đắc cử Tổng thống năm đó do ông ta là ứng cử viên duy nhất, không phải cạnh tranh với bất kỳ đối thủ nào.

Với sự sụp đổ nhanh chóng của Việt Nam Cộng hòa sau khi Mỹ rút quân, Dương Văn Minh lại trở thành một nhân vật quan trọng cho chức vụ Tổng thống. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu, rồi Trần Văn Hương từ chức, ngày 28 tháng 4 năm 1975, 15 giờ chiều 28/4/1975, Dương Văn Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.

Trong danh sách nội các do Tổng thống Dương Văn Minh thành lập khi được chuyển giao Tổng thống có cả những nhân vật mà sau này như ta biết là cơ sở cách mạng như chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, luật sư Triệu Quốc Mạnh – đảng viên cộng sản nằm vùng. Khi được Tổng thống bổ nhiệm Chỉ huy trưởng cảnh sát Sài gòn – Gia Định, việc đầu tiên là Triệu Quốc Mạnh ra lệnh các trại giam thả ngay toàn thể tù nhân chính trị “Để Tổng thống dễ dàng thương lượng với phía bên kia” (Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam), ra lệnh giải tán các tổ chức gián điệp chống cộng, cho phép sỹ quan, binh lính về nhà lo việc gia đình.

Nếu không có sự hậu thuẫn tuyệt đối từ Tổng thống Dương Văn Minh, liệu một vị chuẩn tướng đã về hưu như Nguyễn Hữu Hạnh có điều kiện lập công cho cách mạng được không? Sau này chính Giám đốc CIA Mỹ đã phải thừa nhận: “Tình báo Việt Nam giỏi nhất thế giới! Viên tướng Nguyễn Hữu Hạnh tưởng như chống cộng triệt để lại hoá ra là nhân viên tình báo Bắc Việt” (Nhà văn – Đại tá QĐNDVN Nguyễn Trần Thiết)

Ngày 28 tháng 4, tướng tình báo Francois Vanussème đã tới gặp Tổng thống Dương Văn Minh và đề nghị Việt Nam Cộng hòa kêu gọi Trung Quốc đem quân tấn công vào Việt Nam để cứu Quân lực Việt Nam Cộng hòa đang trong cơn nguy kịch. Một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đề nghị Quân lực Việt Nam Cộng hòa hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn Trung Quốc sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây. Dương Văn Minh, vốn đã được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam thông qua em trai là Dương Văn Nhựt (bí danh Mười Ty, Đại tá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) và gia đình thuyết phục từ trước, đã từ chối và nói: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc.”

Trước sự tiến công vũ bão của quân và dân trong công cuộc giải phóng miền Nam, 8h sáng ngày 30 tháng 4, các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu quyết định đơn phương tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Tuyên bố của ông Dương Văn Minh, nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh được truyền đi trên Đài Vô tuyến Việt Nam lúc 9h30: “Tôi, Tổng thống Dương Văn Minh. Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sanh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt NamVì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu (thì) ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng.

Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.”

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Trung úy Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam lên.

Khoảng 12 giờ trưa, Tổng thống Dương Văn Minh thay mặt toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn đã đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội cách mạng (tức Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam). Thay mặt các đơn vị quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập, Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Chiến tranh kết thúc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa chính thức sụp đổ.

Ông đã kêu gọi những nhóm Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn lại ngừng bắn và đầu hàng vô điều kiện theo yêu cầu của Quân Giải phóng miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, qua đó giúp thành phố tránh bị tàn phá.

Dương Văn Minh là một viên tướng được đào tạo và trưởng thành trong quân đội Pháp, một nhà chính trị hoạt động luôn theo xu hướng trung lập mềm dẻo, khôn khéo, ôn hoà với chủ nghĩa dân tộc và tinh thần hoà giải, hoà hợp. Một nhà quân sự luôn theo chủ trương dùng thanh thế áp đảo tinh thần hơn dùng sức mạnh bạo lực vũ trang (Nhà văn – Đại tá QĐNDVN Nguyễn Trần Thiết).

Sau ngày 30 tháng 4, ông không phải đi cải tạo và sống tại thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm cố vấn cho Chính phủ mới. Tháng 10 năm 1981, Chính quyền Việt Nam cho phép ông được xuất cảnh sang Pháp chữa bệnh và đoàn tụ gia đình. Năm 1988, ông chuyển sang Hoa Kỳ, sống với vợ chồng người con gái tại Pasadena, Tiểu bang California và định cư luôn tại đây.

Ngày 9 tháng 8 năm 2001, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 85 tuổi.

Dương Văn Minh người họ Dương, dù muộn màng cũng đã giữ vị trí cao nhất của một thể chế…

  1. Dương Văn Dật

Dương Văn Dật sinh năm 1923, quê gốc tại Cao Phương, Liên Bảo, Vụ Bản, Nam Định, định cư tại xã Thanh Liên, Thanh Chương, Nghệ An.

6/1975: Tham gia Việt Minh bí mật tại xã Đức Nhuận. 6/1945 tham gia cướp chính quyền tại huyện Thanh Chương. Sau đó tham gia công tác tại xã và là Bí thư Huyện uỷ Thanh Chương, Nghệ An.

1/1951 – 7/1954: Tham gia Tỉnh uỷ Nghệ An. 1/1956 – 11/1958: Là cán bộ nghiên cứu kinh tế tài chính tại Văn phòng Chính phủ. Sau đó học Đại học Kinh tế tài chính và ở lại trường làm Chủ nhiệm Khoa Tại chức, Trưởng phòng Giáo vụ.

1972 – 9/1976: Làm Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An.

9/1976: Giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính.

6/1981: Giám đốc Trường Hành chính Trung ương (phân hiệu miền Nam).

Dương Văn Dật là cán bộ tiền khởi nghĩa, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, hạng Nhất và được bằng khen của Hồ Chủ tịch. Năm 2006. ông được đặc cách tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì. Dương Văn Dật đã tham gia hoạt động trong dòng tộc họ Dương Việt Nam rất sớm.

Ngày 22-3-1992, tại số nhà 48 Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình, Hà Nội, Hội nghị toàn thể Họ Dương Việt Nam lần thứ I được triệu tập, với sự có mặt của gần 50 đại biểu đại diện cho họ Dương các tỉnh, thành phố. Hội nghị đã ra quyết định thành lập Ban Liên lạc Họ Dương Việt Nam, cử ông Dương Văn Kiện quê Vĩnh Phúc, sinh năm 1931, nguyên Chánh văn phòng Bộ Kế hoạch – đầu tư làm Trưởng ban, Dương Văn Thiều là thư ký, Dương Văn Dật và 9 ông bà khác là ủy viên.

Dương Văn Dật đã tích cực hoạt động dòng họ ngay từ ngày đầu còn khó khăn, nhiều lần ủng hộ tiền cho dòng tộc hoạt động, ra sức kết nối họ Dương tại các địa phương. Ông đã biên soạn cuốn sách “Họ Dương trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” và được Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin phát hành năm 2010.

Để đền đáp công lao của ông với dòng tộc họ Dương Việt Nam, ngày 11/12/2010, Ban Thường trực Hội đồng Dòng tộc quyết định truy tặng ông “Bảng vàng Danh dự dòng tộc”.

Ngày nay, người họ Dương cả nước luôn ghi nhận công lao các bậc tiền bối của HĐHD việt Nam, hình ảnh của ông luôn in đậm trong tâm trí người họ Dương không quên nguồn cội.

  1. Dương Bích Liên

Dương Bích Liên sinh 1924, quê gốc của ông nay là thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.  Bác ruột của ông là cử nhân Dương Bá Trạc, chí sĩ yêu nước của phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Dương Bích Liên là một trong những học trò cuối cùng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông học khoa Hội họa, khóa XVIII (1944-1945).

Năm 1946, Dương Bích Liên và nhiều trí thức văn nghệ sĩ Hà Nội tham gia kháng chiến chống Pháp ngay từ ngày đầu cách mạng. Ông hoạt động ở đoàn kịch của Phạm Văn Khoa, đoàn văn công của Nguyễn Xuân Khoát, vào đoàn Văn hóa kháng chiến cùng với họa sĩ Tô Ngọc VânThế Lữ…, làm báo “Vệ quốc đoàn”.

Năm 1949, ông là một trong những họa sĩ đầu tiên được kết nạp Đảng tại vùng kháng chiến cùng một ngày với họa sĩ Mai Văn Hiến và nhà văn Trần Đăng.

Năm 1952, ông được giao trọng trách lên chiến khu sống gần và vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc đoạt giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1980 và hiện được bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Năm 1954, Dương Bích Liên trở về tiếp quản thủ đô. Được tổ chức biên chế vào “tổ sáng tác” cùng các họa sĩ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng…

Năm 1968, ông đi thực tế ở mỏ than Quảng Ninh cùng các họa sĩ: Nguyễn Tiến ChungBùi Xuân PháiNguyễn Tư NghiêmNguyễn SángHuỳnh Văn Gấm

Giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Dương Bích Liên là vào thập niên 70. Trong thời gian này, ông đã gửi các tác phẩm của mình tham dự triển lãm nhưng chúng sớm bị loại, như bức Hào và bức Bác Hồ nói chuyện với Vệ quốc quân. Riêng bức thứ 2, sau khi bị loại, người ta không còn thấy tăm tích tác phẩm này nữa. Bức tranh mô tả cảnh Hồ Chí Minh đang nói chuyện với người lính Vệ quốc quân ở trong Chiến khu Việt Bắc. Lý do bức tranh bị loại là họa sĩ đã vẽ người lính mắt lim dim trong khi vị lãnh tụ đang nói chuyện. Theo cách giải thích của Dương Bích Liên, chỉ khi nào người ta extreme (cực sướng) thì người ta thường nhắm mắt. Nhưng vào thời đó, không ai dám nghe theo cách diễn giải của họa sĩ.

Người ta cho rằng ông đã tự ái và đau buồn vì sự lạnh nhạt của nhân thế đối với những tác phẩm của mình, thế nên về cuối đời, ông đã gần như không có hứng thú sáng tác nữa.

Dương Bích Liên là một họa sĩ cách mạng đầu tiên trong làng hội họa Việt Nam. Là một họa sĩ tài ba, tâm huyết, Dương Bích Liên rất say mê vẽ, ngay cả trong những ngày chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông cũng không rời giá vẽ. Sự nghiệp hội họa của Dương Bích Liên là một tài sản quý của kho tàng Mỹ thuật Việt Nam. Năm 2000, họa sĩ Dương Bích Liên được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt II).

Trong những tài năng của hội họa hiện đại Việt Nam, có Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng độc đáo ở nét bút run rẩy hay táo bạo ngang tàng; Bùi Xuân Phái nổi tiếng ở màu trắng, màu ghi phố cổ rêu phong thì Dương Bích Liên lại làm ta nao lòng ở màu vàng miên man, xao động. Chiều vàng là một nguyên bản vàng mười của sơn mài trên nền trời buổi hoàng hôn ở thôn quê. Màu vàng Khi mùa lúa chín no nê trù phú. Màu vàng trong tranh sơn dầu lớn Ba thiếu nữ trong lành, mát mẻ mà sang trọng thanh cao, tinh khiết như trong vườn địa đàng nhớ mong một chân trời xưa cũ, tạo ra phong cách rất Dương Bích Liên.

Trong nhóm tứ kiệt Nghiêm, Liên, Sáng, Phái, Dương Bích Liên ít được nhiều người biết đến bởi ông đã “tự nguyện chọn tiếng im lặng của hội họa làm bản thân”. Ông sống cô đơn, thu mình lặng lẽ, trốn chạy chính mình và trốn chạy những khát vọng. Họa sĩ Dương Bích Liên là người dành cả cuộc đời cho nghệ thuật đến mức lơ đãng và quên chính bản thân mình.

Không vợ con nhưng có lẽ vì thế, thiếu vắng bóng hồng nên ông khát khao với một nửa còn lại của thế giới, ông yêu cái đẹp của người con gái- một cái đẹp thần thánh mơ hồ bảng lảng bay lượn qua cuộc đời ông. Nhìn vào sự nghiệp sáng tác của ông, có đến 2/3 tác phẩm về đề tài phụ nữ, trong đó có những tác phẩm là tuyệt tác của hội họa Việt Nam hiện đại, với hành ngữ của giới mộ điệu: “Phố Phái, Gái Liên”. Dương Bích Liên dành nhiều sáng tác cho đề tài thiếu nữ với bao tình cảm ưu ái, say mê và trìu mến nhất.

Một họa sĩ lặng lẽ dâng đời mình cho nghệ thuật, lặng lẽ sáng tạo cho cuộc đời những tác phẩm đẹp, gửi gắm nhiều suy tư về số phận của một đời nghệ sĩ. Không luyến tiếc trần thế, nhưng thế gian luyến tiếc ông, người họa sĩ tài hoa, người nghệ sĩ đã để lại những dấu ấn đậm sâu qua những bức họa sống mãi cùng thời gian.

Với một lối sống như người lập dị, bất cần, ông là người cô đơn khắc khoải trong suốt cuộc đời: “Đời không hiểu tôi và tôi cũng không hiểu đời, vì thế nên tôi thu mình nhỏ lại”.

Dương Bích Liên không có ý dày công cất giữ những sáng tạo của mình. Khi chết, ông chỉ ao ước được đốt hết những tác phẩm của ông đã vẽ để hóa thân cùng ông về với cát bụi. Tác phẩm của ông còn lại ngày hôm nay là hàng trăm bức tranh, chủ yếu là do bạn bè quý mến ông và nâng niu cất giữ.

Dương Bích Liên mất vào một chiều đông, ở tuổi 64 tại số nhà 55A Bà Triệu. Ông chọn một cái chết lặng lẽ, không bệnh tật, không đau ốm mà tịch cốc, không ăn chỉ uống rượu… Ông về cõi vĩnh hằng trong phảng phất hương men và mờ ảo bóng những nàng tiên nữ trong tranh đưa tiễn.

Dương Bích Biên là một trong những nghệ sĩ tài hoa độc đáo nhất của làng nghệ thuật Việt Nam. Một viên ngọc quý của họ Dương dâng đời. Ông để lại cho trần thế một nhân cách sống. Người họ Dương hãy thắp cho ông một nén nhang tưởng nhớ một tài năng cô đơn chỉ vì quá tôn thờ cái nhân văn và cái đẹp.

  1. Dương Quân

Dương Quân tên thật là Dương Tự Cường. Ông sinh ngày 8 tháng 8 năm 1926 (Bính Dần) tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mất ngày 3 tháng 7 năm 1985 (Ất Sửu) tại Hà Nội.

Trước Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia phong trào Việt Minh bí mật ở địa phương. Ông tham gia khởi nghĩa, gia nhập Thanh niên rồi tham gia Cách mạng Tháng 8 năm 1945, xung phong đi bộ đội, sau đó chuyển sang làm việc ở công an huyện Quỳnh Lưu. Ở cương vị công tác nào, ông cũng vẫn làm thơ. Năm 1953 xảy ra vụ Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, gia đình ông bị quy oan địa chủ và một kẻ xấu vu cho ông từng tham gia Đại Việt, một tổ chức phản động thời Nhật thuộc, tuy gia đình ông những năm 1930 đã hăng hái tham gia cách mạng ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1955, ông phẫn nộ bỏ ra Hà Nội. Không đủ tiền lộ phí, ông đi bộ, dọc đường làm thuê. Ông lên Đại Từ (Thái Nguyên) rồi Tuyên Quang tìm việc làm… Quay về Hà Nội lúc đó vừa mới giải phóng, ông đi bổ củi thuê, đi bán sách, bán báo ở chợ giời, phố Huế… Chắt chiu vừa kiếm sống, ông vừa đi học nghề làm báo.

Sau khi tốt nghiệp khoa Báo chí, đầu năm 1959, ông được giới thiệu vào làm phóng viên báo Lao động và bỉnh bút cho tờ báo lâu năm nhất, cũng là lớn nhất này tới lúc giã từ cuộc đời.

Ông sống ngang tàng, khí khái, thích tự do, không tham gia bất cứ hội đoàn, đảng phái nào. Lương ông thấp lắm, đến lúc nhắm mắt xuôi tay mới ở mức “cán sự 2”. Sau nhà thơ trào phúng Huyền Thanh, ông phụ trách chuyên mục thơ trào phúng châm biếm, và đây cũng là mảng đề tài mà ông gắn bó sáng tác trong suốt quãng đời cầm bút gian khó của mình. Gian khó là vì thời ông viết chống tham nhũng, tham ô, hối lộ, quan liêu, cửa quyền, móc ngoặc, chống bệnh thành tích, huyênh hoang phô trương…

Những bài thơ châm biếm phê phán nội bộ của ông viết ra kiên quyết không thỏa hiệp. Ông dũng cảm vạch trần chân tướng, bộ mặt, lòng dạ mưu mô xảo quyệt của những ông quan tham thời hiện đại, phanh phui phơi bày đầy đủ những xấu xa, thối nát, ung nhọt, bệnh hoạn… Hơn 500 bài thơ trào phúng châm biếm của ông được trình làng trên nhiều tờ báo ngoài Bắc trong Nam, Trung ương và địa phương.

Ông mất tại nhà riêng khu tập thể Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội trong cảnh bần hàn neo túng. Ông là nhà thơ trào phúng, đả kích đầy tài năng, có nhân cách và sống thanh bạch của họ Dương nằm trọn trong thời bao cấp.

  1. Dương Đình Tú

Dương Đình Tú sinh năm 1926 tại Tiền Phong, Tiền Phước, Quảng Nam. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Dương Đình Tú tham gia công tác tại xã liên tục với các chức trách: Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cách mạng, Uỷ viên mặt trận, Phó Chủ nhiệm Việt Minh liên xã…

Năm 1947, ông được kết nạp Đảng. 1/1948 đến tháng 6/1954, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Dương Đình Tú công tác ở huyện, kinh qua các chức vụ: Mặt trận Việt Nam huyện, Bí thư Đảng đoàn Nông dân, Bí thư Hội Nông dân cứu quốc huyện, Uỷ viên Mặt trận Liên Việt huyện Tiên Phước.

Tháng 7/1954 – 6/1956, ông là cán bộ được Đảng bố trí ở lại miền Nam và là Huyện uỷ viên, hoạt động bí mật tại nhiều xã trong huyện.

Tháng 7/1956 – 12/1961, bị địch bắt, giam tại nhiều nhà tù. Trong tù, Dương Đình Tú vẫn cùng nhiều đồng chí hoạt động bí mật.

Tháng 01/1962, mãn hạn tù, nhưng bị câu lưu chính trị hai năm rưỡi, rồi trở về địa phương tiếp tục hoạt động tại các xã trong huyện. Sau đó, ông được bầu vào Thường vụ Huyện uỷ, rồi làm Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam huyện Tiên Phước, làm Trưởng ban Đấu tranh chính trị, chỉ huy tiền phương của huyện.

Các năm 1969 – 1970 do yếu sức khoẻ, ông được đưa ra Bắc điều trị và học thêm văn hoá. Năm 1974, Dương Đình Tú được điều về miền Nam, tham gia Thường vụ Huyện uỷ. Tháng 5/1975, giải phóng miền Nam, ông làm Chủ tịch Uỷ ban Quân quản huyện Tiên Phước. Từ tháng 8/1975, ông được điều về công tác tỉnh tại Quảng Nam; làm Trưởng ban Thanh tra nhân dân tỉnh, Phó Bí thư Đảng uỷ khối nội chính.

Tháng 11/1985, nghỉ hưu. Dương Đình Tú đã được khen thưởng nhiều huân chương: Kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đặc biệt là Huân chương Độc lập hạng Ba; Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày; Huy hiệu 50 năm, 60 năm tuổi Đảng.

Cả đời sống gắn bó với quê hương bản xã, đậm sâu tình làng nghĩa xóm, gia tộc, tổ tiên, lá rụng về cội, tuổi già cụ mong muốn tìm nguồn gốc dòng họ.

Khi được tin tại Hà Nội có Ban Liên lạc Họ Dương toàn quốc chuẩn bị được thành lập, Dương Đình Tú liên hệ và tham gia ngay với tư cách là thành viên sáng lập. Ông làm Phó ban Ban Liên lạc Họ Dương toàn quốc, phụ trách trực tiếp khu vực phía Nam.

Dương Đình Tú hầu như không vắng mặt các cuộc họp mặt, hội thảo nào về dòng họ, ở hội nghị nào ông cũng có bài phát biểu rất trân trọng. Ông nhiều lần về tế tổ tại Thanh Hoá, Hà Tĩnh, đi lại gặp gỡ đại diện dòng họ các tỉnh miền Trung, vận động thành lập Ban Liên lạc họ các tỉnh từ Quảng Bình vào đến Phú Yên.

Cuối đời, ông vẫn trăn trở với công việc đang còn dở dang là chưa tổ chức được Ban Liên lạc khu vực Nam Bộ, mặc dầu đã đưa ra vào nhiều lần khá vất vả triển khai. Ông mất năm 2010.

Để đền đáp công lao của ông với Dòng tộc họ Dương Việt Nam, ngày 11/12/2010, Ban Thường trực Hội đồng Dòng tộc quyết định truy tặng “Bảng vàng Danh dự dòng tộc” ghi công đối với ông.

  1. Dương Văn Thiều

Dương Văn Thiều sinh năm 1928, tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, quê ông là một vùng đất văn hiến và cách mạng. Là hậu duệ của Thám hoa Dương Cát Phủ, dòng họ Dương của ông ở nơi đây đã có bề dày gần 600 năm tồn tại phát triển.

Sau Cách mạng Tháng 8, Dương Văn Thiều tham gia dạy học và hoạt động trong Đoàn Thanh niên cứu quốc ở xã Quỳnh Đôi. Tháng 2/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 8/1949, học Trường Trung học Canh Nông Liên khu 4, tốt nghiệp, được phân công về làm tại Trại thí nghiệm của TW ở Thanh Hoá.

Tháng 01/1952, Dương Văn Thiều ra Việt Bắc công tác tại Viện Khảo cứu trồng trọt TW. Tháng 9/1954, từ Bộ Canh Nông, ông được điều động về tiếp quản Thủ đô và làm việc tại Sở Canh Nông. Năm 1962, tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp, ông làm Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Hà Nội liên tục 25 năm liền (1963 – 1988). Trong thời gian này, năm 1971, ông được sang Pháp thực tập khoa học.

Ngoài ra, Dương Văn Thiều còn kiêm nhiệm Phó Trưởng ban Khoa học kỹ thuật Hà Nội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả, Uỷ viên Hội đồng Khoa học kỹ thuật Thủ đô, là đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố các khoá 7 và 8. Năm 1988, ông nghỉ hưu. Trong quá trình công tác, Dương Văn Thiều được khen thưởng: Huân chương Chống Mỹ hạng nhất; các Huy chương Vì sự nghiệp khoa học công nghệ, Vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp; Danh hiệu Vì sự nghiệp xây dựng Thủ đô; Huy hiệu 50 năm , 60 năm tuổi Đảng.

Là người họ Dương hiếu thảo luôn đau đáu về nguồn cội tổ tiên và sự phát triển của Dương tộc, từ khi nghỉ hưu, ông đã toàn tâm toàn ý chăm lo cho việc họ.

Từ năm 1988, Dương Văn Thiều đã có quyển sổ dày ghi “Tản mạn về họ Dương Việt Nam”. Hằng ngày, mỗi khi nghe đài, xem tivi, đọc sách, có chuyện gì liên quan tới dòng họ là ông ghi chép, tích luỹ. Ông đã vào thư viện để tìm đọc tư liệu, dành thời gian miệt mài sưu tầm tài liệu về dòng họ. Với trách nhiệm Trưởng tiểu ban Lịch sử của dòng họ, ông đã tham gia biên tập cuốn “Họ Dương trong cộng đồng dân tộc Việt Nam”; “Nhân vật tiêu biểu họ Dương Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh” tập I và đang chuẩn bị tập II. Trong khi kinh phí hoạt động dòng họ còn hạn hẹp, chỉ trông vào nguồn tài trợ, ông đã hào hiệp ủng hộ một phần chi phí khi cần thiết.

Dương Văn Thiều là Trưởng tiểu ban Lịch sử của dòng họ liên tục nhiều năm liền. Hiện nay, ông là cố vấn Hội đồng họ Dương Việt Nam và vẫn đang tham gia trong nhóm viết sử họ Dương độc lập, ngoài nhóm chính viết sử là tiến sĩ chuyên ngành lịch sử do họ Dương Việt Nam thuê.

Để đền đáp công lao của Dương Văn Thiều với dòng tộc họ Dương Việt Nam, ngày 11/12/2010, Ban Thường trực Hội đồng Dòng tộc quyết định  tặng “Bảng vàng Danh dự dòng tộc” ghi công đối với ông.

  1. Dương Ngọc Viên

   Dương Ngọc Viên (Dương Viên) sinh năm 1931 tại Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Bà nội của ông là Mẹ Việt Nam Anh hùng, có 3 con là liệt sỹ, trong đó có cha ông  liệt sỹ Dương Ngọc Liễn, một cán bộ lãnh đạo cuộc biểu tình trong phong trào Xô Viết  Nghệ Tĩnh huyện Quỳnh Lưu.

Từ nhỏ đã thích vẽ, hơn 10 tuổi, Dương Viên lên thành phố Vinh học, gặp họa sỹ Lê Yên- người đã tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đang giảng dạy ở Quốc học Vinh truyền nghề.

Thời học phổ thông, ông đã giành giải Nhất vẽ tranh, đó là bức vẽ “Anh hùng Lê Văn Tám” làm đuốc sống đốt kho xăng của pháp.

Năm 1948, Dương Viên vào Trường Thiếu sinh quân,  năm 1950, được cử đi học quân sự ở Trung Quốc.

Năm 1954, ông về nước, công tác tại Trường Sỹ quan Lục quân với công việc là giảng dạy tại Khoa Hóa học.

Cuối năm 1958, Dương Viên được điều về Báo Quân đội nhân dân và từ đó ông vừa làm vừa học mỹ thuật tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (sau này là Đại học Mỹ thuật Việt Nam).

Thời gian sau, ông về công tác tại Phòng Văn nghệ Quân đội thuộc Tổng cục chính trị, huấn luyện về hội họa cho các đơn vị. Đây cũng là thời gian sáng tác sôi nổi nhất của họa sỹ Dương Viên trên nhiều chất liệu như sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ. Nhiều bức vẽ của ông đã đạt đến trình độ điêu luyện khi thể hiện các mảng đề tài cách mạng, chiến đấu như Xuất kích (khắc gỗ, 1970), Thư nhà (sơn mài, 1972), Trận địa trên cao (sơn mài, 1973), Gặp gỡ (sơn mài, 1974), Niềm tin (sơn mài, 1980)…

Một dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời ông, ấy là năm 1973, ông nhận nhiệm vụ vẽ tem trong thời điểm hết sức nhạy cảm: Mỹ – Ngụy đang thất bại nặng nề (nhất là sau Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không), tuy nhiên, chúng còn rất ngoan cố, ngang nhiên vi phạm Hiệp định Paris… Ông đã chọn chủ đề “Đánh nhanh, diệt gọn” để thể hiện bộ tem với hình tượng người chiến sỹ   với mũ tai bèo, khoác lá ngụy trang, tay cầm tiểu liên, lao về phía trước cùng cỗ xe tăng lớn xông lên phía địch. Phía sau là các nòng pháo vươn cao cùng khẩu hiệu: Đánh mạnh, Diệt gọn. Đi sâu vào mảng đề tài cách mạng, tranh của Dương Viên đã thể hiện được khí phách hào hùng của quân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ và làm nhiệm vụ quốc tế.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông đảm nhiệm các chức danh Đại biểu quốc hội, Đảng ủy viên Khối Văn hóa tư tưởng, Tổng thư ký hội nghệ sĩ tạo hình Việt Nam.

  1. Dương Văn Kiện

Dương Văn Kiện sinh năm 1931, quê ở làng Tích Sơn, nay là phường Tích Sơn, Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, là hậu duệ của Trạng nguyên Dương Phúc Tư.

Gia đình ông có truyền thống cách mạng. Thân phụ ông là đảng viên từ 1939, thuở nhỏ thăm cha bị giặc Pháp bắt tù ở Phú Thọ, Hoả Lò, căng Bá Vân, được tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng cùng với cha, nên ông đã sớm được hun đúc lòng yêu nước.

Năm 1947, tham gia đội tự vệ thành Vĩnh Yên, làm trung đội phó. Đến năm 1948, được kết nạp Đảng, làm chính trị viên, rồi trung đội trưởng Trung đội quân chủ lực của huyện. Tham gia nhiều đợt chiến đấu ở vùng Vĩnh Yên. Khi đang làm Huyện đội phó Lập Thạch, ông được điều về vùng địch hậu ở huyện Đông Anh làm đại đội trưởng bộ đội địa phương huyện.

Đầu năm 1954, ông học tại Trường Quân sự tại ATK Sơn Dương, Tuyên Quang. Sau khi hoà bình lập lại 1954, ông phụ trách kế hoạch xây dựng quân khu bộ Việt Bắc. Năm 1960 ra quân, học Đại học Bách Khoa, và học tiếp Đại học Kinh tế tài chính. Năm 1964, tốt nghiệp, về công tác tại Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.

Dương Văn Kiện đã kinh qua các chức vụ Trưởng phòng, Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Viện Phân vùng quy hoạch Trung ương. Năm 1993, ông nghỉ hưu, hưởng lương Vụ trưởng loại I.

Ông được khen thưởng: Huân chương Chống pháp Hạng 3 , Huân chương Chống Mỹ Hạng 2, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang Hạng 2, Huy chương Vì sự nghiệp kế hoạch nhà nước.

Năm 1991, Dương Văn Kiện đã cùng các ông Dương Văn Thiều, Dương Hồng Kỳ hợp thành “Nhóm kết nối”, đi vào Hà Tĩnh, thành lập Ban liên lạc họ Dương tỉnh đầu tiên.

Năm 1992, thành lập Ban liên lạc họ Dương toàn quốc, ông giữ chức trưởng ban. Ông năng nổ kết nối họ Dương các tỉnh từ Quảng Nam đến Lạng Sơn. Ông chú trọng sưu tầm, khảo cứu, tham gia biên soạn góp công sức cho ra đời cuốn  “Lược sử họ Dương”. Tổ chức thành công các cuộc hội thảo về anh hùng dân tộc của họ Dương là hội thảo Dương Đình Nghệ tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, tháng 5/2004 và Hội thảo về Dương Tam Kha tại Nam Định, tháng 10/2006.

Ông thường xuyên ủng hộ tiền mặt cho dòng tộc những năm trước đây, khi tài chính của dòng họ khó khăn, để duy trì hoạt động. Dương Văn Kiện mất tháng 5 năm 2009, thọ 78 tuổi.

Để đền đáp công lao của ông với dòng tộc họ Dương Việt Nam, ngày 11/12/2010, Ban Thường trực Hội đồng Dòng tộc đã quyết định truy tặng “Bảng vàng Danh dự dòng tộc” ghi công đối với ông.

  1. Dương Tự Đam

Tiến sĩ Dương Tự Đam sinh năm 1942, quê tại Hưng Yên. Ông nguyên là Giám đốc Trung tâm thông tin Thanh niên quốc gia-Tổng biên tập Tạp chí Thanh niên. Ông đã tham mưu cho Đảng, nhà nước về chiến lược chính sách thanh niên.

Ông tham gia biên soạn nhiều tác phẩm, trong đó có giá trị nhất là cuốn “Từ điển Thanh niên Việt Nam”.  Đây là cuốn từ điển thanh niên đầu tiên được xuất bản và được viết trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng mở.

Cuốn từ điển đã thu thập và giải nghĩa khoảng 2.000 mục từ, bao gồm các khái niệm, các phạm trù về tổ chức, vận động và giáo dục thanh niên, đặc biệt là giáo dục lí tưởng, đạo đức cách mạng, lí tưởng thẩm mĩ, lối sống văn hóa, hoài bão, ước mơ, trách nhiệm công dân của thanh niên. Từ điển cũng đưa vào số lượng đáng kể các mục từ phản ánh công tác tổ chức và hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, từ điển còn giới thiệu một số gương chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, tiêu biểu như Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Văn Cừ, Châu Văn Liêm, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Viết Xuân, Bế Văn Đàn… Trong từ điển này còn có khá nhiều mục từ thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn như tâm lí học, triết học, chính trị, ngoại giao, luật học, xã hội học, mĩ học, giáo dục… liên quan trực tiếp đến việc giáo dục phẩm chất, lí tưởng, thẩm mĩ, lối sống của thanh niên.

Là người họ Dương, nặng lòng yêu họ tiến sĩ Dương Tự Đam đã tham gia việc họ từ rất sớm:

– Năm 2001, tham gia trong Ban liên lạc Họ Dương toàn quốc.

– Năm 2009, đảm nhận chức vụ Phó ban liên lạc Hội đồng dòng tộc Họ Dương Việt Nam.

– Năm 2010 là Phó Chủ tịch Hội đồng dòng tộc họ Dương  Việt Nam.

– Năm 2013 là  Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Việt Nam.

Dương Tự Đam đã tích cực trong hoạt động dòng tộc. Ông đã chủ biên cuốn sách lịch sử: “Dòng tộc Họ Dương trong tiến trình lịch sử Việt Nam”. Cuốn sử là kết quả đúc rút từ nhiều năm hoạt động trong dòng họ. Ông đã mang lại cho cả họ bức tranh hào hùng của cha ông qua từng giai đoạn, gắn liền lịch sử họ với lịch sử dân tộc. Khác với quan điểm người ngoài họ viết sử, ông đã trân trọng di sản của tiền nhân trong cuốn “Dương tộc kỷ sử” của Thừa tướng Quốc công Dương Đình Tiến – đại thần triều Lý. Ông đã chứng minh rằng họ Dương có từ ngày đầu dựng nước cùng các vua Hùng. Cuốn sử ông chủ biên đã góp phần cùng các cuốn sử khác, đặt đúng vị trí của họ Dương trong tiến trình đấu tranh dựng nước giữ nước của dân tộc.

Tiến sĩ Dương Tự Đam rất tâm huyết với dòng họ, hiện nay ông đã lập nhóm người họ Dương có năng lực chuyên môn dày công biên soạn cuốn Lịch sử họ Dương Việt Nam đang làm thủ tục xuất bản. Đây là di sản để các thế hệ sau tự hào về một thuở cha ông.

20  Dương Văn Đảm

Dương Văn Đảm sinh năm 1942, quê làng Tư Thế, xã Trĩ Quả, Thuận Thành, Bắc Ninh. Sau khi học xong phổ thông, ông vào học tại Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Sau này, ông làm công tác giảng dạy tại nhà trường.

Ông là người yêu quê hương tha thiết, ông dành phần lớn thời gian về quê thu lượm tư liệu quê hương về mọi mặt trong nhiều năm, để rồi 2018, ông cho ra đời cuốn “Tư thế phong thổ ký”. Trong sách miêu tả từ khung cảnh quê hương tươi đẹp với những thuần phong mỹ tục đến đời sống người dân. Lễ hội làng quê cổ truyền với những trò chơi dân gian đều tái hiện dưới ngòi bút tài hoa của ông. Tái hiện cuộc sống ngàn xưa, ông cũng không quên mô tả đời sống người dân thời nay đã đổi thay sung túc no ấm.

Tác phẩm “Tư thế phong thổ ký” của Dương Văn Đảm như một bách khoa toàn thư thu nhỏ về quê hương ông. Như một thông điệp ông gửi gắm cho các thế hệ con cháu biết về truyền thống quê hương để sống đẹp hơn cho ngày nay và mãi mãi.

Không chỉ yêu quê hương, lòng yêu họ trong Dương Văn Đảm cũng đầy ắp. Là người họ Dương ở trong cái nôi của dòng họ vùng Kinh Bắc, ông tham gia sinh hoạt họ Dương từ rất sớm.

Ông luôn giữ trọng trách trong họ Dương. Đã là Phó Chủ tịch họ từ 2013, ông là cây cao bóng cả trong các cây viết của họ. Là kho sử liệu của họ Dương, thu thập, sàng lọc, ông đã biên tập các văn bản cổ thành sách, trình bày gọn gàng minh bạch làm tư liệu nghiên cứu cho cả họ. Ngòi bút của ông đã biên tập thành công các cuốn sử họ: Dương tộc kỷ sử, Lý Dương tộc kỷ sử, Lý tộc Dương tộc gia phả, Lý bản Dương chi phả ký…

Dương Văn Đảm còn thông thạo các áng văn cổ, hầu hết các lễ hội, ông đều soạn chúc văn với lời văn khúc chiết, ông đưa cả họ vào không khí trang nghiêm rưng rưng tri ân tiên tổ, quê hương nguồn cội.

Ông là Trưởng ban viết sử họ Dương, đảm nhận trách nhiệm này, từ năm  2015, với tham vọng cho cả họ có một bộ sử đồ sộ gồm 5 quyển. Việc này rất khó khăn, tuy có cả bộ máy viết sử của người trong họ song kết quả rất khiêm tốn, cuối cùng Chủ tịch họ phải giải thể ban sử và thuê người ngoài họ có chuyên môn để viết. Ấy thế mà hơn hai năm nay, hai bài viết của người ta cũng chưa có gì là sáng sủa.

Thế mới biết cái khó của viết sử ngày nay, giữa tư liệu lưu tồn bề bộn trái chiều đầy mâu thuẫn, không có nhạc trưởng hiểu biết và tài ba nên đã để hướng viết phân ly thành nhiều ngả.

1-Tuyệt đối hóa tư liệu Dương tộc kỷ sử, bất biết đúng sai, chấp nhận luôn,  mang ra tuyên truyền rộng rãi.

2-Phủ định Dương tộc kỷ sử, tin vào kỷ Hồng Bàng, viết lộn xộn rồi bỏ đi viết lại, chỉ lưu tâm từ những năm 40 SCN với sự kiện Hai Bà Trưng trở đi.

3-Những người trong họ đã thu thập được nhiều tư liệu khi còn trong ban sử họ, bằng con mắt biện chứng viết sử theo các cứ liệu và thành tựu khoa học. Mỗi người viết một dạng không có sự thống nhất.

Chắc rằng với khả năng cùng sự hiểu biết, Dương Văn Đảm sẽ khai thác trí tuệ cả họ, giúp họ kết nối với người được thuê viết sẽ cho họ ta một cuốn sử chất lượng và đúng nghĩa.

  1. Dương Trọng Hiếu

GS.TS Dương Trọng Hiếu sinh năm 1943, quê quán Song Hồ – Thuận Thành – Bắc Ninh. Hiện trú tại nhà 41, ngõ 378 đường Lê Duẩn, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Học đại học ngành Y học cổ truyền tốt nghiệp năm 1962. Bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ năm 1990 ở Nga (PTS là theo danh xưng ở Nga, về Việt Nam chuyển thành tiến sĩ).

  1. TS Hiếu có thâm niêm 50 năm công tác, cống hiến cho ngành Y. Ông là người tôn trọng lý luận kinh điển của Đông phương kết hợp với kiến thức cập nhật nên đã biên soạn và được Nhà Xuất bản Y học xuất bản 20 tác phẩm (giới thiệu trong cuốn 45 năm Nhà Xuất bản Y học Việt Nam, tác giả và tác phẩm). Giáo sư Hiếu còn là tiến sĩ đầu tiên của ngành Y học cổ truyền được ghi tên trong sách của Văn Miếu.

Không chỉ vậy, với kinh nghiệm 40 năm công tác tại Viện Nghiên cứu Đông y (nay là Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương), ông luôn bám sát thực tiễn lâm sàng trong nghiên cứu khoa học. Đó là các thể loại đề tài về chưa bệnh cơ xương khớp, đường hô hấp, hệ tiêu hóa, tiết niệu, đái tháo đường. Đề tài nghiên cứu thuộc cả 3 cấp: cấp cơ sở, cấp bộ và cấp nhà nước quản lý, đã được Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Huy chương Vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Mang trong mình những trăn trở làm sao để những kiến thức qua nhiều năm tích cóp có thể chia sẻ rộng rãi đến mọi người, cứ thế ông đã bắt đầu viết trên 600 bài cho các báo Khoa học và Đời sống, Sức khỏe và Đời sống, Cây thuốc quý, Sức khỏe người cao tuổi, Báo Phụ nữ, Đại đoàn kết, Bác sĩ gia đình,…

Ngoài ra, giáo sư còn thường xuyên tham gia tư vấn, trả lời trên các kênh truyền hình VTV2, VTV3, O2TV, AVG, VTC16, JoyFM (98,9MHz)… giúp độc giả tìm hiểu về Y lý phương đông, chức năng các tạng phủ – phòng chữa bệnh thường gặp,…

Bận rộn là thế nhưng với cương vị Ủy viên Thường vụ Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phụ trách phần nghiên cứu khoa học, ông vẫn dành thời gian tham gia nhiều buổi thuyết trình cho Hội Người cao tuổi các quận huyện ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.

Tại Đông phương y quán của giáo sư Hiếu có khám chữa bệnh nội khoa, các bệnh cơ xương khớp như đau nhức xương, đau lưng, bệnh hô hấp như viêm phế quản, hen suyễn, các bệnh về tiêu hóa như đau dạ dày, đại tràng, gan mật trĩ; bệnh tiết niệu đái dầm, đái buốt; bệnh về nội tiết như suy sinh dục, đái tháo đường; các bệnh phụ nữ như nghén, ít sữa, tắc sữa, kinh nguyệt; bệnh về thần kinh như liệt mặt, suy nhược thần kinh, đau thần kinh tọa…

Giáo sư tiến sĩ Dương Trọng Hiếu là người họ Dương tài năng mẫu mực hoạt động trong ngành Y học cổ truyền đã tận tụy với nghề, giúp mọi người bảo vệ và tăng cường sức khỏe trong cộng đồng. Họ Dương tự hào và noi gương ông.

  1. Dương Thị Ngọc Triều

Dương Thị Ngọc Triều  Sinh năm 1944 ở Trường Khánh- Châu Thành – Sóc Trăng, bà là Tổng giám đốc Công ty Lương thực Miền Nam ngay từ ngày đầu đổi mới.

Bà nhận bàn giao 31 đơn vị thành viên, có 390 tỷ tiền lỗ, năm 1988 nhận thêm Công ty Lương thực thành phố Hồ Chí Minh lỗ 240 tỷ và 27 triệu đô la nợ nước ngoài. Nhiệm vụ Tổng công ty của bà phải giải quyết lỗ và nợ, đồng thời phải đảm bảo điều hòa lương thực và có dự trữ.

Dương Thị Ngọc Triều đã vượt lên khó khăn, trải qua hơn chục năm đổi mới, đã giải quyết xong tồn đọng và tiến tới làm ăn có lãi. Bà còn tích cực tham gia hoạt động xã hội, xây dựng 191 nhà tình nghĩa, 10 nhà tình thương trị giá hơn 3 tỷ đồng.

Bà được tặng thưởng hai huân chương lao động hạng Nhì, liên tục được tặng bằng khen của Thủ tướng chính phủ và các bộ ngành. Ngày 13-9-2000, Dương thị Ngọc Triều được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Dương Thị Ngọc Triều là tấm gương sáng cho gái họ Dương noi theo.

  1. Dương Thu Hương

Dương Thu Hương sinh năm 1946 tại Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình đông con, kinh tế khó khăn, bố mẹ nghiêm khắc nên từ nhỏ bà Hương đã biết lao động kiếm tiền giúp gia đình. Những năm tháng khó khăn ấy mang lại cho bà bài học quý giá về tình yêu lao động.

Vì không có nhiều thời gian học nên sức học của bà lúc nào cũng chỉ ở mức trung bình nhưng chưa lúc nào bà quên ước mơ được đi du học nước ngoài và trở thành cán bộ để đóng góp công sức cho đất nước.

1946 – 1954: Theo bố mẹ ra vùng kháng chiến

1954 – 1964: Học PTTH Trường nữ sinh Trưng Vương

1964 – 1969: Học ĐH Tài chính Hà Nội

1969 – 1988: Giảng viên trường Trung học Ngân hàng (nay là Học viện Ngân hàng).

1979 – 1984: Nghiên cứu sinh tại ĐH Kinh tế Các Mác Budapest – Hungari.

1988 – 1990: Phó Giám đốc Ngân hàng Công Thương Việt Nam

1990 – 1991: Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế – Kế hoạch của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1991 – 1997: Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu kinh tế – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1997 – 2002: Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2002 – 2007: Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam, Phó Chủ nhiệm Uỷ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội.

Bà là người phụ nữ trong dòng tộc họ Dương Việt Nam, dịu dàng, xinh đẹp, chịu thương chịu khó, vừa gánh vác việc nhà, đảm đang, yêu chồng thương con hết mực, hiếu đễ phụng dưỡng cha mẹ già đôi bên, vừa tích cực hoạt động công tác xã hội.

Bà xứng đáng là người phụ nữ họ Dương tài năng, phát huy truyền thống trung hậu đảm đang của dân tộc và dòng họ.

  1. Dương Thúy Mỹ

Dương Thúy Mỹ sinh 1946, quê thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, là giảng viên Triết học, Đại học Y khoa Hà Nội; Ủy viên Thường trực Ban liên lạc Họ Dương toàn quốc và Hội đồng Dòng tộc Họ Dương Việt Nam từ 2009 đến 2013.

Bà là nhà thơ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, có nhiều đóng góp cho nền thi ca nước nhà.

Tác phẩm của bà đã xuất bản:

-Nỗi buồn con gái, thơ, NXB Văn học 1995.

-Nụ tầm xuân hát, thơ, NXB Hội Nhà văn 2000.

-Thì thầm mùa thu, thơ, NXB Hội Nhà văn 2005.

-Gió bay mất nửa lá bùa, thơ, NXB Hội Nhà văn 2009.

Ngoài ra, Dương Thúy Mỹ còn có tác phẩm in chung với nhiều tác giả và tập san. Bà đạt giải thơ Lục bát báo Văn nghệ trẻ 2003, Giải thơ Quỹ Văn học nghệ thuật Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội.

Thơ của bà dung dị, sâu lắng, đầy nhân văn, mang tình yêu quê hương đất nước và con người.

  1. Dương Anh Dũng

Dương Anh Dũng sinh năm 1946, quê làng Dư Hàng Kênh, ở số 3 Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng.

Năm 1964, ông học Đại học Nông nghiệp I, ra trường tham gia đoàn kỹ sư chỉ đạo sản xuất nông nghiệp tại Lạng Sơn và Hải Phòng.

Năm 1974, về xây dựng Trại Nghiên cứu giống rau quả với hãng MARUSA do Đảng Cộng sản Nhật giúp Việt Nam tại An Hải – Hải Phòng.

Năm 1985, về công tác tại Ủy ban Vật giá và Sở Tài chính Hải Phòng.

Là Phó ban Quản lí giá công sản thuộc Sở Tài chính thành phố. Năm 2007, ông nghỉ hưu.

Là người họ Dương yêu họ, ông tham gia công tác họ từ rất sớm:

– Ngày 22-3-1992, là Phó Chủ tịch Hội đồng gia tộc họ Dương phường Dư Hàng Kênh, Phó ban liên lạc lâm thời HDHP, cùng ông Dương Văn Bái, Trưởng ban, dự họp với họ Dương toàn quốc ở 48 Nguyễn Thái Học, Hà nội. (Tại cuộc họp này, ông Bái được bầu là Ủy viên Ban liên lạc Họ Dương toàn quốc).

– Ngày 16-4-2011, ông Dương Thanh Xuân- Chủ tịch Hội đồng dòng tộc Họ Dương Việt Nam trao Quyết định số 02/2011-QNHDDT lập Ban Liên lạc họ Dương Hải Phòng. Ông Dương Anh Dũng làm Trưởng ban đồng thời là Ủy viên Hội đồng dòng tộc họ Dương Việt Nam. Ông Dương Đức Khuyến và Dương Đức Quý làm Phó ban.

– Đến 2016, thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Hải Phòng, trên toàn thành phố, ông đã chủ trì kết nối được 26 chi họ.

– Ngày 25-9-2017, Dương Anh Dũng được Hội đồng Họ Dương Việt Nam phân công vào ban biên soạn bộ sách Lịch sử Họ Dương Việt Nam. Hiện ông là Ủy viên Thường trực, Trưởng ban kết nối xây dựng dòng tộc và nghiên cứu sử họ thuộc Hội đồng Họ Dương Hải Phòng, là Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Dương phường Dư Hàng Kênh.

– Từ 2019 là Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Dương liên quận Lê Chân – Hồng Bàng – Ngô Quyền.

Đến năm 2020, ông đã kinh qua các hoạt động trong Hội đồng Họ Dương Việt Nam là 19 năm. Năm 2015, được nhận bằng khen của Hội đồng Họ Dương Việt Nam.

Dương Anh Dũng có năng khiếu làm thơ. Thuở thiếu thời, mới 14 – 15 tuổi, ông đã làm thơ và 16 – 17 tuổi đã có thơ hay. Hiện ông là Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Việt nam quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Ông làm nhiều thơ ca ngợi về quê hương đất nước, tình cảm con người, nặng lòng yêu họ Dương Việt Nam. Đã ra mắt các tác phẩm:

– “Thơ và Đời”:  tập I năm 2007 (NXB Hải Phòng)

– “Thơ và Đời”:  tập II năm 2011 (NXB Hải Phòng)

– “Thơ và Đời”:  tập III năm 2016 (NXB Hải Phòng)

– “Thơ và Đời”:  tập IV năm 2019 (NXB Hải Phòng)

– “Phụ bản Thơ và đời” tập IV.

Đình Dư Hàng và quê tôi năm 2019 (NXB Hải Phòng)

Lịch sử họ Dương Việt Nam  năm 2020 (NXB Hải Phòng).

Ngoài ra, ông còn có thơ tham gia nhiều tập san và in chung thơ với nhiều tác giả của Thơ Việt Nam.

Nhà thơ Phước Giang, cây đại thụ của thơ Đất Cảng đã nhận xét: “Dương Anh Dũng làm thơ ở nhiều thể loại: thất ngôn bát cú Đường luật, ngũ ngôn, song thất lục bát, lục bát và lục bát biến thể… Mỗi thể loại đều được sử dụng với nhiều đề tài khác nhau, bài nào cũng mang sắc thái và đặc thù riêng, gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả.

Dương Anh Dũng không ngại dùng lối viết chính luận để trình bày ý kiến của mình, ông phê phán những thói hư tật xấu, những khuất tất trong mọi lĩnh vực của xã hội bất kể ở giai tầng nào. Với bút lực sung mãn, trong hơn một thập kỉ gần đây (2007-2019), Dương Anh Dũng đã liên tục cho ra mắt bạn đọc 4 tập “Thơ và Đời”:  Các tập thơ đều dày dặn, một gia tài quý giá, những bài thơ viết về cuộc sống, về tình yêu, mà bài nào cũng đáng đọc và để lại những suy ngẫm sâu sắc trong lòng độc giả.

Dương Anh Dũng dành một phần trang trọng trong tập thơ này để ngợi ca dòng họ của anh, dòng họ Dương hào hoa và gắn bó với lịch sử của dân tộc. Từ thủa hồng hoang cho đến ngày hôm nay, thật vinh quang và hào sảng với một ý thức như lập một khế ước cho những thế hệ kế tiếp.

Các tác phẩm “Thơ và Đời” của Dương Anh Dũng, với những bài thơ giản dị, nhiều đề tài, đủ thể loại, thơ anh không còn là chiếc lá mà đã vươn thành tán cây xanh tốt xum xuê dâng tặng vào rừng thơ bạt ngàn của thi ca dân tộc”. 

Từ năm 2006, Dương Anh Dũng tham gia công tác xã hội là Phó ban quản lý Đình Dư Hàng thờ Thánh Ngô Quyền, ông đã lập hồ sơ xin kinh phí nhà nước 34 tỷ trùng tu lại đình làng như nguyên bản. Ông cũng tiến hành khôi phục và mở rộng truyền thống lễ hội, “Xuân tự thu thường” đều tổ chức tế lễ theo lệ cổ. Lễ hội đầu năm tổ chức đoàn rước trọng thể linh thiêng và thực hiện các nghi lễ truyền thống hội xuân dân gian.

Ông say mê sưu tầm lịch sử quê hương, đã xuất bản tác phẩm “Đình Dư Hàng và quê tôi”, nói về lịch sử hình thành làng quê và bản đình thờ Thánh. Đem lại cho người đời sau hình ảnh và lai lịch nơi quê hương bản quán, đặc biệt là tên gọi các địa danh từ xa xưa.

Là người tâm huyết, yêu lịch sử dân tộc, yêu lịch sử họ Dương, Dương Anh Dũng dành nhiều thời gian đi sâu tìm đọc nghiên cứu về nguồn gốc người Việt, lịch sử hình thành và phát triển Họ Dương Việt Nam. Đồng thời có nhiều phát hiện và giải ảo một số tồn nghi về lịch sử họ Dương. Ông đã viết cuốn “Lịch sử họ Dương Việt Nam” mang đậm dấu ấn trí tuệ, đóng góp cho họ Dương nhiều tư liệu quí báu để hoàn thành bộ sử chung của dòng họ.

Lời bàn: Là người họ Dương nhiệt tình thẳng thắn nên ông có nhiều thư góp ý gửi cả họ, phát biểu trong hội nghị và có văn băn gửi HĐHD.

Ông có những bài viết gửi HDVN và đăng trên trang thông tin cá nhân về lịch sử và phát tích của họ Dương, có cách nhìn khác với tuyên truyền theo chỉ đạo của Chủ tịch họ Dương khóa VI đăng trên trang thông tin của dòng họ.

Những góp ý của ông Dũng phù hợp với luật an ninh mạng, đã được PCT Dương Thanh Biểu đưa ra hội nghị thường trực, được ông Dương Công Minh Chủ tịch họ khóa VII ghi nhận và chỉ đạo sửa lại phóng sự “Họ Dương Việt Nam đi lên cùng đất nước” từ năm 2019 theo hướng lược bỏ các tuyên truyền ngộ nhận không có trong chính sử.

Ông Dũng được mời vào ban sử họ và có nhiều bài tham gia góp ý với dòng họ. Được ông Dương Công Minh có thư gửi ngày 1-6-2019 đánh giá: “Qua thư của ông tôi biết rằng ông là người họ Dương rất yêu dòng họ và luôn đau đáu theo sát những bước đi của HĐHD. Thường trực HĐHDVN rất trân trọng và đánh giá cao những ý kiến tâm huyết thẳng thắn của ông”.

Với lòng yêu họ và muốn tìm hiểu sâu về dòng họ nên Dương Anh Dũng đã viết cuốn Lịch sử họ Dương Việt Nam để trải lòng với cả họ và tri ân tiên tổ.

26-Dương Trung Quốc 

Dương Trung Quốc (sinh 2 tháng 6 năm 1947) quê quán xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, hiện cư trú ở số 7 ngõ Lê Văn Hưu 1, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Ông là nhà nghiên cứu lịch sử và là chính trị gia.

Năm 2016, ông là ứng cử viên đại biểu Quốc hội do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu.

Năm 2020, ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV thuộc đoàn đại biểu tỉnh Đồng Nai (một trong 21 người ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam trúng cử).

Ông Dương Trung Quốc nổi tiếng vì những bài phát biểu thẳng thắn của mình trong các kỳ họp quốc hội.  Ông có bằng cử nhân chuyên ngành lịch sử, là Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Xưa & Nay và Chủ tịch Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Hà Nội.  Ông từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa XIII, XII, XI thuộc đoàn đại biểu tỉnh Đồng Nai.

Người Việt Nam ai cũng quý nể ông Dương Trung Quốc, vì đại đa số, đều thấy có ý nguyện của mình trong các phát biểu thẳng thắn của ông tại nghị trường. Đó là những ý kiến tiêu biểu và nổi tiếng:

– Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại kì họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV, khi thảo luận về Dự thảo Luật “đặc khu”, ông cho rằng quy định giao đất 99 năm cho nhà đầu tư chỉ có lợi cho các nhà đầu tư bất động sản và các nhà đầu cơ đất. Các nhà đầu tư công nghệ cao không cần thuê đất 99 năm mà cần môi trường đầu tư sạch, hạ tầng tốt, giao dịch sòng phẳng, minh bạch.

– Ngày 13 tháng 6 năm 2018, ông là một trong 15 đại biểu Quốc hội Việt Nam đã bấm nút không tán thành thông qua Luật An ninh mạng.

– Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII, ông Dương Trung Quốc đã đưa ra hai câu hỏi chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

Một là, “Thủ tướng nghĩ gì về ý kiến cho rằng mình đã nặng trách nhiệm với Đảng mà nhẹ trách nhiệm với dân”.

Hai là, “Thủ tướng có tán thành sẽ khởi đầu cho một sự tiến bộ của Chính phủ, hướng tới một văn hóa từ chức để từng bước đoạn tuyệt với lời xin lỗi hay không?”

– Trong một cuộc phỏng vấn với đài BBC vào ngày 19 tháng 2 năm 2016 về vấn đề bầu cử Quốc hội, ông Dương Trung Quốc cho là việc “đảng cử dân bầu” là vấn đề cần phải thay đổi, để phát huy dân chủ một cách rộng lớn hơn, lấy lại lòng tin của người dân, tránh sự thờ ơ đưa tới những hiện tượng như bỏ phiếu hộ…

Ông có những tác phẩm:

Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Phong trào Thanh niên Việt Nam, Nhà Xuất bản Thanh niên, 4-2001.

Việt Nam những skiện lịch sử (1919 – 1945), Nhà Xuất bản Giáo dục, 02-2005.

Ông viết chung hai tác phẩm:

Phan Châu Trinh toàn tập, đồng tác giả Chương Thâu, Phan Thị Minh, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 03-2005.

Hồ Chí Minh – Hiện thân của văn hóa hòa bình, đồng tác giả Đào Hùng, Nhà Xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 6-2005.

Dương Trung Quốc là Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội không bao giờ có tiếng nói “đối lập” mà chỉ có tiếng nói “độc lập” mà thôi.

Đối với họ Dương Việt Nam, ông tham gia mảng doanh nhân, ông giữ trọng trách kết nối HDVN với các nhà khoa học lịch sử để viết bộ Lịch sử họ Dương Việt Nam.

  1. Dương Phúc Hiệu

Dương Phúc Hiệu sinh năm 1947 tại Thuận Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Ông là cựu chiến binh-cán bộ kinh tế, tham gia công  tác quản lí ở Khoa Ngân hàng Trường Đại học Bắc Ninh.

Ông tham gia việc họ từ rất sớm, ngay khi đang còn công tác. Ngày đầu thành lập Ban liên lạc Họ Dương toàn quốc, ông đã vác ba lô theo sự phân công đến các vùng, miền để kết nối và tuyên truyền lịch sử họ Dương Việt Nam. Trên 20 năm, ông đã đi khắp các tỉnh miền Bắc, miền Trung và nhiều đợt vào cả miền Nam, đặc biệt là vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc và các nơi thờ tự danh nhân, tiến sĩ, trạng nguyên người họ Dương. Ông đã sưu tầm tài liệu, đủ cung cấp, để cùng cụ Dương Văn Thiều viết 2 cuốn sách “Danh nhân và Cổ tích”, trong bộ lịch sử họ Dương Việt Nam. Phương tiện đi lại lúc đó chủ yếu là tàu, xe khách và xe ôm. Kinh phí là tiền cá nhân, ông đã đến nhiều gia đình, nhiều chi họ cùng ăn ở với bà con họ Dương. Được bầu là Phó Chủ tịch Hội đồng Dòng tộc họ Dương, phụ trách Văn phòng, ông tiếp tục xa gia đình ở Nghệ An để ăn, ở tại Văn phòng từ Đặng Thái Thân, Trung Kính, Hà Nội rồi về 22 Lý Thái Tổ, Bắc Ninh.

Ông là người họ Dương cực kỳ tâm huyết, là người đã gây dựng cho tổ chức họ Dương các tỉnh ngay từ những ngày đầu. Ông đã sưu tầm các địa phương có người họ Dương sinh sống, thông báo và cùng trưởng ban liên lạc lâm thời các tỉnh  trực tiếp xuống các xã phường, kết nối và thành lập tổ chức họ Dương các tỉnh từ Huế ra Bắc. Ban liên lạc và chủ tịch nhiều họ do một tay ông sắp xếp, đó là: Dương Anh Dũng- chủ tịch ở Hải Phòng; Dương Văn Vang- chủ tịch ở Thái Bình, Dương Văn Thanh- chủ tịch ở Hà Nam, Dương Thế Thịnh- chủ tịch họ Dương xứ Đoài (Tây Hà nội ), Dương Đinh Phấn- chủ tịch ở Hòa Bình, Dương Văn Tiệp- chủ tịch ở Hải Dương, Dương Lạc- chủ tịch ở Kinh Bắc, Dương Văn Canh- chủ tịch ở Hà Nội. Ngoài ra còn mời bác Dương Công Hạnh và nhờ bác dịp sang Đức thành lập họ Dương tại Đức và Séc.

Dương Phúc Hiệu lăn lộn với phong trào của họ, không nề hà vất vả cùng Chủ tịch Ban Liên lạc lâm thời Hải Phòng đến từng huyện Vĩnh Bảo Kiến Thụy, Thủy Nguyên tuyên truyền đến từng chi họ. Ông đã đặt viên gạch đầu tiên kết nối và thành lập Hội đồng Họ Dương Hải Phòng từ năm 2011. Trên đà đó đã kết nối rộng rãi gần 30 chi họ như ngày nay.

Theo PGS,TS,NGƯT Dương Như Xuyên – Trưởng ban Liên lạc họ Dương Nghệ An (tại lễ kỷ niệm 1190 năm ngày mất của Dương Thanh): “Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc đã giao cho Ban Liên lạc họ Dương Nghệ An tổ chức xây dựng đền thờ Dương Thanh trên đất Hoan Châu. Qua nhiều lần họp bàn và chọn lựa, đã thống nhất xây dựng đền thờ Dương Thanh tại xóm 7, xã Thuận Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Ông Dương Phúc Hiệu- hậu duệ đời thứ 14 của Trạng nguyên Dương Phúc Tư đã hiến tặng trên 1000 m2 đất ở, mua dựng một nhà gỗ 3 gian làm nơi thờ cụ Dương Thanh và các bậc tiên hiền, đồng thời mua đá khắc bia vinh danh các vị danh nhân, tiến sĩ, trạng nguyên của dòng họ”.

Ngày 25-10-2009, kỷ niệm 1190 năm khởi nghĩa Dương Thanh và khánh thành đền thờ, ông Dương Xuân Thìn – Phó Chủ tịch Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc về dự, đã tuyên dương nghĩa cử của ông Dương Phúc Hiệu với người họ Dương cả nước. Năm 2014, Hội đồng họ Dương Việt Nam và họ Dương cả nước đã về dự lễ long trọng kỷ niệm ngày mất của Dương Thanh và 5 năm xây dựng đền thờ.

Hiện nay, ông Dương Phúc Hiệu đã kêu gọi các cá nhân có tâm công đức được trên 2 tỷ để nâng cấp đền thờ Dương Thanh. Gần đây do tuổi đã cao, sức khỏe đã giảm, ông xin về nghỉ tại xóm 7, Thuận Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Ngày ngày hương đăng thờ phụng tại đền thờ, nhưng vẫn nhận trách nhiệm kết nối các huyện Tây Nghệ An và tham gia các hoạt động của họ Dương các tỉnh: Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa.

Dương Phúc Hiệu là người con ưu tú của dòng họ, là một trong những vị  đã có công đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho họ Dương Việt Nam phát triển mạnh mẽ như ngày nay.

28. Dương Thu Hương

Dương Thu Hương sinh năm 1947 tại Thái Bình, sống ở Hà Nội. Năm 1967, bà tình nguyện tham gia Thanh niên xung phong. Bà tham gia phong trào Tiếng hát át tiếng bom, phục vụ trong một đoàn văn công tại Bình Trị Thiên. Bà là một trong bốn người trong đoàn sống sót trở về.

Sau chiến tranh, trở ra Bắc, bà cầm bút viết văn và công tác trong ngành điện ảnh. Bà tham dự khóa đầu tiên Trường Viết văn Nguyễn Du (1980). Các tác phẩm của bà nhanh chóng nổi tiếng và nằm trong số những tác phẩm được nhiều người đọc nhất lúc đó trong phong trào Cởi mở. Bà từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đã bị khai trừ khỏi Đảng vào năm 1989 do không tuân thủ Điều lệ Đảng và kêu gọi người dân lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các tác phẩm của bà hiện nay không được phép lưu hành tại Việt Nam vì lý do chính trị. Bà đã từng phải vào tù do viết sách và phát biểu phê phán việc áp dụng chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam, kêu gọi người dân lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam. 6 tác phẩm (truyện) của bà được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức nhưng bản tiếng Việt thì khó tìm thấy. Đặc biệt, với cuốn Chốn vắng, bà đã lên truyền hình Pháp TF1. Đây được xem là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của bà, nằm trong danh sách đề cử giải Femina và nhận Giải thưởng lớn của tạp chí Elle.

Trong tháng 4 năm 2006, bà được mời sang Paris (Pháp) và sau đó sang New York (Mỹ) dự một hội nghị Văn bút Quốc tế, chuẩn bị viết thêm tác phẩm mới, và cũng để ra mắt bạn đọc khắp nơi. Kết thúc chuyến đi này, bà trở lại Pháp xin lưu trú, nói là để tiếp tục sáng tác và không can dự vào chính trị nữa.

Giữa năm 2008, bốn tác phẩm của bà đã được đưa vào bộ sách Bouquins ở Pháp: Bên kia bờ ảo vọngNhững thiên đường mùTiểu thuyết vô đề và Chốn vắng.

Năm 2009, Dương Thu Hương được GS.TS. Joseph Pivato, dạy môn văn chương Anh ngữ tại đại học Athabasca ở Alberta, Canada đề cử vào danh sách thẩm xét cho giải Nobel văn chương của năm.

Dương Thu Hương là văn sĩ tài năng, bà đã cống hiến công sức cho cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Song sau ngày chiến thắng, trong khó khăn chung của đất nước thời hậu chiến, bà đã không thông cảm thấu hiểu và chia sẻ với quê hương, dân tộc, bà đã hướng ngòi bút đi theo ngả khác, và xa rời đường đi chung. Được văn học thế giới đón nhận và tung hô, song ngòi bút của bà xa lạ với quê hương và đất nước. Đây có phải là trái cây hư trong vườn cây họ Dương và Tổ quốc? Song ta vẫn trân trọng tài năng văn học của một nữ văn sĩ họ Dương.

  1. Dương Xuân Nam

Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh) sinh 1948, quê tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

Ông là người có tên trong “Danh nhân văn hóa thế giới” (khu vực Châu Á Thái Bình Dương).

Dương Xuân Nam là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập báo Tiền Phong, Trưởng ban Tổ chức kiêm Chủ tịch Hội đồng giám khảo các cuộc thi hoa hậu Việt Nam từ 1988 đến 2008.

Là nhà thơ, nhà văn tài hoa, ông đã có những tác phẩm:

* Thơ: Và anh đợi-1987, Đi qua thời gian-1992, Miền ký ức-2001, Thơ Dương Kỳ Anh-2005

* Truyện ngắn: Dang dở một chuyện tình-1989, Bông hoa lạ-1994, Bài phóng sự-2000, Bức ảnh thứ hai-2001, Chị Huệ làng Tảo Trang-2003, Người lấy hai vua-2012

* Tiểu thuyết: Xuyên Cẩm-2004, Thổ Địa-2006, Cõi ta bà-2008.

* Phóng sự ghi chép:-Đến quê hương Đức Phật-2011

* Thể loại khác: Hoa hậu Việt nam những điều chưa biết-2007, Ai là người giàu nhất Việt Nam-2005.

Trong hoạt động xã hội và sáng tác, ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học, báo chí ở Trung ương và địa phương: Giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội-1988, Giải thưởng bài thơ hay do Báo Nhân dân tuyển chọn năm 1988, Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Du cho tiểu thuyết “Xuyên Cẩm”-2005.

Một người trai họ Dương, hào hoa tài năng, hoạt động trong lĩnh vực và môi trường văn hóa, Dương Kỳ Anh là người có nhiều tác phẩm văn học, góp phần tôn vinh cái đẹp của người con gái Việt Nam thăng hoa với xã hội trong nước và thế giới.

30- Dương Văn Hướng

Dương Văn Hướng, bút danh Dương Hướng, sinh ngày 8/7/1948 tại thôn An Lệnh, xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy,  tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Năm 1965 tình nguyện đi công nhân quốc phòng làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa lương thực trên tuyến khu 4 phục vụ cho chiến trường miền Nam.

Năm 1971 vào bộ đội chiến đấu tại chiến trường quân khu 5.

Năm 1976 ra quân, chuyển ngành về Cục Hải quan Quảng Ninh và đã nghỉ hưu năm 2008. Hiện nay đang làm biên tập Báo Hạ Long.

Rời chiến trường, về với công việc thời bình, những tích lũy trong chiến tranh trào lên ngòi bút, Dương Văn Hướng bắt đầu viết văn.

Từ năm 1985, ông liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị:

  1. Gót Son- tập truyện, xuất bản năm 1989
  2. Bến không chồng, Nhà Xuất bản Tác phẩm mới, năm 1990, được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Ý, tái bản 11 lần. Đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 1991. Được chuyển thể thành phim nhựa dự liên hoan phim quốc tế Thái Bình Dương và liên hoan phim Đức.
  3. Trần gian đời người- tiểu thuyết, Nhà Xuất bản Thanh niên, 1991
  4. Người đàn bà trên bãi tắm, tập truyện, Nhà Xuất bản Công an nhân dân
  5. Tuyển chọn Dương Hướng, Nhà Xuất bản Thanh niên, 1997
  6. Dưới chín tầng trời, tiểu thuyết, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2007

Đặc biệt tác phẩm “Bến không chồng” nói về di họa của chiến tranh thấm đẫm chất nhân văn, đã có tiếng vang lớn trong và ngoài nước, được chuyển thể thành phim nhựa đoạt nhiều giải thưởng.

Dương Văn Hướng đã gặt hái được nhiều thành quả quý báu, nhiều giải thưởng đáng trân trọng:

  1. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991 với tiểu thuyết “Bến không chồng”.
  2. Giải thưởng Tạp chí Văn nghệ quân đội với truyện ngắn Đêm trăng.
  3. Giải A Văn nghệ Hạ Long với tập truyện “Người đàn bà trên bãi tắm”.
  4. Tặng thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Đất Quảng với truyện ngắn “Quãng đời còn lại” năm 1987.
  5. Tặng thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn nghệ quân đội với tác phẩm “Người mắc bệnh tâm thần” năm 1989.
  6. Tặng thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn nghệ quân đội với tác phẩm “Bến khách” năm 2007.
  7. Giải thưởng cho tác phẩm hay 20 năm về nông nghiệp nông thôn với tiểu thuyết “Bến không chồng” năm 2012.
  8. Giải A văn nghệ Hạ Long năm 2012 với tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời”.

Dương Văn Hướng người họ Dương được tôi luyện trong cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, là cây bút tài hoa đã cống hiến cho cuộc đời nhiều tác phẩm có giá trị.

  1. Dương Thanh Biểu

Dương Thanh Biểu sinh năm 1950, quê làng Ngũ Phúc, xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Sinh ra và lớn lên ở làng quê “nghèo khó lam lũ trong cảnh thiên nhiên xứ Nghệ thơ mộng nhưng cũng rất khắc nghiệt”, cuộc đời đã cho chúng ta một Dương Thanh Biểu, một chiến sĩ, một tiến sĩ luật, một nhà văn, nhà báo, một con người chân chính.

Tham gia quân ngũ, ông đã trải qua nhiều cương vị, chức vụ công tác, như: Đại đội trưởng Đại đội Chủ công bộ binh, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28, Sư đoàn 10, Binh đoàn Tây nguyên.

Về đời thường, là một thương binh, ông lao vào trau dồi tri thức, tốt nghiệp đại học và lấy tiếp bằng tiến sĩ luật.

Tháng 12 năm 1974, Dương Thanh Biểu tham gia công tác ở ngành Kiểm sát nhân dân,  hoạt động liên tục hơn 35 năm trong ngành. Năm 2000, Dương Thanh Biểu được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam, ông nghỉ hưu năm 2010.

Giữ cương vị điều tra viên cao cấp, Dương Thanh Biểu ấn tượng nhất là được tham gia tố tụng trong các kỳ án Tạ Định Đề, vụ đại án tham nhũng Lã Thị Kim Oanh, vụ án Vũ Xuân Trường buôn bán ma túy và vụ Năm Cam…

Ông đã để lại dấu ấn về trí tuệ và nhân văn cho đương sự cũng như cho toàn thể những người dự khán phiên tòa và trong dư luận xã hội.

Trong sự nghiệp tham gia cách mạng của mình, ông đã kinh qua các chức vụ: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình; Vụ trưởng Vụ an ninh Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Tổng Biên tập Báo Bảo vệ pháp luật; Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Trải qua nhiều vị trí công tác, ông đã thể hiện được vai trò cao cả của người cán bộ kiểm sát luôn “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Những năm cuối còn công tác và khi đã nghỉ hưu, Dương Thanh Biểu vẫn miệt mài với công việc vừa hoàn thành chức nghiệp vừa tổng kết thực tiễn; để viết các cuốn sách chuyên khảo về nghiệp vụ kiểm sát, và nhiều tác phẩm văn học tư pháp.

Dương Thanh Biểu đã chủ biên và xuất bản các tác phẩm có giá trị:

– Tuyển chọn các quyết định giám đốc thẩm (NXB CAND năm 2007)

– Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm (NXB Tư pháp năm 2007)

– Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm (NXB Tư pháp năm 2008).

– Thông báo rút kinh nghiệm kiến nghị nghiệp vụ của các Viện Phúc thẩm. (NXB Tư pháp năm 2008).

– Thông báo giải quyết án và quyền phụ nữ (VKSNCTC năm 2009)

– Kỹ năng thực hành quyền công tố và KSXX vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm (NXB Tư pháp năm 2010)

– Một thời trận mạc – Tập hồi ký (NXB Hội Nhà văn năm 2011).

-Theo dòng công lý – Tập truyện ký (NXB Hội Nhà văn năm 2012).

– Tạ Đình Đề những góc khuất cuộc đời – Tập truyện ký (NXB Hội Nhà văn năm 2014)

– Miền sáng tối- Tiểu thuyết (NXB Hội Nhà văn năm 2017)

– Từ cuộc chiến đến cuộc chiến- Tập truyện ký (Nhà Xuất bản Quân đội)

Tuy viết về vụ án, về kiểm tra, điều tra, về tư pháp, nội chính, nội vụ với mảng đề tài khô khan… nhưng lời văn của ông vẫn có sức cuốn hút, sâu sắc và thấm đẫm chất nhân văn.  Cây bút Dương Thanh Biểu chẳng hề kém cạnh một nhà văn tên tuổi nào.

Tác phẩm của ông rất bổ ích với ngành Tư pháp, Nội chính, các cơ quan công quyền và mỗi cán bộ đảng viên đang ra sức chỉnh đốn Đảng, quyết liệt đấu tranh chống “Tự suy thoái”, “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”… và chống tham nhũng, thực hiện kiểm soát quyền lực, giữ vững niềm tin yêu với Đảng cầm quyền.

Đặc biệt trong thời gian qua, Dương Thanh Biểu cũng đã tích cực tham gia hoạt động xây dựng dòng tộc. Hiện nay, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng họ Dương Việt Nam.

Về với dòng họ, ông thể hiện mình là người họ Dương nhiệt huyết, hào hoa phong nhã, làm thơ giỏi, hát hay nhưng cũng rất khiêm tốn, thương người. Ông đã hoàn thành nhiều trọng trách của dòng họ giao. Kết quả đáng ghi nhận là ông đã tham gia soạn thảo Điều lệ họ Dương, có thời gian làm Trưởng Ban KHKT và mừng thọ, Trưởng Ban Thông tin truyền thông, làm tốt vai trò Trưởng ban Quản lý xây dựng đền thờ Đại tướng Dương Thanh tại Nghệ an và trùng tu Khu Lăng miếu Bình Vương Dương Tam Kha tại Thanh Hóa.

Dương Thanh Biểu đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của một người con với nhân dân,với Tổ quốc và dòng họ.

32- Dương Đoàn Trọng

Dương Đoàn Trọng sinh năm 1950, quê Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Nội.

Tuổi trẻ ông đã tham gia quân đội, nay về đời thường là cựu chiến binh tham gia xây dựng kinh tế quê hương.

Có năng khiếu thơ ca từ rất sớm, tuổi thanh niên, ông đã có thơ và là thơ hay được đăng trên sách báo từ những năm 1974.

Dương Đoàn Trọng là người yêu thơ và làm thơ trước hết là cho mình và tặng bè bạn, người yêu thơ. Ông sáng tác nhiều và là cây bút khỏe. Ông có nhiều thơ đăng tại các báo, các tập san và in chung cùng nhiều tác giả. Năm 2018, ông xuất bản riêng tập thơ Bến xưa (NXB Hội Nhà văn).

Trong cuộc thi thơ “Tổ quốc và Đạo pháp” toàn quốc từ 2012-2018, ông đã đoạt giải cao “Lục bát trăng vàng”. Hiện Dương Đoàn Trọng đã nổi tiếng và là nhà thơ tài hoa, Chủ tịch CLB thơ Đường luật Chương Mỹ thuộc CLB thơ Đường luật Hà Nội.

Sinh hoạt trong môi trường thi ca, ông có rất nhiều bài in tại ấn phẩm “Tác phẩm mới” và có bài tại các tập san và xuất bản thơ in chung với nhiều tác giả ở cả Trung ương và địa phương. Nhất là từ 2013-2019, ông luôn có nhiều bài thơ chất lượng đăng trong tuyển tập thơ “Lộc Phát”. Ông nói nếu in riêng thì bây giờ ông đã có 5 tập thơ dày dặn rồi.

Thơ Dương Đoàn Trọng, một giọng thơ lạ, trữ tình bay bổng hào hoa, bài nào, tác phẩm nào cũng được độc giả vui mừng đón nhận. Thơ ông đã đạt đến tầm cao nghệ thuật, xứng đáng ngồi chiếu trên của thi đàn.

Ông chia sẻ, mình chỉ làm thơ vì yêu thơ thôi, không là nhà thơ gì cả. Song cái khiêm nhường ấy đã nâng ông và thơ ông lên một tầm cao trong lòng bạn bè, thi nhân thi hữu.

Dương Đoàn Trọng là người họ Dương tài hoa đã góp hồn thơ vào bầu trời thơ dân tộc. Cũng như nhiều người họ Dương tài năng khác, có lẽ đấy là di sản do tổ tiên để lại cho cháu con trong dòng tộc  hào hoa.

33- Dương Phượng Toại

Dương Phượng Toại (bút danh Cẩm Phượng), sinh: 27-6-1950, quê: Cẩm La- thị xã Quảng Yên- Quảng Ninh.  Hội viên Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh.

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê sông nước, nơi đầu sóng ngọn gió, mỗi khúc sông, con sóng đều in đậm dấu ấn hào hùng thuở cha ông. Hào khí Bạch Đằng Giang ba lần chiến thắng giặc phương Bắc, chiến tích lẫy lừng của Ngô Quyền, Lê Hoàn, Hưng Đạo Vương đã in đậm trong ông lòng tự hào dân tộc.

Mỗi ngọn cỏ, lá cây, con sóng, khúc sông, mảnh ruộng đã thổi vào tâm hồn ông một tình yêu quê hương đất nước. Cái tình ấy đã thăng hoa trong tâm hồn ông, trào lên ngọn bút thành các áng văn thơ bất tận.

Ông là nhà văn, nhà thơ dân dã mộc mạc mà tinh tế mang tính nghệ thuật cao.

Ông sáng tác khỏe, đều tay, đa thể loại. Ông đã xuất bản:

– Tiếng còi gốc rạ, tập thơ, Hội VHNT Quảng Ninh 1997

– Làng bây giờ, tập truyện và ký, NXB Hội Nhà văn 2005

– Người đàn bà cọp vồ, tập truyện ngắn, NXB Văn học 2008

– Cánh đồng &Ngọn lửa, tập thơ, NXB Văn học 2009

– Lục bát sóng đôi, tập thơ,  NXB Văn học 2009

– Khát vọng Bạch Đằng. tập thơ, NXB Văn học 2010

– Cỏ ngũ sắc, tập thơ, NXB Văn học 2011

– Thăm thẳm miền sông, tập bút ký&tản văn, NXB Văn học 2012

– Ngấn phù sa, tập thơ, NXB Văn học 2013

– Dưới ngực trăng rằm, tập thơ, NXB Văn học 2015

– Từng giọt trăng đong, tứ bình thơ, tập thơ, NXB Hội Nhà văn 2017

– Người của Phật, tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn 2018

– Chuyện tình miền nắng xanh, tập truyện ngắn, NXB Thanh Niên 2020

– Về miền Bến Ngự Sông Chanh, tập bút ký, NXB Thanh niên 2020

Ngoài tác phẩm trên, ông còn in chung với các tác giả khác vài chục đầu sách và tập san…

Dương Phượng Toại đã gặt hái được nhiều thành quả:

* Giải Ba Báo Thanh niên và Tuổi xanh – Cuộc thi viết về Vượt lên số phận – 1999

* Giải A – thơ, truyện ngắn và ký- Báo Hạ Long- Hội VHNT Quảng Ninh 2004

* Giải B – Thơ Lê Thánh Tông – 2005

* Giải Khuyến khích Văn nghệ Hạ Long lần thứ VI-2006

* Giải A – Văn Nghệ Bạch Đằng lần thứ I

* Giải B – Thơ Lê Thánh Tông, Quảng Ninh 2006

*Giải Khuyến khích với tác phẩm: VỌNG PHU THỜI @

* Giải Nhì Văn nghệ Hạ Long lần thứ VII (2006-2011)

* Giải Ba thi Bút ký Báo Quảng Ninh cuối tuần 2012

* Giải Khuyến khích VHNT&BÁO CHÍ

* Giải Ba báo chí Quảng Ninh năm 2014

* Giải A – VĂN NGHỆ BẠCH ĐẰNG GIANG lần thứ II (2010-2015)

Dương Phượng Toại là người họ Dương cần mẫn thâm canh và gặt hái nhiều thành quả trên cánh đồng văn thơ của dân tộc. Thơ ông hào sảng mặn mòi sóng gió Bạch Đằng Giang một thuở, mang một hồn thơ đầy trí tuệ, ăm ắp tình yêu quê hương đất nước.

Ông quan tâm chăm lo đến dòng họ Dương, vào các dịp kỷ niệm, lễ hội và sinh hoạt mọi mặt, một tay ông lo liệu chu toàn. Ông là một người họ Dương chỉn chu và tài hoa.

  1. Dương Hồng Tuyển

Dương Hồng Tuyển (Đào Hồng Tuyển), sinh năm 1954, quê tại thị xã Quảng Yên. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Tuần Châu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cựu chiến binh Đoàn tàu Không số Việt Nam. Ông được nổi tiếng bởi sự giàu có với vai trò “chúa đảo” Tuần Châu tại Quảng Ninh.

Dương Hồng Tuyển sinh ra và lớn lên trên đất Quảng Yên nhưng lại lập nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng.

Năm 1969, khi mới 15 tuổi, Đào Hồng Tuyển gia nhập Đoàn tàu Không số hoạt động dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.

Năm 1979, tham gia quân tình nguyện chiến đấu ở chiến trường Campuchia ở độ tuổi 25.

Sau khi xuất ngũ, ông từng làm nhiều nghề khác nhau và là chủ sở hữu của 34 nhà máy, xí nghiệp trong lĩnh vực nước giải khát và phân bón rồi chuyển sang lĩnh vực làm bánh kẹo, làm giấy trước khi đảm nhận các chức vụ: Phó Tổng Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Trung ương Đoàn, Giám đốc Trung tâm Chuyển giao và xuất nhập khẩu công nghệ, Phó Chủ tịch Hội Phân bón Việt Nam. Sau đó, ông tách ra tự thành lập Công ty TNHH Âu Lạc mà ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Vào những năm đầu thập kỷ 90, Đào Hồng Tuyển mua lại những nhà xưởng từ chế độ cũ và xây dựng nhà máy sản xuất nước giải khát, phân bón… Ông từng nắm tới 80% thị phần nước giải khát ở miền Nam và có một số sản phẩm nổi tiếng ở miền Bắc. Về sau, Dương Hồng Tuyển từ thành phố Hồ Chí Minh ra miền Bắc, thành lập Công ty TNHH Âu Lạc mà ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Năm 1998, ông đầu tư Dự án xây dựng khu đô thị – du lịch – giải trí quốc tế tại đảo Tuần Châuvịnh Hạ Long, Quảng Ninh theo phương thức dùng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng với số vốn đầu tư hơn 400 triệu USD. Sau 13 tháng lấn biển, con đường đầu tiên nối đất liền với đảo được hoàn thành. Sau đó, ông xây dựng một loạt các khu vui chơi giải trí biến đảo Tuần Châu thực sự thành “Ngọc Châu” như báo chí vẫn gọi xưa nay.

Dương Hồng Tuyển cũng là một người nổi tiếng với các dự án quỹ từ thiện:

– Ủng hộ các vùng bị bão số 7 năm 2005 một căn biệt thự mới xây chưa sử dụng và được bán đấu giá 12 tỷ đồng. Hiến tặng căn biệt thự trị giá 12 tỷ đồng cho Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bán đấu giá. Toàn bộ số tiền thu về được dùng để xây 800 căn nhà cho các nạn nhân trong cơn bão số 7.

– Đầu tư xây 150 căn nhà cho người nghèo và nhiều hoạt động từ thiện khác.

– Mua 3 triệu chiếc khẩu trang vải kháng khuẩn và ủng hộ 5 tỷ đồng trong đại dịch Covid – 19 cho nhân dân Quảng Ninh.

Ông còn lo cho nền di sản văn hóa của nước nhà, ngày 18-12-2019 đã đầu tư 20 tỷ cho viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia để phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Dương Hồng Tuyển sinh hoạt trong Hội đồng Họ Dương Việt Nam, ông tham gia ban lãnh đạo và phụ trách trong khối Doanh nghiệp Doanh nhân phát triển kinh tế. Ông cũng là một trong những nhà tài trợ lớn của họ Dương. Mỗi năm, ông đầu tư hai tỷ cho hoạt động của dòng họ. Ngoài ra còn ủng hộ các quỹ phát triển kinh tế và khởi nghiệp cho các doanh nghiệp trẻ.

  1. Dương Anh Điền

Dương Anh Điền sinh ngày 26 tháng 10 năm 1955, quê tại phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Ông mang họ Dương, một dòng họ lớn tại địa phương, trong một gia đình có truyền thống cách mạng.

Ông nội là Dương Văn Tuế và em ruột là Dương Văn Hoán (Thân sinh ông Dương Anh Dũng) tham gia đội cảm tử quân của làng Hàng ngay từ ngày đầu kháng chiến. Thân phụ ông là Dương Văn Bái – cán bộ cách mạng của Hải Phòng từ năm 1945, sau là Trưởng ban Giáo dục chuyên nghiệp, Phó ban Tổ chức chính quyền thành phố Hải Phòng, đảng viên 70 năm tuổi Đảng. Cụ Bái là Ủy viên Ban Liên lạc họ Dương Việt Nam, Chủ tịch Ban Liên lạc họ Dương Hải Phòng từ năm 1992. Chú ruột là Dương Thế Vĩnh – chiến sĩ Nam tiến hoạt động ở chiến trường Nam bộ, một chú nữa là Dương Thanh Lượng – trung tá quân đội, nguyên Bí thư Đảng ủy phường Dư Hàng Kênh, Chủ tịch Hội đồng Họ Dương phường Dư Hàng Kênh và  Chủ tịch Hội đồng Họ Dương liên quận Lê Chân – Hồng Bàng – Ngô Quyền  Hải Phòng. Chú họ là Dương Anh Dũng – nguyên Ủy viên Họ Dương Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng Họ Dương thành phố Hải Phòng, Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Dương liên quận Lê Chân – Hồng Bàng – Ngô Quyền, Hải Phòng

Thuở nhỏ, ông học tại quê nhà. Năm 1972, sau khi tốt nghiệp bậc Trung học tại Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Hải Phòng, ông được cử đi du học tại Trường Đại học Bách khoa Belorussia (Liên Xô cũ), ngành kỹ thuật điện. Ông tốt nghiệp kỹ sư điện tại đây vào năm 1979.

Sau khi về nước năm 1980, ông được phân công về làm việc tại Nhà máy Cơ khí chế tạo Hải Phòng, đảm nhận các chức vụ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đảng ủy viên Nhà máy. Năm 1986, ông được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội) và tốt nghiệp Cao cấp Chính trị tại đây vào năm 1988.

Sau khi tốt nghiệp Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, ông được phân công về Thành đoàn Hải Phòng, lần lượt giữ các chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Thành đoàn, Trưởng ban Công nghiệp và Nông nghiệp, Phó Bí thư Thành đoàn.

Năm 1992, ông được điều động làm Phó Trưởng ban Ngoại vụ Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Đến năm 1996, ông được điều sang công tác tại Văn phòng Thành ủy Hải Phòng, lần lượt giữ các chức vụ Phó Văn phòng, Chánh Văn phòng, Bí thư Đảng ủy cơ quan, Thành ủy viên khóa XI. Năm 2001, ông được bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khóa XII và được bổ nhiệm làm Bí thư Quận ủy Hồng Bàng.

Từ năm 2003 đến 2006, ông tái cử vào Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khóa XII, XIII, được bầu vào các chức vụ Phó Chủ tịch, rồi Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Từ năm 2006 đến tháng 12 năm 2010, ông được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hải Phòng, Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khóa XII, XIII. Từ năm 2007, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Tài chính -ngân sách của Quốc hội, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng khóa XII.

Ngày 9 tháng 12 năm 2010, Dương Anh Điền được Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng bầu giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Ngày 14 tháng 12, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn việc bổ nhiệm này.

Ngày 1 tháng 12 năm 2014, ông Dương Anh Điền được bầu giữ chức Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tại Đại hội Đảng bộ Hải Phòng tháng 10/2015, ông không tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ, nghỉ hưu theo chế độ bảo hiểm xã hội.

Dương Anh Điền đã được HĐHD Việt Nam tôn vinh tại lễ hội họ Dương  và trao tặng biểu tượng chữ Dương bộ mộc mạ vàng thiêng liêng cao quý của dòng họ.

Trong thời gian là cán bộ chủ chốt của thành phố Hải Phòng, Dương Anh Điền thể hiện là cán bộ liêm khiết, tài năng và đức độ, được nhân dân Hải Phòng yêu mến. Ông đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ cho sự phát triển mạnh mẽ của thành phố Hải Phòng, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, thu hút đầu tư.  Ông đã chỉ đạo xây dựng hoàn chỉnh cảng hàng không quốc tế Cát Bi, dải trung tâm của thành phố, sáng xanh sạch đẹp lộng lẫy khang trang, mang màu phượng vĩ nhuộm thắm bầu trời Hải cảng. Ông có đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng cảng cửa ngõ Quốc tế Hải Phòng ở Lạch Huyện, cầu vượt biển Tân Vũ – Cát Hải, đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, các khu công nghiệp lớn hiện đại Tràng Duệ, Đình Vũ, Việt Nam Singapore (Vsip). Ông không ngại ngần trực tiếp có mặt đối thoại tháo gỡ những bức xúc của quần chúng với những dự án lớn đụng chạm đến quyền lợi người dân ở Nhiệt Điện Tam Hưng, ở Bãi rác Tràng Cát. Đem lại lòng tin cho người dân với công cuộc phát triển kinh tế của Thành phố làm cho Hải Phòng xứng tầm đô thị loại I của đất nước.

Lời bàn: Tổ tiên dòng họ Dương rất linh thiêng đã phù trợ cho con cháu. Cụ Dương Văn Bái khi về hưu  làm chủ tịch gia tộc họ Dương Dư Hàng Kênh, cụ đã quan tâm huy động kinh phí tu tạo nâng cấp nhà thờ họ khang trang tố hảo, hàng năm tổ chức lễ trọng chạp tổ, con cháu trong họ được an khang thịnh vượng. Cùng với kinh nghiệm xây dựng chính quyền thành phố, cụ Bái có nghiệp vụ tổ chức đã cùng gia tộc quy hoạch cán bộ từ rất sớm, đầu tư cho ông Điền học hành chính quy bài bản cả trình độ chuyên môn và chính trị. Hướng nghiệp ông Điền không đi con đường kinh tế mà theo phong trào đoàn thể. Hoạt động đoàn thanh niên và các ban ngành trong bộ máy chính quyền thành phố. Từ đấy với tài năng và trí tuệ người họ Dương, Dương Anh Điền đã thành đạt đóng góp nhiều cho quê hương Hải cảng trên cương vị người đứng đầu một thành phố lớn thứ ba trong cả nước.

  1. Dương Đình Chiến

Dương Đình Chiến (Giáp Đình Chiến), sinh năm 1954, quê Nam Sơn, thành Phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Trú tại 170 Nguyễn Gia Thiều, khu 3 Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh.

Ông hoạt động trong ngành an ninh, Trưởng Công an Bắc Ninh, sau làm Vụ trưởng Ban Nội chính Trung ương.

Năm 2012 làm Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Kinh Bắc.

Năm 2013 làm Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Việt Nam khóa VI.

Dương Đình Chiến lãnh đạo Hội đồng Họ Dương Việt Nam rất nề nếp, hoạt động tốt. Ông viết kịch bản, dàn dựng thực hiện thành công 5 kỳ lễ hội mùa xuân của dòng họ. Trong công việc, ông luôn tận tụy, chỉ đạo sát sao mọi hoạt động của Hội đồng Họ Dương Việt Nam. Ông luôn quan tâm quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, trong đó điểm nhấn là lịch sử họ Dương và những danh nhân họ Dương.

Là nhà thơ họ Dương, có tác phẩm “Chiều nghiêng mái phố”, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn. Ông ít làm thơ, chỉ một tập thơ xinh sắn với 118 bài đã đưa ông xứng tầm là nhà thơ. Thơ ông tự sự, triết lý sâu sắc, không thiếu phần phiêu diêu lãng đãng. Bài thơ nào cũng đáng đọc, giọng lục bát mượt mà, dễ làm khó hay, song ở ông, bài nào cũng hay chứa đựng đầy ắp về tình cảm nhân duyên đời người. Thơ ông có những bài đã làm rung động tâm hồn các nhạc sĩ tài năng, phổ thơ thành những bài ca trữ tình sâu đậm. Nguyễn Cường, Bạch Đoàn, Trọng Tĩnh, Lê Minh, Ngọc Lĩnh đã phổ nhạc cho thơ ông, có bài được làm bài ca truyền thống của dòng họ. Có thể nói thơ ông không kém cạnh bất kỳ nhà thơ nào.

Nếu dành nhiều thời gian sáng tác, chắc ông sẽ hiến cho đời nhiều thơ hay hơn nữa. Ông là Chủ tịch HĐHDVN khóa VI, lãnh đạo dòng họ không mấy suôn sẻ. Ông nghỉ Chủ tịch Hội đồng họ Dương Việt Nam từ Đại hội năm 2018.

  1. Dương Xuân Quả

Dương Xuân Quả (Năm Nhã), sinh năm 1957, quê gốc ở xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, An Giang.

Ngay từ thuở nhỏ, ông đã bộc lộ năng khiếu về kỹ thuật điện và máy móc. Sau khi học hết lớp 9 trường Thánh địa Hòa Hảo, ông phải nghỉ học giữa chừng vì đã gần tuổi phải đi quân dịch. Như nhiều thanh niên quê, ông nghỉ học về nhà làm ruộng. Ông làm rất nhiều việc: làm ruộng, bơm nước thuê, nuôi vịt đẻ, tập hàn, làm thợ nhôm sắt, nấu rượu, mở tiệm cơ khí “Năm Nước”.

Thấy được sự cực nhọc của người nông dân, một nắng hai sương làm ra thóc gạo, mà cuộc sống còn nhiều khó khăn, ông phát hiện được cái vất vả và dễ làm hao hụt mất phẩm chất hạt gạo là khâu sau thu hoạch. Nhìn các núi lúa dần biến thành phân bón vì ẩm mốc, thối rữa vào những năm không thuận lợi, ông bắt tay vào nghiên cứu máy móc sấy hạt. Tìm ra khâu đột phá là bộ phận quạt lò còn bất hợp lý, ông đã tìm ra biện pháp sấy khô hạt thóc để giảm hao hụt và tăng chất lượng sản phẩm. Sau khi nghiên cứu cải tiến, ông đã thành công.

Từ một nông dân không bằng cấp, Năm Nhã trở thành một nhà sáng chế lò sấy lúa hiện đại, giảm chi phí về chất đốt, thời gian và công lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường.

Từ năm 2007, ông Năm Nhã thành lập Doanh nghiệp tư nhân Năm Nhã, với lĩnh vực kinh doanh chính là chuyên sản xuất máy sấy cải tiến không trở mẻ từ 2 đến 80 tấn. Ngày 2-7-2012, ông được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gửi thư khen.

Tại Gala Nhà sáng chế năm 2014 do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức, sản phẩm “lò sấy lúa” của Năm Nhã đã được chọn trao giải nhất bởi công nghệ xử lý sau thu hoạch.

Ngày 17/12/2014, doanh nghiệp Năm Nhã đã đạt giải nhất cuộc thi Nhà nông sáng chế năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ. Lò sấy của ông Năm Nhã hiện nay không những làm khô lúa, nếp mà còn cả bắp, đậu, khoai mì, mè, cà phê, tiêu…

Ông hiện là chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN) lò sấy cải tiến Năm Nhã tại phường Bình Đức (thành phố Long Xuyên, An Giang). Từ một nông dân, Năm Nhã là người say mê sáng chế và đã lắp ráp thành công hàng ngàn lò sấy lúa và các loại nông sản khác.

Từ năm 2002 đến nay, đội ngũ kỹ sư và công nhân DNTN Năm Nhã đã sản xuất gần 2.000 lò sấy cố định (xuất sang Campuchia 50 lò) và 20 lò sấy nổi lưu động. Mới đây, ông Năm Nhã còn chế tạo lò sấy mini nhỏ nhất ở Việt Nam (công suất 5kg/mẻ). Khách hàng chọn lò sấy cải tiến Năm Nhã không chỉ vì giá rẻ, mà còn vì thương hiệu, chất lượng; đặc biệt là giảm chi phí vận hành, góp phần tăng thêm lợi nhuận hằng năm gần 40% cho các doanh nghiệp so với các lò sấy thông thường có cùng công suất. Gần chục năm nay, ông đã lắp đặt gần 1.700 lò sấy cho bà con trong vùng và cả ở nước bạn Campuchia.

Một sáng tạo có tính đột phá của Năm Nhã, tạo nên và đưa ra thị trường một sản phẩm, một thương hiệu nổi tiếng, đó là gạo sữa, một loại gạo ngon nhất thế giới hiện nay. Kết hợp giữa biện pháp canh tác không dùng phân bón thuốc trừ sâu với công nghệ sấy độc đáo, đã cho ra sản phẩm gạo sữa, có màu trắng đục như sữa và trong từng hạt gạo có cả dưỡng chất của sản phẩm sữa vinamilk trong đó.

Ông đã bước đầu canh tác 48 ha lúa giống ON4900, chỉ bón lót bằng phân vi sinh Địa Nông, sau đó tiến hành phun ba lần hỗn hợp trứng và sữa vinamilk lên lá. Khi lúa chín tới, ông tiến hành sấy ngay, hạt gạo có màu sữa đạt tỷ lệ 97 %, không hạt gãy, độ ẩm 10% nên bảo quản được lâu. Đặc biệt gạo sữa nấu cơm thơm dẻo, để 2-3 ngày không thiu. Với công nghệ này, mỗi kg gạo có giá cao hơn gạo thông thường 5-10 ngàn đồng. Nông dân tăng thu nhập, cánh đồng sạch sâu bệnh.

Với công nghệ sản suất gạo sữa độc đáo, ông đã được cấp bằng sáng chế quốc gia. Ông sẽ tiến tới tăng diện tích sản xuất và mở rộng liên doanh với các hộ nông dân để tăng lượng sản phẩm gạo sữa cung ứng cho xã hội.

Năm Nhã được bà con trân trọng gọi là “ông vua lò sấy”, một tài năng của họ Dương trên mặt trận nông nghiệp. Ông còn là một người họ Dương yêu họ, đã giúp đỡ nhiều người trong họ vượt khó thoát nghèo.

Ông là người phía Nam duy nhất nhận thông tin của ông Dương Anh Dũng kêu gọi công đức cho việc xây dựng đền thờ Thần tướng Dương Ngọc  thời Hai Bà Trưng tại Hải Dương, đã cho con trai mang 2 triệu ra Hà Nội trực tiếp giao cho ông Dũng cung tiến để xây dựng đền.

Họ Dương Việt Nam tự hào có người nông dân bác học đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho nền kinh tế quốc gia, đó là Dương Xuân Quả.

  1. Dương Chí Dũng

Dương Chí Dũng sinh ngày 5 tháng 5 năm 1957 tại Hải Dương, ngụ tại số 2, ngõ 26, đường Nguyên Hồng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Dương Chí Dũng là con trai của ông Dương Khắc Thụ – nguyên Đại tá Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng trong thập niên 1970-1980.

Năm 1994, ông về làm cán bộ tại Tổng Công ty Xây dựng Đường thủy. Trong năm 1994, ông được đưa về Công ty Nạo vét sông 1 làm Phó Giám đốc, sau đó lên làm Giám đốc.

Ông học lớp tại chức ngắn hạn ngành Kinh tế vận tải biển (3 năm) tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp, ông làm luôn luận án Tiến sĩ tại Trường Đại học Thương mại.

Dương Chí Dũng được bổ nhiệm chức Tổng giám đốc Vinalines từ tháng 8/2005. Ngày 15-7-2007, ông được tặng Cúp vàng Doanh nhân tâm tài lần thứ nhất trong tổng số 113 người. Đến tháng 7/2011, ông Dũng được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị tổng công ty này. Ông Dũng cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương, Bí thư Đảng ủy Vinalines.

Đầu tháng 2/2012, ông được Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 142 cho thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines để Bộ trưởng Giao thông vận tải bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam.

Tuy nhiên, ông đã đi lệch quỹ đạo phát triển kinh tế của đất nước. Cục Cảnh sát phòng chống tham nhũng đã phát hiện những sai phạm trong việc thực hiện lắp đặt ụ nổi thuộc dự án nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía nam. Ông phải vướng vòng lao lý và nhận bản án tương ứng với sai phạm.

Vụ xử này được nhiều hãng thông tấn, báo chí lớn của nước ngoài đưa tin và nhận định bản án dành cho ông là một nỗ lực của Việt Nam trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Ông  là quả đắng trong vườn cây họ Dương, là bài học thấm thía cho mọi người.

  1. Dương Mạnh Hùng

Dương Mạnh Hùng sinh ngày 15/6/1959 ở số 35 phố Lãn Ông (Hoàn Kiếm, Hà Nội) trong một gia đình 3 đời làm nghề Đông y. Cụ nội nguyên là Ngự y triều đình Huế, đã từng chữa bệnh cho bà Từ Dũ.

Dương Mạnh Hùng cũng được theo nghề thầy thuốc gia truyền của cha ông. Vào năm 20 tuổi, Dương Mạnh Hùng đột nhiên lên cơn sốt cao, tưởng không qua khỏi. Sau khi đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức, ông tỉnh lại và trở về đời sống bình thường.

Cũng từ đó, ông ngạc nhiên khi thấy mình xuất hiện khả năng đặc biệt, khi có người bắt mạch cổ tay (mạch Thái tố) chữa bệnh là ông lại nghe thấy những tiếng vọng khi tỏ, khi mờ, thì ra đấy là ánh hồi quang của thế giới bên kia. Ông giao tiếp và nhận được thông tin từ người đã khuất để tìm mộ. Ông đã tìm được nhiều mộ cho mọi người.

Ông đã cùng nhóm nghiên cứu trong bộ môn Cận tâm lý do Nguyên Thiếu tướng Chu Phác làm trưởng đoàn lên định tên cho mộ liệt sỹ vô danh tại Điện Biên Phủ. Đồng thời thực hiện đề tài “Người chết đi tìm người sống”…

Có lần Dương Mạnh Hùng đang “giao tiếp với hương linh liệt sĩ” tại Mường Thanh, Điện Biên, bát hương “hoá” đùng đùng khi ông vừa khấn xong.

Tại Hội thảo khoa học do Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam tổ chức ngày 12,13/11/2004, Dương Mạnh Hùng có một báo cáo gây xúc động cả khán phòng khi kể về những kết quả ông đã thực hiện.

Dương Mạnh Hùng là nhà ngoại cảm của họ Dương có thực tài, ông muốn chuyên tâm chữa bệnh cho mọi người, khi có điều kiện và cơ duyên thì giúp đời trong lĩnh vực tâm linh.

40- Dương Nguyệt Ánh

Dương Nguyệt Ánh sinh năm 1960, là dòng dõi cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, cùng vai vế với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và giáo sư Dương Thiệu Tống.

Dương Nguyệt Ánh rời Việt Nam hồi năm 1975, khi còn là một nữ sinh 15 tuổi mới học lớp 9 trường Lê Quý Đôn, Sài Gòn, để cùng gia đình sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ, với số vốn tiếng Anh chỉ có “vỏn vẹn 50 từ”. Bà đã nghe theo lời thân phụ để theo học khoa học, mặc dù ôm giấc mộng theo văn chương từ tấm bé.

Dương Nguyệt Ánh tốt nghiệp  Đại học Maryland ngành kỹ sư hóa họckhoa học điện toán và quốc gia hành chính. Bà được tuyển vào làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu của Hải quân Maryland. Trong Bộ Hải quân Hoa Kỳ, Dương Nguyệt Ánh nhậm chức Giám đốc Khoa học và Kỹ thuật của chi nhánh Indian Head Division thuộc Trung tâm Vũ khí Hải quân Hoa Kỳ tại Maryland, trong tiểu ban chất nổ. Bà từng là người đại diện cho Hoa Kỳ trong lãnh vực chất nổ tại Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Sau biến cố 911, (ngày 11-9-2001, tòa tháp đôi bị đánh sập), Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ quyết định tìm một vũ khí mới có khả năng huỷ diệt hang động nơi quân khủng bố trú ẩn. Nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã có sáng kiến chế tạo loại bom Áp nhiệt để đáp ứng yêu cầu này. Bà lãnh đạo gần 100 khoa học gia, kỹ sư để hoàn thành công trình này chỉ trong vòng 67 ngày.

Năm 2002, bà được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Giám đốc Khoa học và Kỹ thuật của Trung tâm Nghiên cứu và chế tạo vũ khí Hải quân tại Maryland.

Năm 2005, bà được cử về Bộ Quốc phòng Mỹ làm cố vấn khoa học cho Phó Đề đốc Hải quân Hoa Kỳ về thông tin và chiến thuật. Đồng thời bà  đặc trách về kế hoạch và chiến lược cho Tổng giám đốc, Chỉ huy trưởng cơ quan Điều tra tội phạm và phản gián của Hải quân.

Năm 2008, bà được bổ nhiệm làm Giám đốc An ninh Biên giới và Lãnh hải thuộc Nha Khoa học và Kỹ thuật của Bộ Nội an Hoa Kỳ.

Trong suốt 24 năm đóng góp về khoa học và kỹ thuật cho quốc phòng Hoa Kỳ, bà liên tiếp gặt hái nhiều thành quả lớn lao và từng được Hải quân trao tặng nhiều giải thưởng lớn.

Tháng 9-2007, trong 1,9 triệu quân nhân, 600 người được đề cử trao huy chương Phục vụ quốc gia về an ninh, bà Ánh là một trong số 9 người được vinh dự nhận huy chương cao quý này.

Dương Nguyệt Ánh là một khuôn mặt quen thuộc trong cộng đồng, bà từng tham gia những sinh hoạt về mặt khoa học, chính trị cũng như giải trí qua vai trò MC ở các show, video hay các công tác gây quỹ từ thiện. Dương Nguyệt Ánh là một người phụ nữ họ Dương đầy tài năng. Họ Dương tự hào có người con như thế.

41-Dương Văn Chiến

Dương Văn Chiến sinh năm 1960, quê gốc Thanh Hóa ra Kinh Bắc được 7 đời, sinh tại Cung Kiệm – Bắc Ninh, cư trú tại Bắc Giang, nguyên là Phó Chủ tịch HĐHD Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Xây dựng Hải Âu, có địa chỉ tại phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang.

Dương Văn Chiến là một doanh nhân bươn trải trong cuộc sống. Qua hơn nửa đời người, từng bôn ba khắp nơi, làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Có lúc bế tắc đã đứng trên bờ vực của sự phá sản nhưng ông không bao giờ nản chí. Khát vọng vươn lên làm giàu như một ngọn lửa luôn cháy trong tim ông mỗi ngày một nóng.

Tuy doanh nghiệp của ông đã qua kinh doanh rất nhiều ngành nghề, từ đun gạch, làm mộc, kinh doanh sắt thép, xăng dầu, chế biến nông sản, rồi mở cả nhà hàng, khách sạn, thi công xây lắp mặt bằng, song không có kết quả như mong muốn.

Thế rồi đất nước mở cửa phát triển, nền kinh tế thị trường như cơn gió mát thổi luồng sinh khí mới cho các doanh nghiệp được tự chủ năng động trong sản xuất kinh doanh.

Nghiên cứu về sự xây dựng và vận hành chợ trong và ngoài nước, ông đã nhận ra cần phải có một “cuộc cách mạng” tổ chức sắp xếp quy hoạch lại chợ ở Việt Nam.

Ông mạnh dạn bước vào con đường đầu tư xây dựng chợ, bắt đầu là chợ Hà Vị, đến nay ông đã và đang đầu tư xây dựng, quản lý và khai thác hơn 10 chợ với cả ngàn ki ốt, điểm kinh doanh văn minh, lịch sự.

Ngày14/01/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2003/NĐ-CP phát triển và quản lý chợ. Theo đó, các thành phần kinh tế được tham gia đầu tư xây dựng quản lý và khai thác chợ, đây là một lĩnh vực từ trước đến nay gần như bỏ ngỏ.

Sau khi nghiên cứu kỹ văn bản này, ông nhận thấy thời cơ đã đến, Dương Văn Chiến cùng Ban lãnh đạo Công ty quyết định tập trung hơn 90% công việc kinh doanh của doanh nghiệp vào khai thác tiềm năng xây dựng và quản lý chợ.

Năm 2004, Công ty đã đầu tư gần 20 tỷ đồng xây dựng chợ Hà Vị. Sau khi xây dựng và khai thác có hiệu quả, Công ty đã mở rộng địa bàn đầu tư xây dựng hơn 10 chợ tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương tạo hàng nghìn ki ốt, điểm bán hàng, giải quyết hàng chục triệu ngày công lao động, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân. Đó là các chợ Ngụ, xã Nhân Thắng; chợ Trung tâm huyện Gia Bình; chợ Trung tâm thị trấn Thứa huyện Lương Tài; chợ Trung tâm thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Tại Bắc Giang, công ty đang triển khai các dự án xây dựng chợ Chàng, xã Việt Tiến (Việt Yên); chợ Song Mai (thành phố Bắc Giang); chợ Cóc, xã Dĩnh Trì; chợ Nghĩa Hòa, xã Nghĩa Hòa (Lạng Giang). Từ đấy, cái tên “vua chợ” đến với ông tự lúc nào. Ông tự hào với hỗn danh đó như một phần thưởng cho đóng góp của ông với xã hội.

Cùng với xây dựng và kinh doanh chợ, ông đã lãnh đạo công ty mở rộng sang các dự án khác ngoài chợ như: Trung tâm vui chơi giải trí Bắc Giang, trạm dừng nghỉ, bến xe khách kết hợp kinh doanh dịch vụ tổng hợp, siêu thị và văn phòng cho thuê tại Quế Võ, trường THPT dân lập Hồ Tùng Mậu…

Trong 15 năm xây dựng và phát triển, một thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm như ông đã lái con thuyền Hải Âu đạt hết thắng lợi này đến thắng lợi khác và hiện vẫn đang căng buồm rẽ sóng vượt trùng khơi.

Ông đã được nhận rất nhiều phần thưởng: Cúp vàng, Bằng khen, Giấy khen… của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Lao động TBXH, Chủ tịch LMHTX Việt Nam, Chủ tịch UBND hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.

Dương Văn Chiến hiểu là thành công của ông và công ty không tự nhiên mà có, đó là kết quả tổng hợp ở phẩm chất con người được thăng hoa trong công việc. Cần phải hội tụ đủ 4 yếu tố “Tâm – Tài – Trí – Dũng” mới đạt được mục tiêu chính của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, giải quyết được 3 lợi ích làm giàu cho mình, cho Nhà nước và người lao động.

Doanh nghiệp Hải Âu hôm nay đã sải cánh vươn xa cùng đất nước để ngày mai hy vọng sẽ gặt hái được nhiều thành công mới.

Dương Văn Chiến từ ngày tham gia Hội đồng họ Dương Việt Nam, ngoài làm phó chủ tịch, ông còn luôn là con chim đầu đàn lãnh đạo khối doanh nghiệp doanh nhân họ Dương làm giàu cho dòng họ và đất nước.

42-Dương Công Minh

Ông Dương Công Minh sinh năm 1960, quê gốc từ Quảng Xương, Thanh Hóa về Bắc Ninh được 9 đời. Sinh quán của ông ở huyện Quế Võ, Bắc Ninh, tốt nghiệp Cử nhân chuyên ngành Vật giá năm 1984 tại Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế Quốc dân). Trước khi ra kinh doanh, ông Minh từng là thiếu tá và có hơn 13 năm làm quản lý tại các doanh nghiệp quân đội.

Từ lâu Dương Công Minh được biết đến với biệt danh “Minh Him Lam” nhưng trước đó từng có biệt danh “Minh Xoài”. Cái tên này bắt nguồn từ việc ông Minh kinh doanh xoài xuất khẩu sang Trung Quốc trong những năm đầu thập niên 1990.

Một biến cố lớn đã rẽ cuộc đời ông sang ngả khác, khó khăn trong buôn bán, lo thủ tục giấy tờ bán nhà, ông Minh đã nhận thấy những cơ hội làm giàu từ bất động sản. Những ý tưởng lúc đó về sau đã hình thành nên Công ty Cổ phần Him Lam – Him Lam Group, một trong những tập đoàn phát triển bất động sản lớn nhất Việt Nam cho đến hiện nay. Ông là Chủ tịch Hội đồng Quản trị các công ty và tổ chức kinh tế sau:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB)

Công ty cổ phần Chứng khoán Liên Việt (LVS)

 Công ty cổ phần Him Lam (HIMLAM)

– Công ty cổ phần Dụng cụ Thể thao Bảo Long

– Công ty cổ phần Liên Việt Holdings

– Công ty cổ phần Phát triển Xín Mần

Sở hữu số tài sản khổng lồ, ông Dương Công Minh vẫn được biết đến là người khá khiêm tốn và kín tiếng. Him Lam của ông Minh là một “ông lớn” trong lĩnh vực địa ốc, với hơn 30 đơn vị thành viên và công ty liên kết hoạt động trên nhiều lĩnh vực tập trung ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác.

Him Lam có vốn 6,5 ngàn tỷ đồng (trong đó ông Minh sở hữu 99%) đầu tư và xây dựng ngót nghét 100 dự án nhà ở, khu đô thị, khu du lịch với một số dự án lớn như: Him Lam Tân Hưng (quận 7, TP.HCM), Him Lam Riverside, Him Lam Chợ Lớn, Him Lam Phú Đông, sân gôn Long Biên, sân gôn Tân Sơn Nhất, dự án BT nút giao thông Long Biên, khai thác quỹ đất 20 ha ở Dương Xá (Gia Lâm) và 320 ha đất tại các phường Long Biên và Cực Khôi thuộc quận Long Biên, và 135 ha đất bãi sông Hồng.

Với triết lý “kinh doanh gắn với xã hội nên khi làm ra lợi nhuận, cần trả ơn nơi mình đang hoạt động”.

So với bất kỳ một cá nhân, doanh nghiệp nào hiến tặng cho các hoạt động từ thiện tại Việt Nam, ông Dương Công Minh và Him Lam đều vượt rất xa. Theo dự kiến, đến năm 2020, Tập đoàn Him Lam của ông Dương Công Minh sẽ tặng mỗi tỉnh thành trên toàn quốc một trường học mà số tiền bỏ ra cho mỗi điểm đều lên tới hàng chục tỷ, có nơi xấp xỉ 100 tỷ đồng.

Về nội dung này ông có câu nói rất vui mà lý thú, ông kinh doanh “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nên cách làm cũng khác. “Ở Việt Nam, giai cấp công nhân với nông dân làm chủ nên họ phải thích mình thì mới làm việc được nên mình phải lấy lòng họ”. Đến năm 2020, ông Dương Công Minh chạm mốc 60 tuổi. Với một công chức, đây là độ tuổi để họ có thể nghỉ ngơi, về vui vầy bên con cháu nhưng với một doanh nhân bản lĩnh như ông Minh, con đường phía trước hãy còn rất dài.

Dương Công Minh là người giàu có, thành đạt trong cuộc đời, song ông lại có tấm lòng bao la với dòng họ Dương hào hoa võ công văn trị của ông. Từ 12-2012, ông bắt đầu nhận tài trợ cho hoạt động Khuyến học – khuyến tài và mừng thọ của dòng họ, tiến tới tài trợ toàn diện trong mọi hoạt động trước mắt cũng như lâu dài của họ Dương.

Theo ông Dương Quốc Trọng- Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Dương cho biết, hiện nay trên cả nước có 1.522.000 người mang họ Dương, nếu tính thêm con dâu thì ước khoảng 1,8 triệu người (theo số liệu thống kê chính thức, họ Dương chỉ chếm 1% dân số, tính ra thì khoảng 1 triệu người). Khắp 64 tỉnh thành Việt Nam và một số nước trên thế giới đều có các Hội đồng Họ Dương kết nối và hoạt động dòng tộc.

Ông Dương Công Minh đã bỏ tiền riêng (các nhà tài trợ khác chỉ đóng góp một phần) để tài trợ mọi hoạt động của dòng họ. Từ năm 2019, Hội đồng Họ Dương Việt Nam sẽ tăng kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên của Hội đồng Họ Dương các cấp. Đầu tư cho công tác viết cuốn lịch sử về người họ Dương đang được xúc tiến và do những người có chuyên môn ngoài dòng họ đảm nhận (trước kia việc này do người họ Dương viết), có quà nhân dịp Tết cổ truyền cho bà con nghèo, có hoàn cảnh khó khăn trên cả nước.

Về phát triển kinh tế, Dương Công Minh cho biết: Thời gian qua, nhiều công ty Dương Gia được thành lập. Trong thời gian tới, các công ty sẽ tham gia vào hoạt động phát triển chuỗi Mắc ca, chuỗi Bò và chuỗi Tôm để thúc đẩy phát triển kinh tế cho bà con họ Dương, góp phần tăng thu nhập, nhất là trong việc xóa đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu chính đáng. Ngoài việc cung cấp “cần câu”, ông còn cho ngay “con cá”. Trên bình diện cả nước, hằng năm, ông và Hội đồng Họ Dương Việt Nam quan tâm khen thưởng ngay cho các cháu học tập đỗ đạt và đạt các giải về mọi mặt từ 1 triệu đến 10 triệu cho một cháu. Đối với người già cũng quan tâm mừng thọ hằng năm từ 1-2 triệu cho một cụ cả trai dâu gái rể (rể có quy định cụ thể).

Chỉ tính riêng năm 2019, Hội đồng Họ Dương Việt Nam đã xét duyệt vinh danh khen thưởng 3.428 trường hợp, tăng 7% so với năm 2018 (năm 2018 có 3.202 trường hợp). Trong đó: đỗ đại học là 2.237 cháu; sinh viên giỏi, xuất sắc là 702 người; đạt giải cao ở các cuộc thi và đạt các danh hiệu là 151 trường hợp. Tổng số tiền vinh danh, khen thưởng là 7.265.260.000 đồng, trích từ Quỹ Khuyến học – khuyến tài của Hội đồng Họ Dương Việt Nam do ông Dương Công Minh, Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Việt Nam tài trợ.

Dương Công Minh còn tâm niệm: uống nước phải nhớ nguồn, ông luôn biết ơn tiên tổ. Ông đã đầu tư 4 tỷ để tu bổ, nâng cấp đền Đuổm thờ Thánh Đuổm Dương Tự Minh. Ông đã vận động cả họ cùng chung tay góp công góp của xây dựng khu lăng mộ danh nhân Dương Tam Kha và đền thờ đại tướng Dương Thanh.

Là người nhân hậu, hào phóng, có tấm lòng bao la với dòng họ, mọi chi phí lớn nhỏ đều đến tay ông. Dương Công Minh ngoài đầu tư chi phí thường xuyên cho các bộ phận hoạt động của họ Dương như một cơ quan thu nhỏ, ông còn đầu tư mỗi năm một lần “Ngày hội văn hóa của họ Dương Việt Nam” số tiền vài chục tỷ, mấy vạn người họ Dương cả nước về gặp mặt, sinh hoạt trong ba ngày và các chi phí các khoản phục vụ cho ngày hội.

Có thể nói biết làm giàu song cũng biết tiêu tiền có ý nghĩa, Dương Công Minh muốn cả họ chung tay đoàn kết phát triển về mọi mặt, làm giàu cho bản thân, gia đình, dòng họ và cho đất nước. Ông là con người tài năng trác việt, có bộ óc vĩ đại, trái tim nhân hậu và là con chim đầu đàn của họ Dương.

43-Dương Quang Thành

Dương Quang Thành sinh tháng 7/1962, quê xã Tân Ninhhuyện Quảng NinhQuảng Bình. Ông tốt nghiệp ngành Kinh tế Năng lượng năm 1984 tại Khoa Kinh tế và Quản lý (nay là Viện Kinh tế), Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Ra trường ông tham gia công tác:

– Năm 1984, làm việc tại Viện Năng lượng.

– Năm 1997, làm Trưởng Ban kế hoạch EVN.

– Năm 2007, giữ chức Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

– Tháng 3/2015 trở đi là Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Dương Quang Thành là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, có trình độ tiến sĩ kinh tế và cao cấp lý luận chính trị. Ông là một doanh nhân và chính trị gia, đã trúng cử đại biểu Quốc hội lần đầu năm 2016. Hiện là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV, nhiệm kì 2016-2021, thuộc Đoàn Đại biểu quốc hội thành phố Hà Nội, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Việt Nam. Năm 2020, ông hiện vẫn là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Nắm giữ trọng trách trong ngành điện năng có vai trò quyết định trong việc phát triển kinh tế của đất nước, công việc phức tạp không tránh khỏi nhiều vướng mắc, nhất là trong lĩnh vực tính giá điện bán cho dân dụng và các ngành kinh tế khác. Dương Quang Thành đã nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của chính phủ trong thực hiện phương án giá điện để phù hợp với nền kinh tế của nước ta.

Năm 2019-2020, sẽ hoàn thành thủ tục cổ phần hoá các Tổng công ty Phát điện 1 và 2. Sau 2 năm hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, Tập đoàn sẽ lập phương án thoái toàn bộ vốn tại các Tổng công ty Phát điện để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định. Từng bước chuyển ngành Điện sang hoạt động theo kinh tế thị trường và thực hiện giá điện cạnh tranh. Tuy hiện còn điều tiếng song họ Dương tin rằng Dương Quang Thành sớm vượt qua khó khăn thực hiện tốt chỉ đạo của chính phủ.

44- Dương Huy Linh

Dương Huy Linh sinh năm 1970 (con trai của cụ Dương Huy Đỉnh) – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Đông Hải, Phó Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp – Doanh nhân họ Dương Việt Nam, đã đầu tư kinh phí sáng lập Quỹ Dương Huy Đỉnh hỗ trợ tài năng họ Dương, gọi là Quỹ Dương Huy Đỉnh.

Quỹ Dương Huy Đỉnh nhằm hỗ trợ cho các thành viên họ Dương Việt Nam, bao gồm: Những người có tài năng thực sự xuất sắc, tham dự các giải quốc gia và quốc tế trên các lĩnh vực: khoa học, công nghệ; văn hóa, nghệ thuật; thể dục thể thao; những đề tài nghiên cứu; dự án, giải pháp khoa học – công nghệ có tính khả thi và mang lại hiệu quả thiết thực; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn (mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động; là thành viên của hộ gia đình nghèo hoặc cận nghèo; gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh).

Quỹ Dương Huy Đỉnh góp phần thực hiện mục tiêu của họ Dương Việt Nam là xây dựng 3 nền tảng trụ cột: Sức khỏe – Tri thức – Đạo đức; phát triển văn hóa Dương gia dựa trên 3 giá trị cốt lõi: Chuẩn mực – Sáng tạo – Nghĩa tình để các gia đình người họ Dương có đời sống vật chất ngày một khá giả, đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng phong phú, văn minh, lành mạnh; hướng tới xây dựng dòng tộc họ Dương thành cộng đồng thịnh vượng, hạnh phúc, vững mạnh, văn minh.

Ông Dương Huy Linh sáng lập quỹ hỗ trợ tài năng Dương Huy Đỉnh năm 2019 đã tài trợ 2.174 người số tiền là: 6.578.700.000 đồng.

2-  Đã hỗ trợ hai đợt cho các cháu học sinh, sinh viên khó khăn là: 2,8 triệu đồng cho một cháu học sinh phổ thông, 10,5 triệu đồng cho một cháu sinh viên đại học.

Phát huy truyền thống dòng tộc: Yêu nước, tự lực, tự cường, hiếu học, coi trọng tri thức, sống nhân nghĩa, vị tha, chúng ta hy vọng rằng, sắp tới sẽ có nhiều người con họ Dương thành đạt. Họ Dương ghi nhận nghĩa cử cao đẹp này của một người con xuất sắc của dòng họ là doanh nhân Dương Huy Linh.

45- Dương Anh Vũ

Dương Anh Vũ sinh năm 1989 tại Ninh Thuận trong gia đình làm nghề  nông có 5 anh em. Muốn thoát nghèo, người cha khuyên anh: “Nhiệm vụ của tụi con là học và của cha mẹ là đi làm kiếm tiền nuôi các con. Ðứa nào học được, cha sẽ cho học tới nơi tới chốn, kể cả bán nhà để sau này lấy cái chữ mà nuôi thân. Còn đứa nào học không được thì cha cho đi học nghề…”.

Thế nhưng, trái ngược với các anh chị em khác trong gia đình đều có kết quả học tốt, Vũ là thành phần được liệt vào cá biệt của trường vì lực học quá kém, thi lại từ năm học lớp 2, lớp 3 lưu ban, lớp 4 và 5 cũng thi lại. Do học quá yếu, cấp 2, Vũ phải học trường bán công trong khi bạn bè học ở trường công lập. Vũ trượt kỳ thi vượt cấp, không bị ăn đòn nữa vì nỗi thất vọng về con quá lớn, cha anh khuyên thôi học, để đi học nghề.

Biết rằng cha và gia đình đã mất hoàn toàn niềm tin vào mình, Vũ cúi mặt khóc, nhớ lại những câu chê bai của bạn bè, của hàng xóm…Và lòng tự trọng kiêm tự ái trỗi dậy,Vũ ngước mặt lên nhìn bố và nói: “Cha ơi con muốn đi học”. Cha anh không tin gì nữa, nói thôi con nghỉ học đi.

Tuy nhiên, vì khát khao đi học và muốn chứng minh đã thay đổi, Vũ quyết định tuyệt thực và không tắm trong một tuần để đấu tranh với cha. Trước thằng con bất trị, cha Vũ đành chiều ý con một lần nữa.

Vũ bắt đầu đi học trở lại, song không dám học trường bổ túc gần nhà sợ bố mẹ xấu hổ nên Vũ phải xuống tận thành phố, cách nhà 12 km để học. Trong ba năm, ngày hai buổi, sáng, chiều đi học, đạp xe 48 km, vất vả và chịu khó học song cuối cấp, kết quả học tập vẫn vào loại yếu.

Lúc này, anh mới phát hiện kiến thức nền tảng của mình bị hổng quá nghiêm trọng cho nên dù có siêng năng đến đâu cũng không kéo lên được. Ðể lấy lại kiến thức, Vũ quyết định một buổi học chính khóa ở trường, một buổi xin vào học thêm các lớp 6, 7, 8, 9, chưa bao giờ Vũ thấy mình tệ hại đến vậy. Ðây chính là câu chuyện đau thương, tủi hờn nhất cuộc đời mà Vũ nhớ mãi.

Năm lớp 11, kết quả học tập của Vũ tăng tiến vượt bậc, khiến ai cũng bất ngờ. Ðến năm 12, khi đăng ký cho Vũ thi học sinh giỏi thì các thầy cô mới phát hiện quy chế của Bộ GD&ÐT không cho học sinh bổ túc tham gia thi học sinh giỏi. Vũ rơi vào trầm cảm, để khích lệ động viên anh, người thầy năm ấy thật khác, thầy nhẹ nhàng bảo Vũ hãy tự tin vào mình, cố luyện để  thi đậu vào một trường đại học lớn sẽ không ai coi thường được mình. Và câu nói ấy kéo Vũ đứng dậy, anh quyết tâm tập trung cho việc học.

Kết quả, năm đó Vũ đỗ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp với số điểm ấn tượng cho 3 môn: Văn 9.5, Sử 10 và Ðịa 10. Tiếp tục thi đỗ vào Ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh ngành Kinh tế Phát triển vùng. Năm sau, anh được nhận vào Ðại học RMIT và học song song hai chương trình.

Sau 4 năm, Vũ tiếp tục nhận học bổng MBA tại New Zealand. Và hiện anh nghiên cứu sinh tiến sĩ tại đại học Leeds của Anh, đồng thời là cố vấn về các vấn đề kinh tế và xã hội cho một chương trình tại khu vực Nam Á, là Ðại sứ truyền thông kiêm đại diện của Quỹ Nghiên cứu hỗ trợ kỷ lục thế giới tại khu vực Ðông Nam Á.

Nói về những kỷ lục trí nhớ của mình, Vũ cho rằng đó là cái duyên trong quá trình anh quyết tâm học để thay đổi cuộc đời. Năm học lớp 11, anh dùng Sơ đồ tư duy của Tony Buzan để tổng hợp và hệ thống lại kiến thức đã mất. Sau đó, anh sử dụng phương pháp tư duy hình nhện để liên kết các kiến thức mới. Ðây là phương pháp do Vũ phát triển ra từ sơ đồ tư duy, nhưng mãi đến năm thứ hai học đại học, anh mới thực sự luyện trí nhớ. Lúc đầu rất khó khăn vì bộ não chưa thích ứng với những áp lực nên đòi hỏi sự kiên trì và bền bỉ.

Sau 3 tháng thì não của Vũ bắt được nhịp, và chỉ trong 1 năm, anh đã sở hữu một khối lượng kiến thức khoa học lớn chứa trên 500.000 trang giấy A4. Chính điều đó giúp anh thực hiện nghiên cứu khoa học rất thuận tiện và lần lượt chinh phục các kỷ lục thế giới.

Dương Anh Vũ là người đầu tiên xác lập 4 kỷ lục thế giới về siêu trí nhớ học thuật (trước đó chỉ có thuật ngữ Kỷ lục Thế giới). Các khả năng của Dương Anh Vũ được các tổ chức kỷ lục thế giới công nhận:

– Nhớ được 108 hệ thống dữ liệu thống kê toàn cầu với 22.248 mục dữ liệu, trong đó chứa 41.725 con số và 18.725 mục dữ liệu chữ. Các dữ liệu bao gồm diện tích, chiều dài bờ biển, tỷ giá hối đoái, GDP, tiền tệ, hệ thống chính trị…

– Nhớ được 1.022 tác phẩm văn chương Việt Nam và thế giới (tóm tắt tác phẩm, nhân vật, tác giả, phân tích cốt truyện), cá biệt có một số tác phẩm có thể nhớ đến từng chi tiết về câu và từ.

– Nhớ được toàn bộ bản đồ thế giới khổ lớn nhất, với 2.500 địa danh bằng ngôn ngữ quốc tế (tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc…).

– Nhớ chính xác 10.056 mốc sự kiện lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật thế giới.

– Nhớ được 20.000 số Pi trong toán học.

Với những thành tích “siêu khủng” đó, Dương Anh Vũ được Trung ương Đoàn và Quỹ Hỗ trợ tài năng trẻ Việt Nam đề cử giải thưởng Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu liên tục trong 2 năm (2016 và 2017); được Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind trao giải thưởng Hall of Fame về Giáo dục vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật; được Hội đồng Thi đua, Khen thưởng Trung ương tôn vinh “Điển hình tiên tiến toàn quốc vì những đóng góp trong giáo dục và học thuật”…

Năm 2017 – 2018, Vũ đã thực hiện hơn 200 chương trình thuyết giảng phi lợi nhuận tại các trường đại học và trung học phổ thông trên cả nước. Chủ đề “Life – Nothing is impossible” (Cuộc sống – Không gì là không thể) xuyên suốt chuỗi thuyết giảng.

Vũ đã truyền lại kinh nghiệm cho người đi sau:

“Đam mê là một chiếc chìa khoá, nó có thể mở ra bất cứ cánh cửa nào bạn muốn trong chính cuộc đời của bạn”. Đó là câu trả lời của Vũ khi được hỏi về bí kíp để có khả năng siêu phàm như hiện tại. Vũ nói: “Bạn hãy tưởng tượng một kẻ đói khi thấy thức ăn thì sẽ làm gì? Họ sẽ nhào vô và nhai ngấu nghiến. Mình ko phải là một kẻ đói bình thường, mình đói đã lâu và siêu đói nên khi mình bắt đầu cảm nhận cái đẹp, cái ngon, cái tuyệt vời của nó (tri thức) thì mình đam mê… đam mê đến vô cùng vô tận. Vũ chia sẻ, từ một học sinh dốt đến kẻ thèm tri thức, anh như một “con nghiện”.

Để dẫn chứng cho cái cơn nghiện ấy, Vũ kể: Sau khi tốt nghiệp Đại học, gia đình muốn anh đi làm ngay để kiếm tiền, song anh đang “Tu luyện” kiến thức, cho nên không muốn nhận những cuộc gọi cằn nhằn từ phía người lớn, thế là Vũ quyết định bỏ số điện thoại, không nhận cuộc gọi, đi một lèo 4-5 năm, không liên lạc với bất cứ ai, cắt đứt mọi quan hệ với xung quanh để chuyên tâm học hành và nghiên cứu. Làm điều này hơi lập dị một chút, Vũ nói có lẽ thuộc về tính cách con người Vũ chứ không phải đó là phương pháp học tập.

Chia sẻ bí quyết rèn luyện trí nhớ để thành công như hôm nay, Vũ nói: “Nhiệm vụ của một người đi học là tiếp nhận kiến thức, đưa nó vào đầu và lưu lại ở đó. Thói quen suy nghĩ này sẽ tạo hệ thống lập trình trong não mình. Do vậy, phương pháp đầu tiên để tiếp cận tri thức không phải là phương pháp ghi nhớ mà là tạo thói quen. Ta cần rèn luyện thói quen đúng đắn thì bộ não sẽ tiếp cận tri thức đúng đắn.Theo quan điểm của Vũ, người lớn hay là nền giáo dục – đầu tiên phải rèn luyện được cho đứa trẻ những thói quen tốt trước khi bắt nó học những thứ quá cao siêu”.

Con người chỉ nhớ được những gì mà mình “thích”, còn những thứ không quan tâm, chắc chắn sẽ không bao giờ nhét được vào đầu. “Chẳng hạn, Vũ không nhớ số điện thoại của bất cứ ai trong danh bạ, đơn giản bởi do thấy không cần thiết vì điện thoại đã lưu lại rồi”.

Hiện nay, Dương Anh Vũ đang tập trung cho chương trình nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục và hỗ trợ cho Viện Quy hoạch Giáo dục Quốc tế của UNESCO (IIEP) về các dự án giáo dục tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời tiếp tục nhận lời hỗ trợ phân tích địa chính trị và dữ liệu toàn cầu cho một số cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam.

Được biết, Dương Anh Vũ hiện là Đại sứ Trí tuệ của Chương trình Talent Generation 2018 – Dự án giáo dục lớn nhất của UNESCO – CEP. Vũ đồng thời là trợ lý nghiên cứu của IIEP – UNESCO, thành viên điều hành của Chương trình Tủ sách các trường học trên khắp cả nước.

Dương Anh Vũ là một thanh niên họ Dương, một tấm gương lớn cho lớp trẻ noi theo trau dồi kiến thức. Đây cũng là hiện tượng rõ nét về con người đã tự khám phá chính mình. Trong cuộc sống có nhiều người chỉ do sét đánh, điện giật, tai nạn, chó dại cắn lên cơn… bị chết lâm sàng, mà khi qua kiếp nạn, đột nhiên trở thành người siêu phàm.

Xem chương trình siêu trí tuệ Việt Nam, ta thấy trong nước và thế giới có rất nhiều “siêu nhân” trên nhiều lĩnh vực. Vũ chỉ là người đặc biệt trong số đó, ấy là vượt qua cơn sốc, vì nhục nhã do học dốt mà anh vươn lên kiên trì luyện tập. Bằng ý chí và đam mê, Vũ đã mở được tiềm năng của bộ não để huy động tối đa cho việc nạp kiến thức mênh mông của nhân loại cho mình.

Khoa học đã cho biết, con người thông thường chỉ sử dung 5% bộ não, còn những tài năng như ta biết là vì họ đã khai mở được nhiều hơn thế để đứng vào hàng ngũ siêu trí tuệ của Việt Nam và thế giới. Qua bài học về nghị lực phi thường của Dương Anh Vũ, thế hệ trẻ vững tin rèn luyện và học tập để có kết quả như anh.

Tại Ngày hội văn hóa mùa xuân họ Dương Việt Nam năm 2019, Dương Anh Vũ có 30 phút chia sẻ và truyền cảm hứng cho thanh niên họ Dương Việt Nam. Để từ đó thanh niên họ Dương Việt Nam có thể học tập, vận dụng tài năng và sức trẻ của mình trong việc trau dồi kiến thức bản thân để phục vụ quê hương và đất nước trong tương lai.

Tin rằng họ Dương sẽ có thêm những Dương Anh Vũ trong tương lai.

46- Dương Thị  Thùy Vân

Dương Thị Thùy Vân, quê tại Đức Phổ, Quảng Ngãi. Sinh năm 1981, trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, tuổi học sinh chị có kết quả học tập rất xuất sắc.

Năm 2000, Dương Thị Thùy Vân với thành tích học THPT tốt nghiệp 10.0 được tuyển thẳng vào các trường: Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại thương cơ sở thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng chị chọn ngành Công nghệ thông tin của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở 2 để thi cho biết.

Thi thử nhưng đỗ thật. Năm đó, ngành Công nghệ thông tin của Học viện hấp dẫn đến mức phải 27 điểm/3 môn mới trúng tuyển và chị nằm trong số 25 thí sinh vào ngành này với kết quả bất ngờ đạt 27 điểm, xếp thứ 2 đầu vào. Nhưng yêu Sư phạm nên Thùy Vân quyết định lựa chọn Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, ngành Toán để theo học.

Tuy nhiên, học được hơn một tháng thì toàn thế giới xảy ra sự cố Y2K, chị quyết định chuyển sang học ngành Công nghệ thông tin của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Vào học, chị đạt những kết quả học tập rất xuất sắc.

Năm 2004, Thùy Vân được công ty phần mềm nổi tiếng TMA Solution mời về làm mà không cần hồ sơ xin việc hay phỏng vấn. Sau đó, chị lại trúng tuyển cao học ngành Công nghệ thông tin tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh).

Năm 2010, Dương Thị Thùy Vân tiếp tục học nghiên cứu sinh. Năm 2015, hoàn thành luận án tiến sĩ ngành Công nghệ thông tin. Chuyên ngành mà chị theo đuổi là các giải pháp về phần mềm, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo. Khi bảo vệ luận án tiến sĩ, chị đã có 8 bài báo quốc tế trên các tạp chí ISI và Scopus, một kết quả ít ai ngờ tới đối với nữ nghiên cứu sinh trong ngành Công nghệ thông tin tại Việt Nam.

Chỉ sau một năm bảo vệ thành công luận án, TS. Dương Thị Thùy Vân mạnh dạn đăng ký đề tài “Hệ thống điều hòa không khí thông minh” ở cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ (USPTO).

Năm 2016, Dương Thị Thùy Vân đón nhận Bằng Sáng chế cho sản phẩm “Hệ thống điều hòa không khí thông minh” do Cục Sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ (USPTO) cấp.

Trước đây, khi chưa có sản phẩm này, những bệnh nhân ở chung một phòng bệnh hay phòng điều dưỡng thường phải cùng chịu chung một nhiệt độ phòng; trong khi mỗi bệnh nhân có nhu cầu về nhiệt độ khác nhau tùy thuộc vào thể trạng và tình trạng sức khỏe của họ. Điều này ảnh hưởng lớn đến giấc ngủ và phác đồ điều trị của bệnh nhân.

Đề tài này cũng hữu ích khi nuôi trồng các loại nông sản trong cùng một hệ thống nhà thông minh vì mỗi loại cây cũng cần một điều kiện nhiệt độ, môi trường và chế độ dinh dưỡng khác nhau.

Khi nhìn hình ảnh binh chủng hóa học của Bộ Quốc phòng thực hiện công tác khử khuẩn tại Bệnh viện Bạch Mai, Thùy Vân và cộng sự đã lên các ý tưởng làm thế nào giảm sự tham gia của con người, nhất là đội ngũ y bác sỹ trong môi trường có tính chất truyền nhiễm. Sau đó, hai phương án được lựa chọn là robot làm nhiệm vụ khử khuẩn và robot thực hiện chiếu tia UV.

Dự án bắt đầu triển khai đúng lúc cả nước thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ cách ly toàn xã hội. Chỉ quãng thời gian 10 ngày để cho ra đời 2 robot như mong muốn ban đầu, đó là một kỳ tích.

Dương Thị Thùy Vân là nữ tiến sĩ Việt Nam đầu tiên được Mỹ cấp Bằng Sáng chế.

  1. Dương Thị Thùy Vân hiện là Giám đốc Trung tâm Công nghệ Thông tin ứng dụng Trường Đại học Tôn Đức Thắng. Chị từng nhận được nhiều giải thưởng khoa học trong và ngoài nước, có 20 bài báo quốc tế ISI/Scopus. Từ năm 2014 đến 2017, là giảng viên tiêu biểu của thành phố Hồ Chí Minh, được Liên đoàn Lao động thành phố tặng bằng khen về thành tích xuất sắc, lao động giỏi.

Từ 2015 đến nay, ngoài nghiên cứu khoa học, công việc thường ngày của chị là lên lớp giảng dạy tại trường Đại học Tôn Đức Thắng. Chị có nhiều giải pháp công nghệ chuyển giao cho các cơ sở kinh tế, tiêu biểu là robot thu gom rác. Thu Vân đã sáng chế nhiều phần mềm cho dạy và học như:

– Phần mềm quản lý học tập.

– Phần mềm phát hiện đạo văn.

– Phần mềm kiểm tra kiến thức sinh viên đầu giờ.

– Phần mềm tự động chấm điểm, tự động điểm danh.

Với tuổi đời còn rất trẻ, sự nghiệp nghiên cứu khoa học đang độ thăng hoa, Dương Thị Thùy Vân còn cống hiến cho nền khoa học nước nhà và thế giới nhiều thành tựu đỉnh cao hơn nữa. Vân đúng là người con gái họ Dương thế hệ 4.0, kế thừa và phát huy truyền thống của các bà các mẹ xưa vươn lên tầm cao thời đại, mang lại vinh quang cho đất nước nói chung và họ Dương hào hoa nói riêng.

 

NHẬN XÉT:

Một dòng họ văn hóa có truyền thống yêu nước hiếu học, trong tiến trình lịch sử, có vô vàn danh nhân tiêu biểu, danh sách cơ bản đã đề cập trong cuốn “Dòng tộc họ Dương với chủ nghĩa yêu nước trong cộng đồng xã hội Việt Nam” do HĐHDVN phát hành năm 2011. Trong cuốn “Lịch sử Họ Dương Việt Nam” xuất bản lần này, tác giả chỉ chép một số danh nhân có tiếng vang trong xã hội thời phong kiến, thời Pháp thuộc và những người có công sức đóng góp cho họ Dương ngày nay, nên không có tham vọng trình bày hết những người họ Dương khác, danh sách chỉ là một số người đại diện.

Trai họ Dương tài giỏi, gái họ Dương đẹp người đẹp nết được đúc kết trong tâm tưởng dân gian, với lời truyền khẩu: “Con gái họ Dương nằm giường tiến sĩ” hay “Dẫu rằng nhà có ngàn vàng/ không bằng cưới được một nàng họ Dương”. Trong lịch sử, có nhiều lắm hoàng hậu, phi tần của vua chúa là người họ Dương. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, đó là hoàng hậu đầu tiên được sử sách ghi nhận từ thời Hồng Bàng là bà Dương Thị Diễm, và hoàng hậu đầu tiên của thời kỳ Việt Nam độc lập tự chủ từ Ngô Vương Quyền là bà Dương Như Ngọc, Hoàng hậu cuối cùng của thời phong kiến nước ta là bà Dương Thị Thục.

Càng về những đời sau, người họ Dương càng xuất hiện nhiều danh nhân, chí sĩ tài ba… giúp các triều đại, chính thể, xây dựng và bảo vệ non sông gấm vóc Việt Nam.

Thời cận đại, tư liệu chính xác rất nhiều, viết rất kỹ, rất đúng về các danh nhân họ Dương muôn mặt. Các cuốn sử khác của họ Dương Việt Nam sẽ thể hiện đầy đủ. Bằng khả năng hạn hẹp, tác giả khai thác các mảng đề tài ít người quan tâm,  với con mắt và cách nhìn riêng logic và biện chứng trong đó không hiếm những tồn nghi cần được giải ảo. Rất mong người họ Dương tài năng và con cháu thế hệ mai sau tiếp tục tìm tòi và hoàn thiện thêm.

VII-Tồn nghi lớn

Xung quanh lịch sử dòng họ Dương cũng còn có những tồn nghi lớn, đó là sự giao thoa giữa các dòng họ Dương, Đào, Phạm, Lý, Nguyễn, Trần…

Tôi xin mời cả họ đọc các tư liệu sau và cùng suy xét:

  1. Việc cho họ Trần có xuất xứ là họ Dương:

-Theo sách Thuyết sử Nhà Trần của tác giả Trần Xuân Sinh, NXB Hải Phòng, phần Nguồn gốc Nhà Trần, (trang 8), dẫn: “Phả họ Trần Vũ Lao và phả họ Trần Đệ Nhất Tức Mặc về dòng dõi Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt, chép: Tổ vốn họ Dương, Thủy Tổ là Dương Tuấn cùng hai em Dương Kiệt, Dương Tài …, sau đổi sang họ Trần không rõ vì lý do gì”.

Gia phả họ Trần làng Tức Mặc, Mỹ Lộc, Nam Định do Trần Lê Trai người Tức Mặc, quan Bố Chánh sứ tỉnh Cao Bằng (1787) viết: “Tổ tiên ta trước đây là họ Dương, tên húy là Tuấn, một tên nữa là Kinh, người Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông, xưa là đất nước Nam Việt, đến đời Hán Vũ đế chia nước Việt làm 9 quận, tỉnh Quảng Đông mới thuộc về nội địa Trung Quốc. Đến đời nhà Lý, ông Dương Tuấn cùng với em Dương Kiệt, Dương Tài đi khắp đất nước tìm nơi định cư, đã chọn Tức Mặc, Thiên Trường làm đất ở. Hai ông mất sớm, ông Tuấn đổi sang họ Trần”.

Bia “Sự tích đền Vạn Khoảnh” thờ Thái Thượng Hoàng Trần Thừa khắc triều Lê, niên hiệu Cảnh Hưng, năm Giáp Thìn (1784) ghi: “Ở nước ta vào thời Lý có hai người họ Dương:  anh là Duy Nhân, em là Duy Dũng, chạy loạn từ đất Mân về phương Nam, đến ở Yên Tử. Được hai đời, con của hai nhà Duy Quế, Duy Đống đến địa phận Đại Hoàng Giang (Phía bắc tính Nam Định ngày nay) vẫn làm nghề đánh cá trồng khoai, đay, ngô, lúa… lập ấp ở đây đặt tên là Vạn Khoảnh. Qua một đời, đến Duy Đôn, Duy Kinh, sau sinh ra Duy Hấp, chôn mồ mả tổ tiên ở Hải Ấp, rồi sinh Trần Lý, Lý sinh Trần Thừa ở ấp Vạn Khoảnh…” và “Duy Đôn, Duy Kinh vì có sự bất đồng nên Duy Đôn mới bỏ Vạn Khoảnh đến vùng đất phía nam Khang Kiện lập ấp Dương Xá (nay là Dương Xá Vị Xuyên) trải qua vài đời, người nhiều lên, tỏa đi nhiều nơi định cư lập ấp đều lấy tên là Dương Xá. Còn Dương Kinh sinh Dương Hấp từ khi an trí mộ tổ xong thì đổi họ Dương sang họ Trần. Khi Trần Thừa mới lên bèn đến định cư ở Khang Kiện”. Như vậy nhiều địa danh mang tên Dương Xá ở Nam Định mà người họ Dương sinh sống đều có đức tổ là Dương Duy Đôn.

Theo tác giả Ngân Hà, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Nam Định dẫn tư liệu từ lời chú trong bài thơ “Thăm đền thờ Tổ họ Trần” của Trần Đôn Phục đỗ cử nhân năm 1855 thì Cụ tổ họ Trần là Dương Kinh, sinh ra Dương Hấp gốc Phúc Kiến (Mân Việt thuộc Nam Việt) sau do thời thế, di cư sang nước ta làm nghề đánh cá tại vùng Tức Mặc, Thiên Trường, mới đổi sang họ Trần là Trần Kinh, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Thừa. Mộ tổ họ Trần an táng tại làng Dương Xá – Hưng Hà – Thái Bình. Đất tổ họ Trần là ấp Dương Xá, nơi phát tích họ Trần còn gọi là Dương Trạch, tức là đất ở của người họ Dương.

Qua các tài liệu viện dẫn như trên, nếu đúng như vậy thì ta tin là người họ Trần hiện nay đa phần có gốc là họ Dương từ Phúc Kiến bên Trung Quốc sang (điều này cần có nhiều tư liệu tin cậy để hai họ Dương-Trần xác minh làm rõ). Riêng địa danh Phúc Kiến hiện nay cũng là nơi có rất nhiều người mang họ Dương sinh sống.

  1. Việc họ Đào là đổi từ họ Dương, Danh thần Trạng nguyên Đào Sư Tích và hậu duệ đều là người họ Dương.

Theo Dương tộc Kỷ sử:  Khi bị nhà Trần đàn áp, chi ngành cụ Lý Long Xưởng (con trưởng vua Lý Anh Tông) gồm 7 gia đình bị Trần Thủ Độ hãm hại. Vợ chồng thừa tướng Lý Long Cao bị nhốt chết trong hầm. Thượng tướng quốc công Lý Quốc Chính bị giết, con cháu trốn chạy lên Bắc Giang. Lý Long Tính, Lý Long Tình  bị chém, Lý Long Tích và mọi người phải thay họ đổi tên (Đào Sư Tích). Theo Dương tộc Kỷ sử chép, ta hiểu là Lý Long Tích đổi ngay tên thành Đào Sư Tích. (Thực tế Lý Long Tích chạy vào Thanh Hóa đổi thành Đào Dương Bật,  cháu 4 đời mới là Đào Sư Tích – DAD).

Lý Long Tường, Lý Long Tự chạy sang Cao Ly.

* Theo tác giả Dương Văn Tất (Hội đồng Họ Dương Nam Định) căn cứ gia phả họ Dương ở Ý Yên, Nam Định thì hậu duệ của Lý Dương Hoán là Lý Long Tích, sau chính biến của nhà Trần năm 1266 đã được các quan lại họ Đào, họ Dương cứu giúp chạy vào Thanh Hoá cải thành họ Đào là Đào Dương Bật (Lý Long Tích là Đào Dương Bật- DAD).).

Theo gia phả họ Đào ở Kiến Xương, Thái Bình thì Đào Sư Tích là hậu duệ 04 đời của Đào Dương Bật, đồng thời việc Đào Sư Tích quê ở Cổ Lễ – Nam Định là vùng đất của người họ Dương và việc cụ có bài thơ về già, dặn con cháu đã xác nhận mình có gốc từ họ Dương thì ta có thể tin cụ là dòng dõi của người gốc họ Dương đổi sang. (Điều này đã chỉ ra người xưa đã tin Lý Thần Tông chính là Dương Hoán-DAD).

* Theo Bách khoa toàn thư và Chính sử thì Trạng nguyên Đào Sư Tích (1348-1396), quê gốc làng Song Khê, bố là Đào Toàn Mân, đỗ tiến sĩ làm quan ở phủ Thiên Trường. Mộ cụ táng tại xã Cổ Lễ, huyện Nam Trực, Nam Định (có thời gian cụ được nhà Trần cử lên Tam Đảo – Vĩnh Phú xây dựng căn cứ chống nhà Hồ với lý do là cáo quan về ở ẩn, nên nhiều tư liệu cũ ghi nhầm là cụ quê ở Lý Hải – Tam Đảo – Vĩnh Phú. Thực ra đây là quê mẹ của Đào Sư Tích – DAD).

Điều này cũng cần có sự xác minh thêm để có sự thống nhất cao.

  1. Việc các chúa Nguyễn có gốc tích từ họ Dương đổi sang

– Hiện nhà thờ họ Nguyễn ở Gia Miêu – Hà Trung đang thờ áo mão phục chế từ bộ áo mão của Trạng nguyên Đào Sư Tích vốn là bộ áo mão duy nhất đang thờ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Chính một chi họ Nguyễn ở Gia Miêu, Hà Trung, Thanh Hóa đã nhận là hậu duệ của Đào Sư Tích, chủ động đi tìm  dòng họ Dương – Đào và kết nối dòng họ.

Như vậy người họ Nguyễn hậu duệ của Nguyễn Kim đã tin rằng họ mình có gốc từ các họ Dương- Đào.

– Theo cuốn gia phả của họ Đào (gốc Dương) “ĐÀO TỘC KHOA QUAN CÔNG THẦN HUÂN NGHIỆP GIA PHẢ CHÍ”.

Với nội dung: “Đến giai đoạn cuối của triều đại nhà Trần, Hồ Quý Lý chuyên chính, giết vua Trần Thiếu Đế, cướp ngôi và tàn sát tôn tộc cũng như quan lại nhà Trần. Thời kỳ này, Đức Tổ Đào Sư Tích làm quan hành khiển, thượng thư, tri thẩm tả thị lang (như phả nói ở trang một) kiên quyết phản đối Hồ Quý Ly. Biết thế và lực của mình không thể làm gì được, người cáo quan về sống ẩn dật ở Lý Hải và cho con cháu thay tên đổi họ chạy đi lánh nạn ở nhiều nơi, chủ yếu là cải sang họ Nguyễn như phả nói, có 7 chi cải sang họ Nguyễn” (Trang 4 chữ Nho, trang 5 chữ quốc ngữ). Khi Nguyễn Huệ giết chết chúa Nguyễn ở Long Xuyên, tại thời điểm này, một số chi mang họ Nguyễn chạy đi lánh nạn, lại cải về họ Đào như chi họ Đào ở Tân Phong, Thái Bình, và một chi họ Đào ở Ý Yên Nam Định… đời sau nhớ mà kết nối (Trang 5 chữ Nho, trang 8 chữ Quốc ngữ).

Và  “Đức Tổ Đào Biểu có hai con cũng là bậc công thần . Con trưởng làm quan đến chức Đô đốc Từ quận công phả không nói tên huý. Tra trong Huý hiệu là Đức tổ Đào Sĩ Từ. Con trai thứ hai làm quan đô đốc Định quận công, tra trong huý hiệu là Đào Sĩ Định.” (Trang 4 chữ Nho, trang 6 Quốc ngữ).

Và  “Chi Đào Sĩ ta bắt đầu từ Đức Tổ Đào Biểu. Gia phả đã nói (ở trang 8 chữ nho, trang 10 chữ quốc ngữ ). Đức Tổ Đào Biểu đã hy sinh anh dũng vì sự bình yên của triều đình nhà Lê Sơ…

 …Sau khi Đức tổ qua đời, con cháu làm theo ý nguyện của người đều ra làm quan. Trong đó có ba ông giữ ba chức quan lớn trong triều đình là Định quận công, Cống quận công và Chiêu huân công (Tra trong huý hiệu là Đào Sĩ Định, Đào Sĩ Kỳ và Nguyễn Kim).

Ba ông làm quan đến đời vua Lê Cung Hoàng, thì hậu quả là nhà Mạc giết chết Lê Cung Hoàng, cướp ngôi nhà Lê.

Ba ông quyết phù Lê, diệt Mạc. Cống quận công Đào Sĩ Kỳ vạch ra kế hoạch lâu dài như sau:

Cống quận công Đào Sĩ  Kỳ (là con của Đào Sĩ Từ – gọi Đào Sĩ Định là chú – DAD) ở lại đánh nhau với nhà Mạc phân công cho chú là Định quận công Đào Sĩ Định đưa Hoàng tộc nhà Lê chạy sang Ai Lao (nước Lào) trước. Rồi sau đó Triệu tổ Chiêu huân công Nguyễn Kim, tiếp tục sang Ai Lao tìm gặp Định quận công Đào Sĩ Định, cùng đón Lê Trang Tông  lập làm vua. Mở đầu cho nhà Lê Trung hưng.” (Trang 8 chữ Nho, trang 11 chữ Quốc ngữ).

Và “…hai câu đối do các cụ Đào Đình Đắc, Phan Đức Trung và cụ Nguyễn Văn Thành đã chép lại như sau: Câu thứ nhất là: Nguyễn Triều Thuận Hóa chi thứ đích – Đào tộc Tùng Khê Phạm Đại Lang, câu thứ hai là: Nguyễn Triều Đô Hóa chi thứ đích – Đào tộc Song Khê Phạm Đại Lang.

Dịch nghĩa là triều đình họ Nguyễn ở Huế là chi thứ, họ Đào ở Song Khê (Tùng Khê) người con cả cải sang họ Phạm là chi trưởng” (trang 22 chữ nho và trang 22 chữ Quốc ngữ)

Qua đoạn gia phả trên, ta có nhận xét:

* Cụ Đào Sư Tích cáo quan về sống ẩn dật tại Lý Hải, (với mục đích lập căn cứ chống nhà Hồ) khi bị buộc đi sứ bắc đã  cho con cháu thay tên đổi họ chạy lánh nạn…, có 7 chi cải sang họ Nguyễn (không có Nguyễn Kim).

* Đức tổ Đào Biểu có hai con là bậc công thần, con trưởng là Đào Sỹ Từ, con thứ là Đào Sỹ Định. Cũng tại quyển gia phả này đoạn khác lại ghi Đức tổ Đào Biểu có ba người con cháu làm quan lớn trong triều là Định quận công Đào Sỹ Định, Cống quận công Đào Sỹ Kỳ và Chiêu Huân công Nguyễn Kim. Cốt lõi đoạn văn này, hiểu là ba người đều mang huyết thống của Đức tổ Đào Biểu (Đào Sỹ Từ  và Đào Sĩ Định là con đức Đào Biểu, còn Đào Sỹ Kỳ là con của Đào Sĩ Từ, và Nguyễn Kim là con của Đào Sĩ Định đều là cháu nội của Đào Biểu. Là hai anh em song Đào Sĩ Định là chi trưởng, Nguyễn Kim là chi thứ) cùng hợp sức phù Lê, diệt Mạc, sang Lào đưa Lê Trang Tông về làm vua.

Như vậy Nguyễn Kim không nằm trong số 7 chi họ Đào là con cháu Đào Sư Tích đổi sang họ Nguyễn. Song cụ có phải là cháu nội của đức tổ Đào Biểu có gốc Dương Đào như nói trên không thì cần được phối hợp với họ Nguyễn làm rõ.

Nếu họ Đào ở Nam Định hậu duệ của cụ Đào Sư Tích (gốc họ Dương từ Dương Hoán) và Đức tổ Đào Biểu ở thời Lê Sơ có con cháu do thời thế phải đổi sang họ Nguyễn. Trong đó có chi ngành của Nguyễn Kim – ông Tổ của họ Nguyễn Gia Long. Quả đúng như vậy thì ngoài bốn chi là con cháu Đào Sư Tích vẫn mang họ Nguyễn thì toàn bộ vương triều họ Nguyễn trải dài 300 năm đều là có gốc từ họ Dương của Đức tổ Đào Biểu.

Ba tồn nghi trên là những nội dung động trời, rung chuyển cả nền lịch sử hình thành bách gia trăm họ Việt Nam. Nếu có một phần sự thực như thế thì cũng nói lên tầm vóc vô cùng to lớn của họ Dương từ người nguyên thuỷ Việt Nam trưởng thành phát triển xuyên suốt trong lịch sử hình thành dân tộc ta. Điều đó nói rằng họ Dương Việt Nam không chỉ chiếm 1% dân số mà cộng cả sáu họ (Dương, Nguyễn, Trần, Đào, Phạm, Lý) thì có lẽ người họ Dương phải chiếm trên 30% dân Việt. (Trường hợp Lý Thần Tông chính là họ Lý thì sẽ không có câu chuyện họ Đào, họ Nguyễn có xuất xứ từ họ Dương).

Người họ Dương rất tự hào về dòng họ, song cũng phải có trách nhiệm cùng các họ liên quan giải mã hiện tượng lịch sử dân tộc học này để khỏi mang tiếng là ngộ nhận.

VIII – Kết luận 

Do lịch sử đau thương và vẻ vang của dân tộc trải dài 3.000 năm thăng trầm, tư liệu cũ bị giặc Tàu tiêu huỷ nhiều, không còn lưu giữ, lại loạn lạc binh đao ly tán, nên bây giờ các học giả và con cháu họ Dương sưu tầm lịch sử và nguồn cội gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Các sử gia ngày trước có hai dòng lưu sử viết trong thư tịch cổ:

– Dòng xưng tụng phục vụ cho vua tại vị chỉ viết điều hay điều tốt.

– Dòng chuẩn mực viết chính xác mọi sự kiện để đời sau lưu truyền.

Do vậy khai thác từ hai nguồn này sẽ có kết quả sai khác, chưa nói là trái ngược. Lại nữa, có những quan điểm cục bộ  vơ vào không vì cái chung nên khiên cưỡng chủ quan áp đặt. Nhiều tư liệu về xuất xứ danh nhân anh hùng họ Dương cũng còn chưa rõ hoặc nhiều thông tin sai lạc.

Để đi đến thống nhất cao về nguồn gốc phát tích họ Dương và hiệu đính các sai khác, dị bản, chúng ta cần đầu tư chi phí nghiên cứu nghiêm túc, có Hội thảo khoa học, có sự tham gia của nhiều học giả tài năng trong và ngoài dòng họ, có tham luận khoa học với cứ liệu lịch sử thuyết phục trên cơ sở duy vật biện chứng, lược bỏ các yếu tố bản vị, cục bộ, hay huyễn hoặc để đi đến chân lý chung.

Bao nhiêu lần xâm lược nước ta, quan quân các triều đại phong kiến Trung Quốc Hán, Đường, Tống,  Nguyên, Minh, Thanh… đã ôm đầu máu trở về Bắc quốc…

Ba lần làm vườn không nhà trống, thời Trần đánh giặc Nguyên Mông, di sản của tổ tiên bị hư hao mất mát.

Dã tâm nhất trong các cuộc xâm lược nước ta là nhà Minh. Họ muốn đồng hóa dân ta, sát phu hiếp phụ, đốt sách, giết học trò thực hiện các hành vi man rợ nhất các thời đại… Một mẩu giấy có chữ Nho cũng thu và đốt, sách quý, gái đẹp, người tài thì mang về Trung Hoa. Do thảm họa này, các thư tịch cổ của ta bị mất hết, dòng chảy lịch sử bị đứt đoạn.

Sử sách nước nhà thiếu tư liệu cổ nên các sử gia khi viết về lịch sử đã để lại nhiều khoảng trống và tồn nghi khó lý giải.

Tư liệu bây giờ chỉ còn ở tàng thư, chính sử, Dương tộc kỷ sử và gia phả các chi họ cùng với truyền ngôn…, chúng ta cần căn cứ phép duy vật biện chứng sàng lọc suy xét đãi cát tìm vàng để có kết quả cao và có sức thuyết phục nhất. Ngay trong các tư liệu chính thống cũng có sai lạc và hạn chế lịch sử, phương pháp luận của người xưa cũng hạn chế bởi chưa có nhãn quan khoa học của khảo cổ học, của thuyết tiến hoá, của các công trình nghiên cứu về Gien..  nên còn bế tắc, thường dựa vào truyền ngôn và có yếu tố huyễn hoặc. Còn về gia phả, người viết là các cụ tổ ta có học, đỗ đạt từ thời Lý trở về sau biên soạn, khi ấy các cụ chỉ viết tương đối đúng từ xung quanh đời các cụ mà thôi, còn viết về quá khứ thì cũng dựa vào truyền thuyết hoặc các bản ngọc phả và thường suy luận theo chủ quan hoặc kết nối giữa các đời chỉ theo ước lệ hoặc cảm hứng. Trong thực tế, các bộ sử và gia phả của họ có rất nhiều tồn nghi và sai khác với chính sử và sai ngay trong các tài liệu cùng một nguồn xuất xử.

Trong những tồn nghi nói trên, bằng công nghệ phân tích AND hiện đại và nghiên cứu về gen di truyền, khoa học ngày nay đủ sức tìm sự liên quan về huyết thống của dòng họ. Kính mong HDVN quan tâm đầu tư kinh phí nghiên cứu theo hướng này để giải ảo nhiều vấn đề cần làm rõ trong họ Dương.

Là người ngoài chuyên môn, viết sử, không tránh khỏi thiếu sót, song bằng tất cả vốn sống và lòng yêu họ với sự say mê, nhiệt tình, suy nghĩ logic và biện chứng, tôi viết cuốn sử này như một nén hương thơm dâng lên tiên tổ và kính tặng dòng họ Dương mến yêu.

Rất mong nhận được cuốn sách này, các vị lãnh đạo, các vị có trách nhiệm, các vị có tâm trong dòng họ, các nhà sử học, các tác gia, những người am tường trong và ngoài dòng họ, chiếu cố đọc, luận đàm cùng tác giả và có lời phê bình, phản biện, bổ sung góp ý. Tác giả xin cám ơn và chân thành thỉnh giáo.

IX – Phụ lục

1- Hội đồng Họ Dương Việt Nam 29 năm xây dựng và hoạt động (theo tài liệu do ông Dương Xuân Thìn – nguyên PCT HĐHDVN đăng trên trang thông tin của dòng họ)

Năm 1991

Khởi đầu từ các ông Dương Văn Kiện, Dương Văn Thiều, Dương Hồng Kỳ hợp thành “Nhóm kết nối”, quyết định chọn Hà Tĩnh để kết nối, thành lập Ban Liên lạc họ Dương tỉnh đầu tiên, làm mẫu, tạo tiền đề cho việc thành lập Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc. Chủ trương chỉ kết nối người họ Dương “mộc dịch” mãn thiên hạ vô nhị tính của Việt nam.

Ngày 31 tháng 8 năm 1991, Ban Liên lạc họ Dương Hà Tĩnh được  thành lập và cử ông Dương Xuân Thâu làm Trưởng ban; Phó Trưởng ban: Dương Văn Quý, Dương Đình Tuyến; các thành viên: Dương Lê Nhưỡng,…

Năm 1992

Ngày 22-3-1992, tại số nhà 48 Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình, Hà Nội, Hội nghị toàn thể họ Dương Việt Nam lần thứ I được triệu tập, với sự có mặt của gần 50 đại biểu đại diện cho họ Dương các tỉnh, thành phố.

Hội nghị đã ra quyết định thành lập Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc, cử ông Dương Văn Kiện quê Vĩnh Phúc, sinh năm 1931, nguyên Chánh văn phòng Bộ kế hoạch – đầu tư làm Trưởng Ban liên lạc họ Dương toàn quốc. Ông Dương Văn Thiều sinh năm 1928 tại Nghệ An làm Thư ký Ban Liên lạc kiêm Trưởng Ban nghiên cứu Lịch sử họ Dương; ủy viên Ban Liên lạc gồm các ông bà: Dương Văn Dật- nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính, Dương Viên, Dương Văn Thâu, Dương Danh Nhượng, Dương Lê Nhuận, Dương Hồng Kỳ, Dương Thụ, Dương Văn Dân (Hưng Yên).

Năm 1995

Ngày 4-9-1995 (10-8 Ất Hợi), Ban Liên lạc HDVN tổ chức Hội nghị toàn thể lần thứ II, tại số nhà 12 phố Lê Lai, tổng kết công tác kết nối 3 năm qua, lập kế hoạch xây dựng và phát triển Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc. Hội nghị bầu ông Dương Văn Quý làm Phó Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc. Ông Dương Xuân Thìn làm thư ký, ông Dương Văn Thiều- Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử họ Dương.

Năm 2001

Ngày 25-3-2001(1/3 Tân Tỵ), tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền ở quận Cầu Giấy – Hà Nội, Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc tổ chức Hội nghị toàn thể lần thứ III, với đông đảo đại biểu đại diện cho hơn 100 chi họ Dương cả nước đến dự… Cử ông Dương Văn Linh làm Phó Ban Thường trực Ban LL họ Dương toàn quốc.. Thành lập Ban Liên lạc họ Dương miền Nam, cử ông Dương Đình Tú – Phó Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc. làm Trưởng Ban Liên lạc họ Dương miền Nam. Bổ sung 12 ông vào Ban LLHDVN: Ông Minh (Hà Nam), ông Bái (Hải Phòng – Dương Văn Bái thân phụ Dương Anh Điền nguyên Chủ tịch, Bí thư thành phố Hải Phòng), ông Bờ (Bắc Giang), ông Thềm (Hải Dương), ông Long (Thanh Hóa), ông Hán (Lạng Sơn), ông Hiền (Hưng Yên), ông Thắng (Quảng Bình), ông Thìn (Đông Anh), các ông Đạo, Cường, Quát (Quảng Nam). Cử ông Dương Văn Hán phụ trách 4 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn.

Năm 2005

Ngày 11-5-2005, Hội nghị thường trực Ban LL họ Dương toàn quốc ra nghị quyết:

Tổ chức lễ kỷ niệm 500 năm sinh Trạng nguyên Dương Phúc Tư tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội vào 16-11-2005. Tiếp tục làm văn bản gửi UBND thành phố Hà Nội về việc đặt tên đường phố Dương Đình Nghệ. Cử ông Dương Ngọc Sơn làm Phó Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc; ông Dương Viết Khớ làm Phó Trưởng Ban liên lạc họ Dương miền Nam. Kêu gọi ủng hộ quỹ Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc.

Năm 2008

Ngày 6-4-2008 (2-3 Mậu Tý), Hội nghị toàn thể họ Dương lần thứ IV được tổ chức tại Học viện Hành chính Quốc gia Hà Nội. Báo cáo nêu rõ:

Tính đến tháng 3-2008, đã có 114 chi họ Dương ở cả ba miền tham gia hoạt động dòng tộc. Phối hợp với tỉnh Thanh Hóa tổ chức hội thảo về thân thế sự nghiệp Dương Đình Nghệ. Kêu gọi hướng tâm công đức xây dựng lăng miếu Bình Vương Dương Tam Kha ở Thanh Hóa.

Năm 2009

Tháng 8-2009, Hội nghị Thường trực Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc được triệu tập, ra nghị quyết:

Ông Dương Thanh Xuân làm Trưởng Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc thay ông Dương Văn Kiện từ trần ngày 26-5-2009 (3-5 Kỷ Sửu). Ban Thường trực mới tiếp tục hết nhiệm kỳ V là Dương Thanh Xuân, Dương Tự Đam – Phó ban thường trực, Dương Xuân Thìn – Phó Trưởng ban kiêm Tổng thư ký. Phó Trưởng ban gồm các ông: Dương Quốc Sỹ, Dương Quang Ngọc, Dương Kiện. Các ông UVTT: Dương Văn Sao, Dương Đình Giám, Dương Thúy Mỹ, Dương Văn Niết, Dương Viên, Dương Đình Tước, Dương Quang Cẩn, Dương Thị Thanh Mai, Dương Văn Thật, Dương Đình Khải. Cố vấn Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc: Dương Văn Dật, Dương Văn Thiều.

Năm 2010

Ngày 26-6-2010, Hội nghị toàn thể họ Dương toàn quốc. lần thứ V, được tổ chức tại Hội trường Trường Đại học Công đoàn Hà Nội. Báo cáo nêu lên kết quả hoạt động trong 2 năm qua, nổi bật là: Xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức họ Dương từ chi họ đến dòng họ trên phạm vi cả nước. Nghị quyết của hội nghị: Đổi tên Ban Liên lạc họ Dương toàn quốc. thành Hội đồng Dòng tộc họ Dương Việt Nam, để tập hợp tất cả người họ Dương từ nhiều dòng vào một tổ chức của họ.

Năm 2011

Ngày 15-10-2011, Hội đồng Dòng tộc họ Dương Việt Nam phối hợp với Viện sử học, UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội thảo khoa học cấp Quốc gia:

“Dương Đình Nghệ với công cuộc gây dựng nền tự chủ thế kỷ X”

Với nhiều báo cáo có giá trị của các nhà sử học, vai trò của nhiều nhân vật họ Dương trong lịch sử giữ nước, giành quyền tự chủ cho dân tộc được làm sáng tỏ.

Năm 2012

Văn phòng Hội đồng Dòng tộc họ Dương Việt Nam chuyển về đóng ở phố Trung Kính- Hà Nội, Ông Dương Phúc Hiệu- thường trực văn phòng.

Ông Dương Công Minh bắt đầu nhận tài trợ cho hoạt động khoa học – kĩ thuật và mừng thọ. Ngày 2-12-2012, tại thành phố Bắc Giang, hội nghị vinh danh học sinh giỏi họ Dương Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức trọng thể.

Năm 2013

Lễ hội mùa Xuân họ Dương Việt Nam lần thứ nhất (Hội nghị toàn thể họ Dương Việt Nam lần thứ VI) được tổ chức vào 10-3-2013 tại tỉnh Bắc Ninh, với 2 nghìn đại biểu đến dự. Đổi tên Hội đồng Dòng tộc họ Dương Việt Nam thành Hội đồng Họ Dương Việt Nam. Bầu Hội đồng Họ Dương Việt Nam nhiệm kỳ (2013-2018), ông Dương Đình Chiến làm Chủ tịch; 8 phó chủ tịch; 48 ủy viên.

Năm 2014

Lễ hội Mùa xuân lần thứ hai được tổ chức vào ngày 8,9-2-2014 tại tỉnh Bắc Ninh, với sự có mặt của 5 nghìn đại biểu.

Đã có 40 tỉnh thành thành lập Hội đồng Họ Dương; 2 Hội đồng Họ Dương nước ngoài.

Thông qua kế hoạch xây dựng bộ sách Lịch sử Họ Dương Việt Nam gồm 5 tập; công bố điều lệ Hội đồng Họ Dương Việt Nam, tộc kỳ, tộc ca.

Năm 2015

Lễ hội Mùa xuân họ Dương Việt Nam lần thứ ba được tổ chức vào ngày 28-2 và 1-3 năm 2015 tại thành phố Bắc Ninh, với sự tham dự của hơn 10 nghìn lượt người.

Thưởng khoa học – kĩ thuật và mừng thọ là 7,7 tỷ đồng trích từ quỹ của Hội đồng Họ Dương Việt Nam do ông Dương Công Minh tài trợ.

Năm 2015, có 54 tỉnh thành trong nước đã có Hội đồng Họ Dương, 3 Hội đồng Họ Dương nước ngoài.

Thành lập CLB DN-DN HDVN và Tổng hội TN, HS-SV HDVN.

Năm 2016

Lễ hội Mùa xuân họ Dương Việt Nam lần thứ tư được tổ chức ngày 19, 21-2-2016 , tại Bắc Ninh, với hơn 12 nghìn lượt người đến dự. Thưởng khoa học – kĩ thuật và mừng thọ là 8,273 tỷ đồng trích từ quỹ của Hội đồng Họ Dương Việt Nam do ông Dương Công Minh tài trợ.

Năm 2016, đã kết nối 63 tỉnh thành trong cả nước có Hội đồng Họ Dương, 4 Hội đồng Họ Dương ở nước ngoài.

Năm 2017

Lễ hội Mùa xuân họ Dương Việt Nam lần thứ năm được tổ chức vào ngày 10 – 12 tháng 2 năm 2017 tại thành phố Đà Nẵng.

Kết quả xét duyệt đợt 1 tính đến 5-12-2016 về khoa học – kĩ thuật và mừng thọ năm 2016 với tổng số tiền thưởng là: 8 tỷ 279 triệu đồng.

Đến 2017, việc kết nối thành lập Hội đồng Họ Dương cấp tỉnh đã hoàn thành trên 63 tỉnh, thành cả nước. Hoạt động của Hội đồng Họ Dương Việt Nam từ đây bước sang giai đoạn mới: Coi trọng chiều sâu và nâng cao chất lượng các hoạt động nhằm thực hiện tốt 5 nhiệm vụ cơ bản nêu trong Điều lệ Họ Dương Việt Nam.

Năm 2018

Lễ hội Mùa xuân họ Dương Việt Nam lần thứ sáu được tổ chức vào ngày 23-25 tháng 2 năm 2018 tại thành phố Cần Thơ.

Đại hội Họ Dương Việt Nam diễn ra trong hai ngày 23-24/6/2018.

Đại hội đã thông qua điều lệ họ Dương Việt Nam năm 2018 (sửa đổi, bổ sung Điều lệ HDVN năm 2013).

Bầu Ban lãnh đạo Hội đồng Họ Dương Việt Nam khóa VII  nhiệm kỳ 2018 – 2023.

Chủ tịch: Dương Công Minh. Các Phó chủ tịch: Dương Đào Hồng Tuyển, Dương Quang Nghị, Dương Huy Linh, Phạm Thị Thu Hằng, Dương Quốc Trọng, Dương Quốc Sỹ, Dương Quốc Tiến, Dương Tấn Cường, Dương Thanh Tương, Dương Công Đức, Dương Văn Bé Hai, Dương Văn Đảm, Dương Thanh Biểu, Dương Trung Quốc, Dương Văn Canh, Dương Ngọc Lương.

Tổng kết  CLB DNDN, trại hè hội thanh niên họ Dương Việt Nam.

Năm 2019

Ngày hội văn hóa Mùa xuân họ Dương Việt Nam lần thứ bảy được tổ chức vào ngày 22-24 tháng 2 năm 2019 tại tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 23-2-2019 tổ chức phiên họp bất thường Đại hội đại biểu họ Dương Việt Nam nhiệm kỳ 2018 – 2023 để sửa đổi, bổ sung một số điểm của Điều lệ năm 2018. Căn cứ kết quả chấm thi sáng tác tộc huy, tộc ký mới, đã bỏ tộc huy, tộc kỳ cũ, bỏ chữ Dương là chữ Nho thay bằng chữ Quốc ngữ. Lý do chữ Nho là của người Trung Quốc (?) và một chữ Dương Mộc dịch (楊) không đại diện được cho những người họ Dương mang tên viết bằng chữ Dương khác (Dương mặt trời (阳), âm dương (陽), Dương con dê (羊)…), do các dòng họ ấy không thấy chữ viết tên họ mình nên không muốn sinh hoạt với HDVN vì vậy dùng chữ Quốc ngữ, các chi dòng họ Dương khác sẽ không còn thắc mắc.

Tổng hợp số liệu đã thực hiện năm 2018 báo cáo tại lễ hội 2019:

– Quỹ Khuyến học khuyến tài đã khen thưởng 2063 em đỗ đại học, 801 em có kết quả học tập xuất sắc, 48 em đạt huy chương các loại, 34 tiến sĩ, 3 giáo sư, 9 phó giáo sư, 2 sáng chế quốc gia, 1 thầy thuốc ưu tú, 1 nhà giáo ưu tú. Với tổng tiền thưởng là: 7.163.000.000 đồng.

– Mừng thọ người cao tuổi:11.062 cụ, trong đó có 337 cụ trên 100 tuổi. Với tổng số tiền mừng thọ là: 13.883.500.000 đồng.

Năm 2020

Do đại dịch covid 19, ngày hội văn hóa Mùa xuân họ Dương Việt Nam lần thứ tám tạm hoãn. Đến đầu năm 2020, họ Dương có: 1.522.697 người trai gái dâu (rể có quy định riêng), 59 tỉnh, thành phố đã thành lập Hội đồng Họ Dương (4 tỉnh còn lại đã có Ban Liên lạc họ Dương), trên cả nước có 325 Hội đồng Họ Dương cấp quận, huyện.

Thành lập 48 CLB Doanh nghiệp-Doanh nhân họ Dương các tỉnh thành phố với gần 1.000 doanh nghiệp họ Dương tham gia. Cả nước có 40 tỉnh thành phố có Câu lạc bộ Thanh niên họ Dương.

Ông Dương Công Minh- Chủ tịch Hội đồng Họ Dương Việt Nam tài trợ 100%  cho Quỹ Khuyến học và mừng thọ là: 24.283.760.000 đồng. Trong đó:

– Đã mừng thọ cho 13.517 cụ ông, cụ bà và con dâu của họ Dương trong cả nước (Trong đó có 445 cụ trên 100 tuổi) với tổng số tiền là: 17.018.500.000 đồng.

– 2.237 em đỗ các trường Đại học hệ chính quy.

– 702 em sinh viên họ Dương học tập và tốt nghiệp đạt giỏi, xuất sắc.

– 107 em học sinh, sinh viên họ Dương đạt huy chương Vàng, Bạc, Đồng quốc gia và quốc tế.

– Được công nhận và cấp bằng Tiến sỹ: 36; Sáng chế QT: 1; Nghệ sỹ ưu tú:1; Nghệ nhân ưu tú: 6

Cộng số tiền thưởng chi cho các danh hiệu trên là: 7.265.260.000 đồng. Ông Dương Huy Linh sáng lập Quỹ Hỗ trợ tài năng tài trợ 2.174 người, số tiền là: 6.578.700.000 đồng.

2- Đền thờ tiêu biểu của họ Dương

a/ Đền thờ Dương Tự Minh

Ngôi đền thờ Dương Tự Minh (Thánh Đuổm) – một vị tướng người Tày, phò mã nhà Lý, đã có nhiều công trạng giúp quê hương đất nước.

Đền tọa lạc tại chân núi Đuổm, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, bên quốc lộ 3, cách thành phố Thái Nguyên 25 km về phía tây bắc. Tương truyền, đây chính là nơi ông thác lúc về già. Ba dãy núi đột khởi giữa cánh đồng trông như những cánh nhạn bay. Đền được xây ở phần lõm của ngọn núi phía trước và được ngọn núi che chở vĩnh hằng.

Đền Đuổm được xây dựng từ thế kỷ XII, đến nay đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính của kiến trúc truyền thống. Ngôi đền tọa lạc dưới chân núi Đuổm, có tam quan hướng ra quốc lộ. Các hạng mục chính gồm lầu chuông, đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, được bố trí dựa vào sườn núi theo thứ tự từ thấp lên cao.

Đền Hạ là nơi thờ hai công chúa Diên Bình và Thiều Dung; đền Trung là nơi thờ danh nhân Dương Tự Minh và đền Thượng là nơi thờ thân mẫu của ông. Phía trước đền là một không gian rộng lớn với cánh đồng, đồi cọ, đồi chè và con sông Cầu uốn khúc chảy qua. Tuy quy mô không lớn nhưng đền Đuổm là một quần thể kiến trúc đẹp, uy nghiêm, là danh thắng hàng đầu của vùng đất trung du Thái Nguyên.

Đền Đuổm đã được xếp hạng Di tích quốc gia từ năm 1993. Hằng năm, từ ngày 6 đến ngày 8 tháng Giêng, huyện Phú Lương lại tổ chức lễ hội đền Đuổm để tưởng nhớ công lao của Dương Tự Minh. Hiện nay, đền Đuổm là điểm sáng về du lịch của huyện Phú Lương và tỉnh Thái Nguyên.

Ghi ơn vị thánh của dân tộc, của họ Dương linh thiêng được nhân dân tôn sung, họ Dương Việt Nam đã có nghĩa cử cao đẹp, chủ tịch họ Dương Việt Nam Dương Công Minh đã công đức cho đền 4 tỷ để trùng tu khu đền khang trang tố hảo. Nơi đây thực sự là địa chỉ cho người họ Dương hướng về nguồn cội.

b/ Đền thờ Dương Thanh

Dương Thanh là thứ sử Hoan châu, được Lý Tượng Cổ quan cai trị nhà Hán điều ra Tống Bình để khống chế. Năm 819 được cử đi dẹp loạn, ông đã cùng con trai và tướng tâm phúc Đỗ Sĩ Giao tổ chức khởi nghĩa giết Lý Tượng Cổ giành chính quyền. Tuy chỉ quản lý đất nước 8 tháng song ông đã để lại cho đời sau một tấm gương yêu nước quật cường chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Ngày nay, cả họ Dương chung sức xây dựng đền thờ để tri ân tiên tổ.

Đền thờ Dương tướng công được xây dựng tại thôn Văn Lang, xã Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền thờ được tọa lạc trên khuôn viên rộng 1.750 m2, bao gồm: ngôi điện thờ hướng Đông Nam, diện tích 130 m2, làm bằng chất liệu bê tông cốt thép. Nội điện có tượng Tổ bằng đồng, hoành phi câu đối, sơn son thiếp vàng cùng nhiều đồ thờ quý.

Ngoài điện thờ có chiếu rồng, lan can, cuốn thư, kỳ đài, sân, nhà tả vu, nhà hữu vu, nhà bia, tượng quan, voi quỳ, ngựa đứng, nhà khách, điện nước, tường bao, tường rào bằng nhôm đúc, cổng Đền, tam môn – tứ trụ, hồ phong thủy. Cảnh quan quanh đền đẹp đẽ với cổng làng Văn Lang được xây mới, sân thể thao, đường làng được sửa chữa khang trang, sạch đẹp.

Kinh phí xây dựng công trình là 18.110.058.000 đồng. (Trong đó, các tổ chức và cá nhân họ Dương cả nước đã quyên góp được số tiền 605.700.000 đồng), chi phí mua đất là 1.267.101.000 đồng; phần kinh phí còn lại sử dụng vào việc xây dựng các hạng mục của công trình.

Đền thờ Nam bang Đại tướng Dương Thanh đã được khởi công xây dựng từ ngày 5 tháng 8 năm 2018, khánh thành ngày 9 tháng 11 năm 2019. Đền thờ được xây dựng đúng tiến độ, chất lượng đảm bảo đã thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn cao đẹp của dân tộc ta nói chung và dòng tộc họ Dương nói riêng đối với bậc tiền nhân đã có công với đất nước. Đây là nơi để giáo dục và kế thừa tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương cũng như du khách thập phương trong cả nước.

Lời bàn: Về cuộc đời và sự nghiệp của Dương Thanh sau hội thảo tại Nghệ An vẫn còn chưa có sự thống nhất cao, song trên văn bia mới khắc ở đền thờ Dương Thanh tại Hưng Nguyên, Nghệ An lại có những ý chưa phù hợp, cần sửa lại theo nội dung:

– Khắc lại tên của cụ là Dương Thanh, húy Kim Thanh theo Dương tộc kỷ sử, bỏ tên Trạm Thanh vì không có căn cứ vững chắc.

– Sửa lại nội dung cụ là người Hoan châu không phải người  Giao châu (ở vùng châu thổ sông Hồng).

– Bỏ cụm từ Dương Thanh là một “tù trưởng thế tập” của người Việt. (Dòng trên đã ghi là thứ sử châu Hoan là đúng và đủ).

– Bỏ đoạn theo Tân Đường thư đi và ghi là theo Đại Việt sử ký toàn thư và Dương tộc kỷ sử là đến năm 828, cụ vần còn chống nhà Đường.

– Về tên gọi của Dương Thanh tại đền thờ là: “Nam bang đại tướng Dương Thanh” cũng không phù hợp, bởi lẽ đã vô tình công nhận nước ta là phiên thuộc của nhà Đường.

c/ Đền thờ Dương Đình Nghệ

Đền Dương Đình Nghệ xưa thuộc làng Dương Xá, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hoá; nay là làng Giàng, xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hoá. Đây là nơi thờ Dương Đình Nghệ – một tướng lĩnh tài năng văn võ song toàn, là một hào trưởng, từng là bộ tướng của cha con Khúc Hạo – Khúc Thừa Mỹ (thế kỷ X). Trong khuôn viên quần thể di tích còn có ngôi chùa Phúc Hưng, tương truyền là nơi khai mở họ Dương, có lịch sử lâu đời, được trùng tu nhiều lần vào thời Lê và thời Nguyễn.

Tương truyền, sau khi Dương Đình Nghệ mất, ông đã được an táng ngay tại quê nhà với hình thức “thượng sàng hạ mộ” tức dưới là mộ, trên là giường thờ. Cùng với đó, đền thờ ông cũng được nhân dân khởi dựng (ngay trên nền nhà cũ của ông) để tưởng nhớ vị tướng tài ba nắm giữ ngôi vị tương tự như vua chúa trong 6 năm. Tháng 3/1996, đền thờ Dương Đình Nghệ được Bộ VHTT (nay là Bộ VH,TT&DL) công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Trải qua thời gian cả nghìn năm, việc xuống cấp tại di tích là điều không tránh khỏi. Và năm 2004, đánh dấu cuộc “đại trùng tu” khi di tích được khôi phục lại với diện mạo khang trang, bề thế, xứng tầm công lao của danh tướng Dương Đình Nghệ.

Bên cạnh đó, tại di tích hiện nay vẫn còn lưu giữ một số hiện vật cổ xưa quý giá: ngựa bạch, đôi ngựa đá, đôi voi quỳ và đôi phỗng đá chắp tay trong tư thế cúi chào. Được biết, tất cả những hiện vật nói trên đều mang bóng dáng của dấu ấn văn hóa Chăm thời xa xưa.

Vào ngày 12,13,14 tháng 3 (âm lịch) hằng năm, người dân Dương Xá xưa, nay là xã Thiệu Dương lại cùng nhau tụ hội tại đền thờ Dương Đình Nghệ để mở hội tưởng nhớ công đức của vị tướng họ Dương.

Di tích không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh của người dân địa phương. Đây còn là nơi dừng chân của con cháu dòng họ Dương trên khắp mọi miền Tổ quốc, cùng những đoàn khách phương xa mến mộ cảnh đẹp và danh tiếng của vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của người dân Việt, của họ Dương cùng bách gia trăm họ.

Ngày nay con cháu họ Dương lớn mạnh, đoàn kết dưới sự trợ phù của tiên tổ, uống nước nhớ nguồn, ghi ơn cụ tổ anh hùng dân tộc, người đầu tiên còn cả di cả tích còn đền thờ cổ. Họ Dương Việt Nam có kế hoạch cùng tỉnh Thanh Hóa điều chỉnh lại quy hoạch khu di tích đã duyệt, để mở rộng và trùng tu xây dựng hoàn chỉnh lại đền với các hạng mục và quy mô tương ứng với công tích của cụ tổ họ.

Nổi bật của di tích là đôi câu đối cổ:

 “Dưỡng tam thiên nghĩa sĩ, dĩ phục thù băng băng kinh khí

 Chưởng bát vạn hùng binh nhi xuất chiến lẫm lẫm uy danh”

Tạm dịch:

 “Nuôi ba ngàn nghĩa sĩ để phục thù bừng bừng khí dũng

 Cầm đầu tám vạn quân xuất trận lẫm lẫm uy danh”.

Để ghi nhớ công ơn của anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ với non sông đất nước, năm 2020, họ Dương Việt Nam đã có kế hoạch trùng tu tôn tạo di tích đền thờ theo hướng tách khu đền, khu lăng mộ và xây dựng các công trình phụ trợ với quy mô hoành tráng và hoàn chỉnh mọi hạng mục. Công trình Đền thờ Dương Đình Nghệ tại thủ phủ Châu Ái cũ, giữa vùng văn hóa Đông Sơn, nơi phát tích họ Dương và các họ thuần Việt, nằm trên đường Nam Bắc, sẽ là điểm đến cho con cháu họ Dương đi xa về gần thắp hương tưởng niệm tổ tiên của dòng họ.

d/ Lăng miếu Bình Vương Dương Tam Kha

Lăng miếu Bình Vương Dương Tam Kha được xây dựng tại thôn Thành Đạt, xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Lăng miếu được động thổ xây dựng ngày 23/6/2015, gồm 2 khu chính là khu Lăng mộ và khu Đền thờkhuôn viên trên 1.500m2, mảnh đất vuông vắn nhìn ra đường trục, thuận về phong thuỷ được thiết kế theo lối kiến trúc cổ kính, khang trang, bề thế uy nghiêm, mang đậm phong cách Á Đông.

Các hạng mục bao gồm: Mộ được xây bao hình bát giác, đền thờ chính, nhà Tả vu và Hữu vu, gác biacổng kiểu tam quan tứ trụ, nhà khách, tượng, voi, quan canh, tường bao, bãi đỗ xe. Tổng mức đầu tư công trình giai đoạn 1 khoảng hơn 15 tỷ đồng.

Đền chính mái kiến trúc kiểu tầu đao chồng diêm 2 tầng 8 mái đao. Các công trình phụ trợ kết hợp phòng làm việc, bếp, khu vệ sinh thành một khối. Hàng rào, cánh cổng tứ trụ làm bằng phôi nhôm đúc sơn màu vàng đen. Sân lát đá 700x700x30, đá bậc, bó vỉa, lan can con tiện, ao sen. Bậc đền chính, chiếu rồng, linh vật, tượng quan, tượng ngựa, tượng voi tạc bằng đá nguyên khối bia, lư hương bàn đá, đèn đá toàn bộ được làm bằng đá grannit đỏ Bình Định. Khu lăng miếu Bình Vương Dương Tam Kha được trùng tu tôn tạo khang trang, đẹp đẽ hơn sẽ đáp ứng được nguyện vọng tha thiết bấy lâu nay của toàn thể con cháu họ Dương Việt Nam và du khách thập phương mỗi khi về tham quan, chiêm bái nơi thờ tự của Người. Đây không chỉ là nơi phụng thờ Đức Bình Vương Dương Tam Kha mà còn là địa chỉ đỏ đáng tin cậy để giáo dục các thế hệ trẻ, nhất là thế hệ trẻ người họ Dương Việt Nam về truyền thống yêu nước, tinh thần quật cường của ông cha ta hàng nghìn năm qua trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc thân yêu và nguyện đoàn kết bên nhau thực hiện tốt đạo lý: Uống nước nhớ nguồn, tri ân Tổ tiên, đền ơn đáp nghĩa.

Ngày 10/9/2016, Hội đồng Họ Dương Việt Nam kết hợp với Hội đồng Họ Dương Thanh Hóa tổ chức lễ khánh thành.

Để ngôi đền được linh thiêng tố hảo, đầu năm 2020, HĐHDVN đã trùng tu, tôn tạo bổ sung các hạng mục, chiếu rồng, lư hương, bia Dương Tam Kha và bia công đức, quan canh, voi đá, ngựa đá (chế tác bằng đá garanit đỏ), lát sân nền, trồng cây xanh và hoàn thiện điện, nước, công trình phụ.

Đặc biệt lần trùng tu này đã tạc tượng đức Bình Vương, lễ “hô thần nhập tượng” được long trọng tổ chức ngày 10-1-2020. Kinh phí bổ sung là 3,8 tỷ do ông Dương Công Thuyên tiếp tục đầu tư. Nâng tổng kinh phí cả công trình là 18,8 tỷ.

Khu đền thờ là nơi con cháu họ Dương và khách thập phương chiêm bái tưởng nhớ đến vị danh nhân anh hùng dân tộc người họ Dương. Đền thờ là địa chỉ đỏ để giáo dục người trong họ và nhất là thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, tinh thần quật cường của ông cha ta từ hàng ngàn năm trước (theo thông tin tại bản tin HDVN số 29 tháng 3-2020).

e/ Hải Phòng Dương tộc đại từ đường

Đất cảng Hải Phòng có sông Bạch Đằng lừng lẫy chứng kiến nhiều chiến công hiển hách của tổ tiên nước Việt, của tổ tiên họ Dương. Theo chân chủ tướng Dương Tam Kha cùng Ngô Vương Quyền từ quê hương Thanh Hóa, nơi phát tích dòng họ ra Hải phòng đánh giặc và có nhiều con cháu ở lại vùng đất mới cửa sông lập nghiệp. Hội đồng Họ Dương Hải Phòng có nhiều chi họ gốc tích từ Đông Sơn, Thanh Hóa là hậu duệ của Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha. Đó là  các chi họ Dư Hàng Kênh, Quang Trung, Cộng Hiền, Nam Sơn, An Hồng, Minh Đức, Tiên Thanh… đến Hải Phòng lập nghiệp đã lâu đời.

Hội đồng Họ Dương thành phố Hải Phòng đến nay đã kết nối được 30 chi họ sinh hoạt trong 8 Hội đồng Họ Dương các quận huyện.

Để tưởng nhớ về công tích người anh hùng dân tộc Dương Tam Kha với miền quê Đất cảng, đồng thời có nơi sinh hoạt của cộng đồng dòng họ, thể theo ý nguyện của cả họ, Hội đồng Họ Dương Hải Phòng đã lập phương án xây dựng Hải Phòng Dương tộc đại từ đường.

Từ đường xây dựng trên khu đất thổ cư 1150 m2  được ông Dương Thanh Tùng- Trưởng họ Dương Nam Sơn, An Dương và vợ là bà Phạm Thị Hợp hiến tặng. Trên khu đất xây dựng từ đường sẽ kết hợp xây dựng khu từ thiện chăm sóc người trong họ có hoàn cảnh khó khăn.

Đại từ đường là nơi đặt bài vị thờ:

– Thủy tổ họ Dương Việt Nam.

– Thủy tổ các dòng họ Dương Hải Phòng.

– Ban thờ Dương Tam Kha.

– Ban thờ các Anh hùng liệt sỹ họ Dương.

– Ban thờ người họ Dương Hải Phòng có công với dòng họ.

Từ đường xây dựng tại thôn Quỳnh Hoàng, xã Nam Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Tổng diện tích: 1.150 m2.

* Đại Từ đường cao khoảng 11 m.

– Hình thức kiến trúc: Nhà thờ truyền thống một tầng, năm (05) gian, mái đao (hai tầng mái), tám (08) cột cái và mười sáu (16) cột quân.

* Nhà dưỡng lão:

– Diện tích đất xây dựng: khoảng 125 m2

– Hình thức kiến trúc: Nhà ở truyền thống, tường xây, mái ngói dân tộc

* Cổng, tường bao, sân trước, ngoại cảnh:

– Sân trước: 680 m2 lát gạch nung

– Ngoại cảnh: lầu vọng cảnh, cây xanh, tiểu cảnh, cột cờ, các bức phù điêu.

– Tường bao:

Đại từ đường có hình thức kiến trúc: truyền thống và các hạng mục được bố trí hài hòa. Cột xà chịu lực bằng bê tông cốt thép; tường vây xây gạch & chân tảng cột, chèn ngưỡng cửa, bậc thềm, rồng – chiếu, tắc môn, cây đèn lư hương… bằng đá tự nhiên, mái chồng con thuận, hoành – rui bằng gỗ lim và lợp ngói sò. Hệ thống cửa bàn-khung khách-bạo khách bằng gỗ lim.

Hải Phòng Dương tộc đại từ đường là nơi thờ cúng, tri ân tổ tiên, nơi vinh danh và lưu danh các bậc hiền tài của họ Dương tại Hải Phòng và Quốc gia. Là công trình văn hoá, tâm linh, kết nối và duy trì bản sắc dòng tộc, là môi trường giáo dục các thế hệ người họ Dương Hải Phòng hướng về cội nguồn, tri ân tổ tiên, đền ơn đáp nghĩa.

Nhà thờ còn là mái ấm gia đình cho những người họ Dương đặc biệt khó khăn, không nơi nương tựa và là nơi tổ chức các hoạt động của họ Dương Hải Phòng.

Công trình có tổng dự toán là 4 tỷ bằng tiền huy động từ toàn thể người họ Dương Hải Phòng và các nhà hảo tâm công đức và tài trợ. Công trình khởi công tháng 4-2019, nay đã hoàn thành cơ bản, cuối năm 2020 sẽ tổ chức lễ khánh thành.

Các câu đối bài trí trong từ đường, bên các ban thờ hầu hết do ông Dương Anh Dũng sáng tác và cùng HĐHDHP chỉnh sửa:

– Trên câu đầu:

      “Tiên tổ anh linh phù hậu thế

Tử tôn hiếu nghĩa báo tiền nhân”

– Bên bàn thờ Tổ tiên HDVN:

“Tiên tổ đồng hành cùng đất nước

Cháu con tiếp bước với non sông”

– Bên bàn thờ Tổ tiên HDHP:

       “Tình dòng tộc muôn đời bền chặt

 Nghĩa đệ huynh vạn thuở keo sơn

– Bên bàn thờ Dương Tam Kha:

“Châu Ái địa linh sinh chủ tướng

Đông Sơn nhân kiệt xuất Bình Vương”

– Bên bàn thờ Anh hùng Liệt sĩ:

 “Hoa thơm kính hương hồn liệt sĩ

Khói trầm dâng mẹ Việt anh hùng”

– Bên bàn thờ Người họ Dương có công với dòng họ:

“Khi xưa tiên tổ xây dòng họ

Ngày nay con cháu dựng Từ đường”

Hải Phòng Dương tộc đại từ đường là công trình tâm linh của một tỉnh thành được xây dựng tiên phong của họ Dương cả nước. Người họ Dương Hải Phòng tự hào đã có nghĩa cử uống nước nhớ nguồn tri ân tiên tổ, xây dựng “Dương Tộc Đại Từ Đường” làm báu vật cho muôn đời con cháu mai sau.

g/ Nhà thờ họ Dương Dư Hàng Kênh

Nhà thờ họ Dương Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng thờ Thái tổ Dương Quý Công tự Phúc An, quê gốc Thanh Hóa ra Hải Phòng lập nghiệp tính đến nay được 17 đời.

Đối với mỗi dòng tộc, nhà thờ là chốn linh thiêng, là điểm đến đầu tiên khi ta bước vào thế giới tâm linh, là nơi thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Là nơi cho ta tri ân tưởng nhớ ngưỡng vọng đến tiền nhân, là nơi khi thắp hương lên, ta có khoảng lặng để tự suy ngẫm về đạo lý làm người, uống nước nhớ nguồn và tự thân ta kiểm lại mình để sống tốt hơn ngày hôm trước.

Họ Dương Dư Hàng Kênh từ xa xưa đã rất quan tâm đến nguồn cội để lưu giữ lại cho các thế hệ sau biết về truyền thống của cha ông. Dòng họ đã lập gia phả, khắc văn bia và xây dựng nhà thờ đồng thời tổ chức giỗ tổ hằng năm.

Năm Thiệu Trị thứ tư 1845, nhà thờ được xây dựng ban đầu bằng tre gỗ. Năm 1907, nhà thờ được xây dựng lại, do cụ quan huyện Dương Văn Sách chỉ đạo thiết kế, thi công theo quy mô to đẹp. Từ đường dòng họ là một công trình bằng gỗ lim cổ, mang đậm dấu ấn một từ đường tiêu biểu thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ.

Từ đường có tổng diện tích 720 m2, riêng diện tích lòng nhà là 240 m2, có kết cấu chữ nhị, hoàn toàn bằng gỗ lim cổ. Gian đại bái nối với hậu đường bằng tòa thiêu hương, kiểu dáng như đình, miếu cổ mang đậm dấu ấn của nghệ thuật điêu khắc thời cuối Lê đầu Nguyễn. Nhà thờ họ có kết cấu kiểu trùng thiềm điệp ốc. Hệ thống nhiều nhà nối liền, gắn kết với nhau, gồm nhà tiền đường 5 gian, tòa thiêu hương một gian, nhà hậu đường ba gian, hai lầu tả vu, hữu vu, hai bên thiêu hương đặt bia đá cổ. Tòa tiền đường kết cấu khung gỗ bằng 4 bộ vì, vì cấu tạo bốn hàng chân cột, cấu trúc vì kiểu nóc thuận chồng giá chiêng, vì nách kẻ ngồi. Trên thuận, đấu được chạm nổi đề tài lá lật, cánh sen cách điệu. Các cấu kiện xà, kẻ bào nhẵn tạo dáng kiểu má chai. Các chân cột đều được kê trên chân tảng đá xanh. Tòa tiền đường cửa chính gồm ba gian theo kiểu cửa cổ, cửa thùng khung khách, thượng song hạ bản. Mái nhà tiền đường lợp ngói mũi, hồi trang trí trụ đấu hối văn. Qua tòa tiền đường đi vào phía trong trên chính đường thần đạo giữa hai nhà tiền đường và hậu đường là nhà thiêu hương. Tòa thiêu hương cấu tạo bộ khung bốn cột với hệ thống vì đơn giản, tạo mái đao cong, các góc đao đắp trang trí theo hình vân cụm, đỉnh nóc nhà thiêu hương và hai đầu bờ nóc đắp trang trí vân điệp mang hình dáng kìm ngậm bờ nóc. Hai bên tòa thiêu hương là thiên tỉnh (giếng trời), có hai nhà để bia đá.

Tòa hậu đường 3 gian bộ khung gỗ kết cấu 4 bộ vì, vì 4 hàng chân cột cấu trúc theo kiểu nhà trường thềm. Tòa hậu đường thực sự mới là nơi thể hiện nét trang trí điêu khắc gỗ của toàn bộ từ đường. Kết cấu vì của hậu đường kiểu thuận chồng 4 con, trên các cấu kiện của bộ vì như thuận, đầu dư, bảy, ván lá dong nghé bảy… đều được chú công điêu khắc rất chi tiết tinh xảo với các đề tài truyền thống như tứ quý, vân, điệp, hoa lá. Phần chạm khắc thể hiện sự điển hình tiêu biểu về điêu khắc gỗ của từ đường các dòng họ đầu thế kỷ 20.

Nhà thờ còn nguyên bản nhiều cổ vật và đồ thờ tự tế khí. Ngoài nhang án sập thờ thì đặc biệt còn 4 bia đá tạc bằng chữ nho từ năm 1845 và nhiều câu đối cổ, trong đó có 5 đôi được sơn son thiếp bạc phủ vàng ròng. Các câu đối chứa đựng nhiều thông điệp mà tiền nhân ghi nhận và di huấn lại cho con cháu muôn đời mai sau. Nhà thờ dòng họ được cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố số 63/QĐ-UB ngày 12-1-2012. Nhà thờ dòng họ linh thiêng đã phù trợ cho con cháu mát mẻ. Ông Dương Anh Điền- hậu duệ đời thứ 11 của cụ đã đảm nhiệm chức vụ Bí thư, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng.

3- Chùm thơ viết về họ Dương

 

 

HỌ DƯƠNG TRONG LÒNG TỔ QUỐC

 

Đất nước ta sinh ra từ trăm họ

Dòng họ nào cũng rực rỡ vinh quang

Cũng giống nòi máu đỏ da vàng

Cùng góp sức dựng non sông gấm vóc

Như cành lá của gốc cây Tổ quốc

Họ Dương ta là một tán xanh ngời

Thuở khai thiên Kinh Dương Vương dựng nước

Có lạc hầu, lạc tướng họ Dương

Mở đầu thời các vua Hùng dũng lược

Có đại thần Dương Minh Tiết tôi trung

Cùng Phù Đổng Thiên Vương tre đằng ngà đánh giặc

Có tướng tài Dương Minh Thắng lập công

 

Họ Dương ta

Từ người Nguyên thuỷ Đông Sơn

Đúc trống Đồng tên nỏ Đồng

Con cháu Tiên Rồng

Về Đế Đô Phong Châu dâng Tổ

Có người mẹ đầu tiên trong huyền sử

Gả con gái cho hai rể hiền là “Tứ bất tử”* thánh nhân

Trong đêm dài dưới ách ngoại xâm

 

 

 

 

Đại tướng Dương Thanh diệt quân đô hộ

Mở đầu thời đất nước ta tự chủ

“Khúc – Dương – Ngô” viết trang sử huy hoàng

Dương Đình Nghệ dấy binh đuổi giặc

Rể Ngô Quyền chiến thắng Bạch Đằng Giang

Non sông ta trải mấy nghìn năm

Gái đảm, trai tài họ Dương nhiều không kể xiết

Về đất Tổ thiên di ra núi Bắc

Đến sông Rừng khai khẩn tới biển Đông

Con cháu Họ Dương mở mang khắp châu thổ sông Hồng.

Từ quê gốc Châu Hoan, Châu Ái

Người Họ Dương theo “ Tiên chúa” Nguyễn Hoàng

Cùng bách tính  “Hành phương Nam mang  gươm đi mở cõi”

Phù sa bồi màu mỡ Cửu Long Giang.

 

Kế tiếp truyền thống hào hùng của thế hệ cha ông

Chúng con hàng năm mở lễ hội mùa xuân

Thành kính dâng nén hương thơm lên Tiên Tổ

Ơn dòng họ mấy ngàn năm lịch sử

Cho cháu con được kính cẩn phụng thờ

Người Họ Dương đứng dưới bóng cờ

Cờ gia tộc và cờ Tổ quốc

Dòng họ Dương ta đời đời phồn vinh cùng đất nước

Và trường tồn mãi mãi tới mai sau.

 

 

 

CỤ DƯƠNG ĐÌNH TIẾN

 

 

Quan triều Lý Thừa tướng Dương Đình Tiến

Một hiền nhân phụng sự quốc dân

Người khai mở kho tàng trong huyền sử

Tìm thượng tổ họ Dương những lạc tướng văn thần

Người viết sử họ lưu truyền cho con cháu

Nối tiếp ông cha chép tiếp chuyện đời sau

Bộ Dương tộc kỷ sử báu vật toàn Dương tộc

Mãi lưu truyền muôn thế hệ dài lâu.

 

 

GIỖ TỔ TRÀNG KÊNH

 

Về thăm đất mỏ Tràng Kênh

Muôn đời đá vẫn biếc xanh muôn đời

Xi măng khói toả trắng trời

Họ Dương giỗ tổ, nhớ thời cha ông

Dìm thuyền Hán tặc đáy sông

Non sông nước Việt cờ hồng tung bay

Nén nhang con thắp trên tay

Tri ân tiên tổ về đây, bao đời

Cầu xin các cụ trên trời

Phù cho con cháu muôn đời hiển vinh.

 

CỤ DƯƠNG CÔNG KHANH VÀ HẬU DUỆ

                                 (Theo Dương tộc kỷ sử)

 

Sùng hiền hầu Dương Công Khanh –

một đại thần triều Lý

Em trai bà Dương Thị Phương Hoài tuyệt thế giai nhân

 

Đã dâng đời một người họ Dương: Dương Hoán

Là truyền nhân thiền sư Từ Đạo Hạnh hóa thân

Người đã thuận mệnh trời

đưa người họ Dương lên ngôi đế

Nương nhờ họ Lý nối tiếp đủ 8 đời vua

Mở dài rộng cho Lý, Dương, Đào, Phạm, Nguyễn…,

Một cây đời xanh tốt mãi sinh sôi

Cành tỏa bóng cả sang Cao Ly, Hàn Quốc

Dương Công Khanh ơi, người ươm mầm mống

Cho họ Dương kế tiếp mãi muôn đời:

-Lý Dương Hoán ba lần chống nước Chiêm

-Lý Thiên Tộ diệt loạn trong phá giặc ngoài

-Lý Long Hãn tiếp ngôi

Bắt đầu cuộc suy vi không thoát khỏi ý trời

Khi sấm sét cung điện tan, tướng chết

Nội phản hoành hành, vua cùng Thái tử ly cung

Trời xui khiến gặp mỹ nhân Trần Minh Tự

Mở đầu cho hôn ước Lý Trần…

Lý Long Dục kế ngôi vua lâm bệnh trọng

Trần Thủ Độ tiếm quyền, bức tử vua

Kế vị, Lý Chiêu Hoàng lên ngôi khi 8 tuổi

Trò chơi trẻ thơ té nước đùa vui

Thành “cho nước” ép nữ vương kết duyên cùng Trần Cảnh

Rồi tầm gửi lấn cành dụ vua nữ truyền ngôi

Một vương triều Đông A kế tục bởi thiên thời…

Đưa nước Việt oai hùng viết nên những trang sử mới.

Nhưng

Giận thay, xót thương thay,

Lòng  dạ người đen tối

“Đánh rắn dập đầu”, “nhổ cỏ cả rễ” non

Xây hầm tối, khánh thành nhà Thái miếu

Đưa cả họ Lý Dương  vào thảm sát ly hương

Trạng Nguyên Lý Long Tích về quê xưa Thanh Hóa

đổi thành Đào Dương Bật

Là tổ họ Dương – Đào đại tộc ngũ chi

Lý Long Tự, Lý Long Tường, phiêu dạt tận Cao Ly

Thành họ Lý oai hùng có người làm Tổng thống

Thừa tướng Lý Cao Tông bị chết trong hầm tối

Thượng tướng công Lý Quốc Chính và các em

Lý Long Tính, Lý Long Tình bị sát hại

Quá đau thương …

Một trang sử bi hùng của dòng họ Lý Dương…

Các sử quan xưa e dè không ghi trong chính sử

Nhưng các cụ tổ ta đã ghi chép chi ly và đầy đủ

Trong cuốn “Dương tộc kỷ sử” báu vật của họ ta

Truyền lại cho con cháu bách gia

Biết công tích của tổ tiên mà kiêu hãnh.

 

 

CHÚC VĂN HỌ DƯƠNG DƯ HÀNG KÊNH

 

 

Duy Việt Nam Quốc

Hải Phòng thành

Lê Chân quận

 

Dư Hàng Kênh phường

Ngày 01 tháng 12

Tuế thứ Mậu Tuất niên

Kính cáo anh linh tiên tổ họ Dương Việt Nam

Kính cáo anh linh tiên tổ họ Dương Dư Hàng Kênh

Kính thưa chính quyền đoàn thể và khách quý thập phương

Cùng toàn gia năm ngành Dương tộc

MỪNG HÔM NAY

Đất Dư Hàng Kênh trù phú

Tiết cuối năm thuận khí giao hòa

Con cháu 5 ngành họp mặt tưởng nhớ ông cha

Cờ tổ họ uy linh phấp phới

Mái nhà thờ cổ kính rêu phong

Che chở cháu con 17 đời họp mặt…

NHỚ THUỞ XƯA

Thủy tạo thái tổ Dương Phúc An

Thái tổ Dương Mậu Sùng

Cùng chư vị tiên tổ:

 

 

Dương Đại Giác

Dương Huyền Chân

Dương Văn Lũng

Dương Văn Tả

Dương Phúc nhân

Theo dấu chân xưa chiến trận

Từ Thanh Hóa đất Lam Kinh

Mấy thuở Bạch Đằng

 

Vó ngựa chiến chinh thiên di tứ hải

Dần tụ hội về lập nghiệp đất Kinh Dương

Chặt sú, đào năn xẻ mương lập ruộng

Thành thôn Đoài trù phú ruộng mật bờ xôi

Nuôi sống cháu con kế nghiệp đời đời.

Từ một gốc một nguồn

Cây tổ phụ sinh 5 cành

Xum xuê, hoa thơm, quả ngọt

Rạng rỡ mãi mai sau…

TRẢI MẤY THUỞ CAN QUA

Dòng họ Dương thôn Đoài

Anh hùng hào kiệt

Cụ Trưởng họ Dương Bá Du theo cờ nghĩa Tây Sơn

Gặp tao loạn lên Kinh Môn dựng nghiệp

Gá nghĩa họ Trần mở đất Hiệp Sơn

Nẩy lộc ba nhành sinh sôi quần tụ

Mắt dõi về đất tổ Hàng Kênh

 

– Cụ Khóa Lược, cụ Cai Trang đúc chuông chùa

                                                         vun bồi quả phúc

Cụ Huyện Sách làm đình

                            thờ Thánh độ muôn dân

Cụ Dương Mưu huấn học tỉnh Đông

                      đem chữ Thánh mở mang dân bản hạt.

Thời kháng chiến, cụ Dương Văn Tuế, Dương Văn Hoán

Xung cảm tử quân giữ yên làng xóm

Ông Dương Văn Phi đánh trận Điện Biên,

     giữ 15 cân vàng cho Tổ quốc không mảy may suy suyển

 

Ông Dương Văn Bái- Trưởng ban Giao thông 

Ông Dương Văn Vĩnh tòng quân Nam tiến

        

Hòa bình về

Ông Dương Văn Thao chủ tịch xã nhà

Vẻ vang thay dòng giống Dương gia

Đã kết tụ đỉnh cao trí lực

Anh Dương Anh Điền làm Bí thư, Chủ tịch

Thành phố Hải Phòng rực rỡ tinh hoa…

NAY CHÚNG CON

Hưởng phúc lộc tổ tiên

Con cháu trăm nhà yên bề sinh sống

Bàn tay tài hoa ươm trồng

Kỳ hoa dị thảo tô điểm cho đời

Lao động cần cù tảo tần hôm sớm

 

Trên kính dưới nhường

Chăm lo tuổi già

Bảo ban con trẻ

Giữ gìn đạo đức gia phong

Ân đức tổ tiên truyền bao thế hệ…

 

MỪNG NĂM QUA

Con cháu họ Dương kết đoàn một khối

Xây quê hương tươi đẹp làng Hàng

Điểm tô nhà thờ họ Dương tố hảo khang trang

Toàn Dương tộc nức lòng hồ hởi

Nhớ ngày giỗ tổ.

Năm ngành cháu con

Từ bốn phương hội tụ tìm về

Tấm lòng thành

Chúng con dâng nén tâm hương

Kính thỉnh

Liệt tổ, liệt tông họ Dương Việt Nam 

Thủy tổ họ Dương Dư Hàng Kênh

Đồng lai chứng giám,  phù trợ tử tôn…

Đồng kính thỉnh

Chư vị bản thổ linh thần

đồng lai giám cách

Cẩn cáo

Cẩn cáo

Cẩn cẩn cáo…

 

CHÚC VĂN HỌ DƯƠNG HẢI PHÒNG

 

Duy Việt Nam Quốc

Hải Phòng thành

Ngày 22 tháng 2 năm Đinh Dậu

Kính cáo anh linh tiên tổ họ Dương

Kính thưa toàn gia Dương tộc

Cùng khách quý thập phương

 

MỪNG HÔM NAY

Đất Hải tần phòng thủ

 

Tiết Đinh Dậu thái hoà

Dân Hải cảng hoan ca

Sắc xuân về tươi mới

 

Cờ Tổ quốc rợp trời phấp phới

Cờ Dương tộc hùng tráng uy linh

Thành phố Cảng tàu bè muôn ngả trùng khơi

Trăm nhánh Dương gia tụ về một cõi

NHỚ THỦA XƯA

Dòng giống Lạc Hồng

Thủy tổ Dương lạc hầu, Dương lạc tướng

Theo giúp vua Kinh Dương Vương dựng nước

Viễn tổ Dương Minh Tiết

Khởi tổ Dương Minh Thắng

 

 

 

 

 

Cao tổ Dương Thi Sách

Dương Thanh đại tướng nam bang

Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ

Bình vương Dương Tam Kha

Liệt tổ liệt tông từ mấy nghìn năm trước

Dòng máu họ Dương đỏ bừng trong huyết quản

Chảy mãi tới hôm nay…

 

CHÚNG CON NGHE

Tiếng trống đồng vang vọng ngàn xưa

Đưa con cháu Dương gia từ:

Hoan châu, Ái châu, Phong châu, Đại la, Kinh bắc…

Theo nguồn suối mạch sông về đất Hải Phòng

Cùng Dương Tam Kha chém giặc Hoằng Tháo

Bạch Đằng Giang rực rỡ chiến công

Theo Lê Lợi dựng cờ đại nghĩa

Vó ngựa chiến binh áo vải tụ về

Chính biến Lê Nghi Dân

Hoàng hậu Dương Thị Bí, Ngự y Dương Phiếm Ái

Xuôi phủ Hạ Hồng lập ấp

Thầy đồ gốc Nghệ mang chữ thánh hiền

Từ Vân Đình về làng hoa Đằng Hải ngát hương thơm

 

 

Rời nam châu thổ sông Hồng về đất Cổ Am

Vang danh tiến sĩ Dương Đức Nhan

Học rộng soạn “Tinh tuyển chư gia thi luật”

Từ Chí Linh về Ngũ Lão- Thuỷ Nguyên

Thiên đô ngự sử Dương Tông Hải lừng danh đi sứ Bắc

 

THẾ MỚI BIẾT

Đất lành chim đậu

Mẹ biển Đông ôm ấp con dân

Dãi nắng, dầm mưa, phát cỏ, lập làng

Chặt sú, đào kênh, tôn vườn, lập ruộng

Chân cứng, đá mềm, ngô lúa sinh sôi

Đất Hải Tần nối tiếp đời đời

Cây Dương tộc xanh chồi sâu rễ

Lê Chân, Hải An, Kiến Thuỵ, Thuỷ nguyên,

Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương …

Dương Phúc, Dương Văn, Dương Anh,

Dương Thanh, Dương Đức…

Nối dõi tông đường dòng giống dài lâu…

NAY CHÚNG CON

Hưởng ân đức tổ tiên

Trăm nhà phúc lộc

Công, nông, thương, trí… trăm nghề

Góp bàn tay khối óc làm vẻ vang Dương tộc

Hiếu nghĩa bề trên, chăm lo con trẻ

Kết nối doanh nhân, chấn hưng kinh tế

 

 

 

 

 

 

Khởi nghiệp anh tài, trí tuệ thăng hoa

Kế tục mạch nguồn, tài đức ông cha

Tôn tử Dương gia đời đời dựng nghiệp

Nghe trống hội vang vang

Nô nức chúng con

Quây quần tụ hội

Dưới cờ tổ thành tâm kính vái

Mong ơn trên che chở muôn nhà…

 

CHÚNG CON NGUYỆN

Mang trí lực dựng xây Tổ quốc

Lấy dũng nhân bồi đắp non sông

Cho quê hương Hải cảng phồn vinh

Để Dương tộc trường tồn vạn thủa…

Chúng con dâng nén tâm hương

Kính thỉnh

Liệt tổ, liệt tông, Việt Nam  Dương tộc

Đồng lai chứng giám, phù trợ tử tôn…

Kính thỉnh

Chư vị bản thổ linh thần đồng lai giám cách

Cẩn cáo

Cẩn cẩn cáo.

 

VIỆT NAM ƠI

 

Các vua Hùng xây dựng giang san

Từ Ngàn Hống, Phong Châu, Phú Thọ

Cụ tổ họ mình cùng vua Hùng từ đó

Xây dựng nước non này có công sức họ Dương.

Từ Đông Sơn núi Đọ tỏa muôn phương

Vác rìu đá mở sang nước Trung Hoa lớn rộng

Người Việt ta xây dựng nước Việt ta còn ở lại

Đất Phong Châu lập quốc hiệu Văn Lang

Mấy ngàn năm thành nước Việt Nam

Hùng cứ một phương hiên ngang tồn tại

Xứng đáng là cái nôi của một phần nhân loại

 

Chữ cổ xưa văn hóa tinh hoa

“Giáp cốt” “Kim văn” gieo trên đất Trung Hoa

Để con cháu ngày nay nhiều người lầm tưởng

Là ai kia khai sáng nước non nhà

Mà biết đâu chính nước Trung Hoa

Là hậu duệ của giống nòi Lạc Việt

Dân Nam Việt, trăm họ ơi phải biết

Lai lịch dân tộc mình mà phát tiết thăng hoa

Suốt nghìn năm máu đổ can qua

Nòi giống Việt vẫn kiêu hùng một cõi

Chúng muốn xóa nước ta mà không xoá nổi

Chính cừu thù lại mất nước bởi Mông Thanh

Bạch Đằng Giang đến ải Chi Lăng

Lũ Đại Hán nghĩ đến mà bạc tóc.

Tổ tiên ta dạy chúng nhiều bài học

Lũ đê hèn ngu xuẩn chửa nhận ra

Vẫn mưu đồ chiếm đất nước ta

Bằng muôn vạn mưu sâu và kế hiểm

Nó lừa lọc chiếm dần từng đảo biển

Từng mảnh rừng, từng tấc đất thân yêu

Xương máu ông cha ta đã đổ ra nhiều

Thành đất nước cho muôn đời con cháu

Ta gìn giữ nước non này yêu dấu

***

Tổ tông ơi nguời phù trợ đàn con

Như Phù Đổng vươn mình bảo vệ nước non

Răn dạy những Lê Chiêu và Ích Tắc

Phù trợ những Ngô Quyền,

Trần Hưng Đạo, Quang Trung

Giữ nước non ta vạn thuở kiêu hùng

Là mệnh lệnh cho bách gia trăm họ

Dòng họ Dương góp sức mình trong đó

Xây dựng non sông ấm nghĩa trọn tình

 

Cho đất nước ta dân chủ văn minh

Một đất nước làm vẻ vang nhân loại

Một đất nước mang tầm cao thời đại

Cờ đỏ sao vàng phấp phới Việt Nam ơi…

6-2018

Bài thơ chào mừng ngày Đại hội họ Dương

 

ĐẠI HỘI HỌ DƯƠNG

 

Tri ân tiên tổ đã cho ta

Mang thắm đỏ dòng họ Dương trong máu

Để hôm nay một ngày tháng sáu

Con về Long Biên dự đại hội họ Dương mình

Khắp bốn phương thắm thiết nghĩa tình

Ngàn khe suối đổ về nơi biển cả

Bao mạch máu chảy về tim hối hả

Từ Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…

Từ Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kom Tum…

Đến Nhật Bản, Séc, Đức, Úc, Nga, Anh Quốc

Mối tình thân tay bắt mặt mừng

Mắt lệ nhoà vái cờ tổ rưng rưng

Hồn uống trọn bài ca Dương tộc

Một dòng họ hào hoa hiếu học

Một vườn tài doanh nghiệp Dương gia

Xưa mang máu xương gìn giữ sơn hà.

 

Nay góp sức dựng non sông đất nước

Từ thuở hồng hoang Lạc hầu Dương Minh Tiết

Gieo đức nhân cho thế hệ mai sau

Nay chúng con về đại hội nguyện cầu

Cho dòng họ kết đoàn trường tồn cùng non sông đất nước

24-6-2018
Ngày đại hội họ Dương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỄ TỔ HỌ DƯƠNG

 

 

Rưng rưng một nén tâm hương

Dâng cụ tổ những tấm gương ngời ngời

Anh hùng chói sáng muôn đời:

– Dương Thanh khởi nghĩa một thời vang danh

– Dương Đình Nghệ tự xứ Thanh

Ba lần giặc Hán tan tành dưới chân

– Dương Tam Kha: trí, dũng, nhân

– Dương Vân Nga đã hai lần ngôi cao

– Dương Tự Minh đấng anh hào

Được dân phong Thánh tạc vào sử xanh

Như dòng nước ngọt mát lành

Thấm vào lịch sử ghi danh họ nhà

Noi gương tiên tổ, ông cha

Chúng con nguyện xứng đáng là cháu con

Một lòng trung nghĩa sắt son

Dương gia rạng rỡ, nước non vững bền.

 

 

 

 

VIẾT SỬ HỌ

 

 

Một dòng khảo cứu viết ra

Đấy là máu thịt, đấy là mồ hôi

Ai người nói chỉ cái TÔI

Là người ít hiểu nên thôi không bàn

Đã mang dòng máu họ hàng

Đã cùng nguồn cội đã mang lời nguyền

Một lòng trung với tổ tiên

Dương gia một gốc ba miền cùng chung

Tổ tiên lừng lẫy anh hùng

Ngàn năm hào khí ghi trong sử vàng

Tôi tìm từng chữ từng trang

Chép lịch sử họ rõ ràng từng câu

Suy nông rồi lại nghĩ sâu

Đãi vàng trong cát bấy lâu miệt mài

Vì cả họ chẳng vì ai

Mong mọi người đọc những bài tôi đăng

Có trí khôn phải công bằng

Suy đi xét lại nói năng phải lời

Cùng viết sử họ với tôi

Để cho tiên tổ trên trời cũng vui.

 

 

 

 

DẤU XƯA

 

Ta về tìm lại tổ tiên

Tự ngàn xưa

 

Ngự

Cõi miền xa xăm

Thế nhân

Mấy thủa thăng trầm

Ơn trên

Tiên tổ

Đức tâm sáng ngời

Võ công

Văn trị

Lo đời

Đã dâng kế sách

tự thời hồng hoang

Mỗi trăm năm

Một chữ vàng

Cùng muôn dân Việt

Viết trang sử đời

Dấu xưa

In chốn mây trời

Con nương bàn phím

Tìm người cõi xưa

 

 

 

 

 

Lọc trong thủa nắng thời mưa

Chắt chưng cất rượu hương đưa ấm nồng.

 

Dâng lên tiên tổ chữ đồng

Ngàn muôn sau lấp lánh dòng Dương gia.

Người cho con sáng bút hoa

Tìm nguồn cội chép sử nhà khơi thông.

 

TÌNH THÂN

 

Bao nhiêu uẩn ức trong lòng

Nay như nước lũ theo dòng trôi ra

Họ Dương dòng họ hào hoa

Từ nay đổi mới khác xa xưa rồi

Tổ tiên ngự chốn cao vời

Khuyên răn con cháu làm người nghĩa nhân

Đã là họ mạc tình thân

Lỗi xưa giận cũ nói lần này thôi

Họ Dương yêu dấu của tôi

Vinh quang rực rỡ sáng ngời Dương gia.

24-7-2018

Kỷ niệm một ngày đặc biệt

Chủ tịch Dương Công Minh sửa sai, xin lỗi các cụ

 

X- Tài liệu tham khảo

1- “An Nam chí lược” – Lê Tắc.

2- “Bản tin họ Dương Việt Nam” (http://hoduongvietnam.com).

3- Các tài liệu khác trên Google, internet

4- “Dương tộc kỷ sử” của thừa tướng Dương Đình Tiến viết năm 1058, Dương Văn San dịch năm 1975.

5- “Dương Tam Kha- một nhân vật quan trọng của thế kỷ thứ X” – Đinh Xuân Lâm, Tạp chí Xưa Nay.

6- “Dương tộc từ đường” – 2012 -Lương y Nguyễn Khắc Bảo – bản viết tay.

7- “Dòng tộc họ Dương với chủ nghĩa yêu nước trong cộng đồng Xã hội Việt Nam” – 2010 – HĐDTHDVN

8- “Dòng tộc họ Dương với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam” (lịch sử sơ thảo)

9- “Đào tộc khoa quan công thần huân nghiệp gia phả chí” – Dương Văn Tất dịch.

10- “Đại Việt sử ký toàn thư”, NXB KHXH, tập 1,2 năm 1973

11-“ Đại Việt sử ký toàn thư”, Ngô Sỹ Liên

12- “Đình Dư Hàng và quê tôi” – Dương Anh Dũng 2019.

13- “Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt”- Hà Văn Thùy

14-“ Hùng Triều ngọc phả”

15-“ Hùng Triều chính sử”

16- “Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Dương Đình Nghệ” – Dương Phúc Tư

17- “Kỷ yếu hội thảo khoa học Khúc – Dương – Ngô” tại Bắc Ninh năm 2011

18- “Kỷ yếu hội thảo khoa học khởi nghĩa Dương Thanh 2019” – Hội KHLS Việt Nam – HĐHD Việt Nam – UBND tỉnh  Nghệ An.

19- “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục”- NXB KHXH, năm 1963

20- “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục”, Viện Sử học, NXB Giáo dục Hà Nội, 1998.

21- Tài liệu hội thảo “Cuộc chính biến lật đổ mẹ con Thái tử Lê Nghi Dân và hệ quả”- 2012- Hội KHLS Hải Phòng-Liên hiệp các HKHKT Hải Phòng-Hội đồng họ Dương Hải Phòng.

22- Thần tích, miếu Nại Tử, Sắc phong của Bảo Đại năm thứ 13

23- Thần tích làng Gia Viên Hải Phòng.

24- Thần tích làng Đồng Kỵ

25- Thần tích làng Phong Nội- Hải Dương.

26- Tư liệu Văn phòng họ Dương và các địa phương

27- Tạp chí Nghiên cứu lịch sử

28- Theo ấn phẩm nhìn lại lịch sử của KS Phan Duy Kha, TS Lã Duy Lan, TS Đinh Công Vĩ – Nhà Xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003.

29- Thế phả họ Dương – Dương Ngọc Kỳ- Họ Dương Quỳnh Lưu- Bản ghi chép viết tay- 1993.

30- “Tư Lang châu Sùng Khánh tự minh chung”- Phạm Lê Huy.

31- “Tiến trình Văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ 19”- Nguyễn Khắc Thuần .

32- “Trạng nguyên Dương Phúc Tư (1505-1563)”- Dương Lê Nhuận- 2005

  1. “Lịch triều hiến chương loại chí”- Phan Huy Chú-NXB KHXH- năm 1973

34- “Truyền thuyết về cội nguồn người Việt”- Theo ấn phẩm “Nhìn lại lịch sử”- Nhà Xuất bản Văn hóa-Thông tin- Hà Nội- 2003- Tác giả: KS. Phan Duy Kha, TS. Lã Duy Lan , TS. Đinh Công Vĩ.

35- “Lạc Đạo Dương tộc gia phả” (1992)- Dương Văn Phiến biên soạn trong cộng đồng dân tộc Việt Nam (2008).

36- “Lược sử và truyền thống dòng tộc họ Dương Việt Nam”- 2011- Dương Văn Dật và 5 tác giả khác.

37- “Lịch sử Việt Nam (2017)”- Tập thể tác giả (Viện Sử lược)- 15 tập- NXB KHXH.

38- “Lịch sử Việt Nam”, tập 1 và tập 2 (2016)- Phan Huy Lê (Chủ biên)- NXB ĐHQGHN.

39- “Lịch sử họ Dương Việt Nam”- Bản tin họ Dương- Văn phòng họ Dương Việt Nam.

40- “Lý lịch Đình Xuân Mai”

41- “Lý lịch họ Đào Đông Trang (1994)”

42- “Lịch sử phương Đông và nền sử học không AND”- Hà Văn Thùy

43- “Lịch sử Việt Nam”- Đào Duy Anh

44- “Li Jin (Lý Tiến)” ngày 29.9.1998

45- “Nại Tử xã thần miếu sự tích”

46- Nguyễn Thanh Liêm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tế bào gốc – công nghệ gen Vinmec, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu về hệ gen người Việt Nam.

47- “Về nhân vật lịch sử “Người phụ nữ họ Dương thế kỷ thứ X” của GS Lê Thị Nhâm Tuyết.

48- V.m.wikipedia.org .

49- “Vai trò của các anh hùng dân tộc Khúc – Dương – Ngô” của GS.VS Phan Huy Lê.

50- “Văn minh Việt-Một sự thật lịch sử”- 2017- Vũ Ngọc Phương.

 

Mục lục

 

Lời tác giả…………………………………………………………………. 5

Chương I: Vài nét về các dòng họ Việt Nam………………….. 7

I-Bàn về nguồn gốc người Việt Nam…………………………….. 7

II-Tóm tắt nguồn gốc các dòng họ lớn của nước ta ……….. 10

1-Họ Nguyễn…………………………………………………………….. 10

2- Họ Trần………………………………………………………………… 11

3- Họ Lê…………………………………………………………………… 12

4- Họ Phạm………………………………………………………………. 13

5- Họ Hoàng……………………………………………………………… 15

6- Họ Phan……………………………………………………………….. 16

7- Họ Vũ – Võ……………………………………………………………. 18

8-Họ Đặng………………………………………………………………… 19

9- Họ Bùi………………………………………………………………….. 20

10- Họ Đỗ…………………………………………………………………. 22

11- Họ Hồ…………………………………………………………………. 25

12- Họ Ngô……………………………………………………………….. 26

13- Họ Lý…………………………………………………………………. 28

14- Họ Trịnh……………………………………………………………… 30

Chương II: Họ Dương Việt Nam………………………………… 36

I-Phát tích……………………………………………………………….. 36

II-Sự thiên di của Họ Dương………………………………………. 38

1) Theo cụ Kinh Dương Vương…………………………………….. 38

2) Theo cụ Dương Ngọc………………………………………………. 38

3) Theo Dương Thanh, Dương Đình Nghệ………………………. 39

4) Theo Dương Cảnh Thông…………………………………………. 39

5) Theo Huyền Trân Công Chúa……………………………………. 39

6) Theo nhà Mạc lên Cao Bằng…………………………………….. 39

7) Theo Nhà Nguyễn ………………………………………………….. 39

8) Di dân do thời cuộc…………………………………………………. 39

III- Đặc trưng của họ Dương……………………………………… 40

IV-Thống kê ban đầu nguồn gốc thực tế 

của một số chi họ Dương tại các địa phương hiện nay …… 42

1- Theo gia phả họ Đào……………………………………………….. 42

2- Theo cụ Dương Sạng………………………………………………. 42

3- Theo gia phả của họ Dương Văn……………………………….. 42

4- Lần theo phả họ Dương một số tỉnh……………………………. 43

5- Theo ông Dương Công Ngột HDMN………………………….. 43

6- Họ Dương ở Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng………… 43

7- Theo Dương Phương Anh, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi………… 43

8- Họ Dương Nhơn Mỹ, An Thạnh, Quy Nhơn, Bình Định…. 43

9- Theo ông Dương Công Đức……………………………………… 44

10- Họ Dương của Đại tướng Dương Văn Minh……………….. 44

11- Theo ông Dương Phương Toại họ Dương Quảng Yên …. 44

12- Theo ông Dương Thế Minh…………………………………….. 44

13- Họ Dương ở Nam Định………………………………………….. 44

14- Theo ông Dương Hồng Long…………………………………… 45

15- Theo bà Đào Kim Thanh………………………………………… 45

16- Theo ông Dương Văn Út………………………………………… 45

17- Theo ông Dương Văn Tương…………………………………… 45

18- Theo ông Dương Hiền Mỹ………………………………………. 45

19- Theo Dương Thái Sự Bắc Ninh  ………………………………. 46

20- Theo ông Dương Văn Chiến……………………………………. 46

21- Họ Dương Cao Bằng……………………………………………… 46

22- Họ Dương Đà Nẵng – Quảng Nam……………………………. 46

23- Họ Dương Quảng Châu, Hưng Yên………………………….. 46

24- Theo ông Dương Ngọc Tản họ Dương Thái Bình ……….. 46

25- Theo Dương Hữu Nghĩa…………………………………………. 46

26- Theo ông Dương Viết Xuân……………………………………. 47

27- Theo Dương Hoàng Thái Bình…………………………………. 47

28- Theo Dương Nõn làng Hà Dương…………………………….. 47

29- Theo họ Dương Minh Đức, Tràng Kênh, Hải Phòng…….. 47

30- Họ Dương xã Quang Trung, An Lão, Hải Phòng…………. 48

V- Các dòng họ Dương Việt Nam tiêu biểu…………………… 48

1- Dòng họ Dương thuần Việt ở Nghệ Tĩnh…………………….. 48

2- Dòng  họ Dương thuần Việt tại Bắc Sơn, Lạng Sơn……….. 49

3-Dòng họ Dương gốc Hoằng Nông………………………………. 50

3.1 Họ Dương ở Hoằng Nông, Quắc Quốc

thuộc  Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên……………….. 50

3.2  Họ Dương Nghệ An-Hà Tĩnh gốc Hoằng Nông………….. 51

4- Các dòng họ Dương ở Kinh Bắc………………………………… 53

5-Các dòng họ Dương khác………………………………………….. 54

5.1 Dòng họ Dương gốc Trung Quốc……………………………… 54

5.2 Dòng họ Dương người thiểu số miền Nam Trung bộ…….. 55

5.3 Họ Dương do các dòng họ khác đổi sang……………………. 55

VI- Họ Dương – Nhân vật lịch sử và sự kiện ………………… 56

A- Danh sách các tiến sỹ họ Dương thời trước Cách mạng…. 56

B- Danh nhân thời Hồng Bàng-Bắc thuộc và Phong kiến.. 61

1-  Dương Minh Tiết…………………………………………………… 61

2-  Dương Minh Thắng……………………………………………….. 63

3- Dương Thị Diễm…………………………………………………….. 66

4-  Dương Viết Điển…………………………………………………… 67

5- Dương Thi Sách……………………………………………………… 68

6- Tướng họ Dương của Hai Bà Trưng…………………………… 70

7- Dương Ngọc………………………………………………………….. 70

8- Đô Dương……………………………………………………………… 74

9- Dương Thanh     …………………………………………………….. 74

10- Dương Đình Nghệ ………………………………………………… 78

11- Dương Tam Kha…………………………………………………… 84

12- Dương Như Ngọc   ……………………………………………….. 94

13- Dương Phương Lan……………………………………………….. 97

14- Dương Vân Nga   …………………………………………………. 99

15- Dương Thị Nguyệt……………………………………………….. 104

16- Dương Đường Bộc ………………………………………………. 105

17-  Dương Không Lộ………………………………………………… 105

18- Thượng Dương hoàng hậu……………………………………… 110

19- Dương Cảnh Thông………………………………………………. 111

20- Dương Tự Hưng  …………………………………………………. 115

21- Dương Tự Minh…………………………………………………… 115

22- Dương Hoán  ……………………………………………………… 122

23- Dương Anh Nhĩ ………………………………………………….. 131

24- Dương Công Đảo…………………………………………………. 131

25- Dương Nhật Lễ  ………………………………………………….. 132

26- Dương Công Đình………………………………………………… 133

27- Dương Công Tảo…………………………………………………. 136

28- Dương Thị Bí………………………………………………………. 137

29- Dương Chấp Trung………………………………………………. 139

30- Dương Trực Nguyên…………………………………………….. 140

31- Dương Bang Bản…………………………………………………. 143

32- Dương Văn An …………………………………………………… 145

33- Dương Đức Nhan…………………………………………………. 146

34- Dương Chấp Nhất………………………………………………… 148

35- Dương Phúc Tư…………………………………………………… 149

36- Dương Trọng Tế……………..                                       152

37- Dương Thị Ngọc Khoan-Dương Thị Ngọc Hoan………… 154

38- Dương Khuê……………………………………………………….. 157

39- Dương Lâm………………………………………………………… 161

40 Dương Thị Thục     ………………………………………………. 166

C- Danh nhân họ Dương thời Pháp thuộc đến nay……….. 168

1- Dương Văn Hạnh ………………………………………………….. 168

2- Dương Bá Trạc  ……………………………………………………. 169

3- Dương Quảng Hàm ……………………………………………….. 170

4- Dương Văn Dương ……………………………………………….. 171

5- Dương Quang Đông  ……………………………………………… 176

6- Dương Bạch Mai ………………………………………………….. 181

7- Dương Hữu Miên ………………………………………………….. 184

8- Dương Thiệu Tước ……………………………………………….. 186

9- Dương Mạc Thạch ………………………………………………… 187

10- Dương Đức Hiền …………………………………………………. 189

11- Dương Văn Minh ………………………………………………… 193

12- Dương Văn Dật …………………………………………………… 199

13- Dương Bích Liên ………………………………………………… 201

14- Dương Quân ………………………………………………………. 204

15- Dương Đình Tú …………………………………………………… 205

16- Dương Văn Thiều ……………………………………………….. 207

17- Dương Ngọc Viên………………………………………………… 209

18- Dương Văn Kiện …………………………………………………. 210

19- Dương Tự Đam …………………………………………………… 212

20- Dương Văn Đảm …………………………………………………. 213

21- Dương Trọng Hiếu ………………………………………………. 215

22- Dương Thị Ngọc Triều  ………………………………………… 217

23- Dương Thu Hương ………………………………………………. 217

24- Dương Thúy Mỹ …………………………………………………. 218

25- Dương Anh Dũng ………………………………………………… 219

26- Dương Trung Quốc ……………………………………………… 223

27- Dương Phúc Hiệu………………………………………………… 225

28- Dương Thu Hương ………………………………………………. 227

29- Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh)  ………………………. 228

30- Dương Văn Hướng ………………………………………………. 229

31-Dương Thanh Biểu ……………………………………………….. 231

32-Dương Đoàn Trọng ………………………………………………. 234

33- Dương Phượng Toại …………………………………………….. 235

34- Dương Hồng Tuyển (Đào Hồng Tuyển)……………………. 237

35- Dương Anh Điền………………………………………………….. 239

36- Dương Đình Chiến  (Giáp Đình Chiến )……………………. 242

37- Dương Xuân Quả ………………………………………………… 243

38- Dương Chí Dũng  ………………………………………………… 246

39- Dương Mạnh Hùng  …………………………………………….. 247

40- Dương Nguyệt Ánh  …………………………………………….. 248

41- Dương Văn Chiến ……………………………………………….. 249

42- Dương Công Minh ………………………………………………. 251

43 Dương Quang Thành …………………………………………….. 255

44- Dương Huy Linh …………………………………………………. 256

45- Dương Anh Vũ …………………………………………………… 258

46- Dương Thị Thùy Vân …………………………………………… 264

VII-Tồn nghi lớn………………………………………………………. 268

1-. Việc cho họ Trần có xuất xứ là họ Dương………………….. 268

2-. Việc họ Đào là đổi từ họ Dương………………………………. 269

  1. Việc các chúa Nguyễn có gốc tích từ họ Dương đổi sang . 270

VIII – Kết luận  ……………………………………………………….. 274

IX – Phụ lục……………………………………………………………. 276

1- Hội đồng Họ Dương Việt Nam 29 năm thành lập…………. 276

2- Đền thờ tiêu biểu của họ Dương……………………………….. 283

3- Chùm thơ viết về họ Dương…………………………………….. 295

 X- Tài liệu tham khảo……………………………………………… 315

* Tản Viên Sơn Thánh và Chử Đồng Tử là hai con rể của Hùng Vương 18 và bà Dương Thị Diễm người Nghệ An.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *