Lịch sử Họ Dương Việt nam

Chương II

HỌ DƯƠNG VIỆT NAM ()

 

I-Phát tích

Đông Sơn – Thanh Hoá và Bắc Sơn – Lạng Sơn là hai nền văn minh nằm trong khu vực nguồn cội của dân tộc Việt Nam. Làng Giàng – Đông Sơn – Thanh Hoá, Bắc Sơn – Lạng Sơn có rất nhiều cư dân thuộc dân tộc Kinh và dân tộc Tày sinh sống. Tại đây có một quần thể người khôn ngoan cho rằng mình là do trời sinh ra, là con trời, theo âm ngữ dân gian trời là Giàng, nên họ nhận đất mình ở là đất Giàng, Làng Giàng, bản thân  mình là con “Giàng”. Sau này, khi người Trung Quốc mang chữ Hán sang phiên âm theo Hán tự, từ “Giàng” phát âm thành “Yáng” có nghĩa là “Dương”. Theo từ điển Thiều Chửu có 15 chữ Dương đồng âm dị nghĩa. Song Tổ tiên ta chọn chữ Dương “Mộc Dịch” (楊) là cây “Dương liễu” (cây phi lao hoặc cây liễu rủ) kiên cường, mềm mại, dẻo dai, hiền lương làm tên dòng họ. Chữ Dương mộc dịch theo triết tự là một bức tranh đẹp. Trong cánh rừng xanh tốt vào buổi sáng, khi mặt trời lên ngang ngọn cây, đàn muông thú trong rừng vui đùa kiếm ăn trong khung cảnh yên bình phồn thực.

Chính hai nền văn minh này là nơi phát tích của họ Dương và một số các dòng họ thuần Việt khác.

Làng Giàng, Dương Xá, Đông Sơn, xưa kia là Tư Phố, lỵ sở của quận Cửu Chân, sau này tách thành châu Hoan (Nghệ An) và châu Ái (Thanh Hóa). Ở nơi đấy có làng Giàng, nơi đấy có Dương Xá, có Thiệu Dương, nơi đấy với những địa danh mang đậm đặc các tên gọi mang tín hiệu chỉ về nguồn cội và nơi cư trú của họ Dương.

Đông Sơn – Thanh Hoá là nền văn minh rực rỡ trong thời đại đồ đồng. Đây là quê hương của trống đồng Ngọc Lũ và tên nỏ đồng cung tiến các đời vua Hùng dựng nước và giữ nước. Linh khí của người Đông Sơn trong đó có người họ Dương kết tinh trong uy lực huyền thoại của nỏ đồng “Cao Lỗ”, trong tiếng trống đồng Ngọc Lũ hào hùng.

Ngay trong “Kỷ Hồng Bàng”, lịch sử đã ghi nhận có nhiều người họ Dương xuất hiện:

– Huyền sử ghi nhận người họ Dương đầu tiên là Lạc hầu Dương Minh Tiết, có mặt và phò tá Hùng Vương thứ nhất. (Phải chăng cụ đã theo Kinh Dương Vương từ Ngàn Hống, Can Lộc, Hà Tĩnh ra Phú Thọ lập nước Văn Lang vào thế kỷ VII TCN). Thời Hùng Vương thứ VI có Lạc tướng Dương Minh Thắng cùng Phù Đổng đánh giặc Ân. Tuy không là sử chính thống và khả năng tên tuổi do người đời sau đặt cho, nhưng chừng đó cũng đủ để nói lên rằng tổ tiên người họ Dương đã có mặt và đồng hành cùng thủy tổ người Việt trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc (theo Dương tộc kỷ sử).

– Sưu tầm trong thần tích, có cụ Dương Viết Điển thời An Dương Vương là Thành hoàng ở Từ Liêm, Hà Nội. Cụ Dương Ngọc thời hai Bà Trưng là Thành hoàng ở Phong Nội, Hải Dương. Cụ Đô Dương ở Nghệ An.

– Ghi nhận trong chính sử sớm nhất là cụ Dương Thị Diễm người Nghệ An, Hoàng hậu Hùng Vương thứ 18 Hùng Duệ Lăng (trang 42 trong Hùng triều chính sử).

– Trải qua nhiều thiên niên kỷ người Lạc Việt lên phương Bắc, tạo thành các nước vùng Bách Việt, mang nhiều dòng họ trong đó có họ Dương, lập nên nền văn minh Lạc Việt, trung tâm là Lương Chử, Hàng Châu, Trung Quốc. Trong đó có   địa danh Quắc Quốc – Hoằng Nông của gia tộc Dương Cảnh Thông đại thần triều Lý, tại Hà Giang, Cao Bằng thuộc đất Nam Cương của Thục Phán khi trước.

Đối chiếu với sử họ còn lưu truyền lại tại cuốn “Đào tộc khoa quan công thần huân nghiệp gia phả chí” (Gia phả họ Đào Đông Trang – Nam Định – hậu duệ Đào Sư Tích, gốc Dương): “truy nguyên ngã tổ, tiên cư tại Thanh Hóa nội trấn” (Truy nguyên tổ của ta đầu tiên ở tại nội thị trấn Thanh Hóa) và qua nghiên cứu khảo sát rất nhiều sách viết về các nhà khoa bảng trước đây đều nói thuỷ tổ ta ở Đông Sơn, Thanh Hoá. Theo cuốn “Lý tộc Dương tộc gia phả” chép: “Thượng tổ khởi nguồn từ đất Phong Châu, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ, sau đến Vũ Ninh, châu Cổ Pháp, phủ Thiên Đức, xứ Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, trấn Long Vĩ, xã Đình Bảng”. Như vậy theo di huấn của người xưa thì tổ tiên của họ Dương có gốc ở Thanh Hóa, sau ra Phú Thọ và về Bắc ninh. Từ đấy họ Dương thiên di đi khắp nơi phủ kín các địa danh của nước ta và vùng nam sông Dương Tử Trung Hoa (dịch từ trang 4 nguyên văn chữ Nho cuốn gia phả Dương Hữu Tự Do chép năm 1590 – Dương Văn San sao lục 1970 – Dương  Văn Đảm biên tập 2015).

II-Sự thiên di của họ Dương

Theo dòng chảy lịch sử, người họ Dương từ nơi phát tích núi Đọ, Đông Sơn – Thanh Hóa, Bắc Sơn – Lạng Sơn, Hoằng Nông – Cao Bằng – Hà Giang đã phát tán ra mọi miền Tổ quốc:

1) Theo cụ Kinh Dương Vương dời đô từ Ngàn Hống, Nghệ Tĩnh về Việt Trì, theo chân trống đồng và tên nỏ đồng Đông Sơn về đất tổ Phong Châu dâng vua Hùng thành tướng tài trong các triều đại 18 đời vua và đi theo bà Hoàng hậu Dương Thị Diễm về miền đất tổ, con cháu họ Dương sinh sôi nảy nở tiến về phía Bắc, từ Bắc Ninh, Phong Châu, Việt Trì tỏa ra các tỉnh Việt Bắc, Đông Tây Bắc.

2) Theo cụ Dương Ngọc hơn 100 gia binh từ tỉnh Đông về Mê Linh đầu quân cho Hai Bà Trưng những năm 40 sau Công nguyên, có người ở lại thành các dòng họ Dương ở Vĩnh Phúc (Thần tích làng Phong Nội, Hải Dương).

3) Theo Dương Thanh, Dương Đình Nghệ chiến đấu và cư ngụ ở khu vực thành Đại La (Tống Bình), theo chân Dương Tam Kha và Ngô Quyền đánh quân Nam Hán ở Bạch Đằng giang, con cháu họ Dương đã ở lại phát tán ra các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh…

 4)– Theo Dương Cảnh Thông từ Việt Bắc phát tán vào vùng châu Phú Lương, vào Nghệ An, Hà Tĩnh và toả ra khắp nơi.

5) Theo Huyền Trân công chúa vào tiếp quản hai châu Ô và Lý năm 1306, người họ Dương vào theo và sinh sống tại miền đất mới là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay.

6-Theo nhà Mạc lên Cao Bằng: Cụ Dương Văn Chấp quê Thanh Hóa là võ tướng, năm 1592 theo nhà Mạc lên Cao Bằng, người họ Dương được vua Mạc ban cho họ là Dương Mạc. Cùng hậu duệ của Dương Cảnh Thông hình thành một dòng họ Dương lớn mạnh ở miền núi phía bắc (tiêu biểu là chi họ của Dương Mạc Thạch – chính trị viên Đội VNTT giải phóng quân của tướng Võ Nguyên Giáp sau này). Ngày nay họ Dương Mạc khai trong lí lịch là người dân tộc Tày nhưng thực chất là người Kinh gốc Thanh Hóa.

7-Theo Nhà Nguyễn

Chúa Nguyễn Hoàng gốc Hà Trung, Thanh Hóa năm 1558 vào trấn giữ Thuận Hóa, năm 1578 dẹp quân Chiêm Thành, năm 1611 dẹp quân Chăm Pa, Chúa Tiên đã đưa người họ Dương và các họ khác theo vào khai phá đất đai sinh sống.     Trong sự nghiệp “mang gươm đi mở cõi”, theo chân các chúa Nguyễn người trăm họ cùng họ Dương, chủ yếu là ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh đã vào phủ kín các địa danh toàn miền Nam.

8- Di dân do thời cuộc

Người họ Dương cùng các họ khác có nhiều cuộc thiên di vào Nam do sinh kế, do thời cuộc và do nhiệm vụ của Tổ quốc giao. Đó là:

– Thời Pháp thuộc, thực dân đã mộ phu phen vào Nam làm trong các đồn điền cao su.

– Năm 1954 giải phóng miền Bắc, nhiều người di cư vào Nam.

– Năm 1955 – 1975, trong công cuộc giải phóng miền Nam, quân dân miền Bắc chi viện nhiều người và của cho cách mạng miền Nam.

– Năm 1975 thống nhất đất nước, nhiều người miền Bắc chuyển công tác hoặc vào Nam làm kinh tế.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *