Luận về chữ DƯƠNG của Họ Dương Việt Nam-Dương Anh Dũng

Trước khi luận về chữ Dương của họ ta, hãy tìm lịch sử hình thành và nguồn cội chữ viết của dân tộc Việt.

 

Theo tư liệu tại trang  websitenews.xinhuanet.com January 03, 2012(6) Date: January 03, 2012 08:17PM công bố:“Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt – tỉnh Quảng Tây truyền phát tin tức là người Lạc Việt ở Trung Quốc đã sáng tạo chữ viết vào bốn nghìn năm trước. Phát hiện chữ viết của người Lạc Việt lần này sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, chứng minh văn hóa Lạc Việt là một trong những nguồn gốc trọng yếu của văn hóa Trung Hoa). Lịch sử hình thành dân cư Trung Quốc mới phát hiện, thì thời gian này trên địa bàn Trung Quốc chỉ có người Việt sinh sống, người Hoa Hạ chưa ra đời, chứng tỏ rằng đó là chữ của người Lạc Việt từ bãi đá Sapa đi. Nhà Thương là một dòng dõi Việt sống ở nam Hoàng Hà nên cùng sở hữu chữ viết tượng hình này. Sau này trên cơ sở Giáp cốt và Kim văn, cộng đồng người Việt và Hoa trong Vương triều Chu chung tay xây dựng chữ tượng hình Trung Hoa…

Khi người Hán hoa hạ xâm lược đồng hóa viết nam,  họ lại mang chữ Hán vào truyền bá tại nước ta. Các cụ tổ ta học chữ hán làm quan trong các vương triều phong kiến. Chữ Hán nghèo nàn, ít số chữ và ít âm tiết nhiều từ đồng âm dị nghĩa quá, phát âm khó… trong khi tiếng Việt đa dạng phong phú giầu âm tiết, các cụ tổ của ta đã sáng tạo ra cách đọc theo âm việt gọi là chữ nho (nghĩa là chữ Hán đọc theo âm việt). Do vậy khi đi sứ bang giao giữa hai nước, họ đọc họ nghe ta đọc ta nghe trên cùng một văn bản bằng Hán tự. Do vậy hai bên thực hiện giao tiếp chỉ bằng bút đàm.Ví dụ chữ (天) chỉ bầu trời người tầu đọc là “then”, các cụ ta đọc là “thiên”. Để phù hợp với tính đa dạng phong phú của chữ việt, tổ tiên ta sáng tạo ra chữ nôm trên nền chữ nho có bổ sung thêm ký hiệu để đọc bằng âm ngữ việt nam. Khi này chữ thiên được thêm chữ thượng ở dưới (𡗶) và được đọc là “trời”. Sáng tạo ra chữ nôm sẽ chép được hết các từ ngữ da dạng của dân ta có đủ cả các thanh âm. Chữ nôm viết xuôi theo cách nói thông thường của người Việt, không viết ngược, đọc ngược như chữ Nho, chữ Hán.  Các áng thơ văn bất hủ Kiều, Chinh phụ ngâm, chuyện nôm khuyểt danh ra đời từ đây. Vì rất thông dụng và phù hợp nên nhà Hồ đã dùng chữ nôm,  Hoàng đế Quang Trung nhà Tây Sơn đã dùng chữ nôm làm quốc tự.

Như vậy chữ tượng hình là của người Việt là chữ Giáp Cốt, Kim văn, Khoa đẩu, mang qua bãi đá Sa Pa các cụ khắc ghi lại cho con cháu đời sau biết và tiếp tục mang sang Trung quốc làm lên chữ Hán. Ở chu kỳ II khi chữ Hán theo quân xâm lược quay về, tổ tiên ta tiếp nhận đọc theo chữ nho và sáng tạo làm ra chữ nôm. Sau này khi các cha cố phương Tây đến nước ta truyền đạo, họ học chữ nôm của ta để giao tiếp với người bản địa và  đã dùng các chữ cái  la tinh ghép theo vần có sáng tạo bổ sung các dấu để phiên âm ghi lại cách đọc chữ nôm cho đễ nhớ. Việc làm này dã vô tình tạo ra một thứ ký tự để giao tiếp độc lập, sau khi hoàn thiện nó trở thành một thứ chữ thông dụng, dễ học dễ viết dễ đọc nên  nhà Nguyễn cho dùng và gọi là chữ quốc ngữ. Như vậy chữ quốc Ngữ cũng có điểm xuất phát từ chữ nôm của tổ tiên ta. Khôing có chữ nôm các cha cố không thể sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Người Trung Hoa, người Hàn, người Nhật nhiều lần muốn la tinh hóa chữ tương hình của họ  đều bị thất bại. Thế mới biết sự uyên bác tuyệt vời của tổ tiên ta.

Kết luận chữ tượng hình là của tổ tiên ta sáng tao ra  sau nhiều biến thiên, thành chữ nho, chữ nôm, có gốc tích của người Việt, không phải là chữ đơn thuần của người trung hoa.

Bây giờ ta nói chuyện về tên họ của ta là họ Dương

     Đông Sơn – Thanh Hoá và Bắc Sơn – Lạng Sơn là hai nền văn minh nằm trong khu vực nguồn cội của dân tộc Việt Nam. Làng Giàng – Đông Sơn – Thanh Hoá, Bắc Sơn – Lạng Sơn có rất nhiều cư dân thuộc dân tộc Kinh và dân tộc Tày sinh sống. Tại đây có một quần thể người khôn ngoan cho rằng mình là do trời sinh ra, là con trời, theo âm ngữ dân gian trời gọi là Giàng, nên họ nhận đất mình ở là đất Giàng, Làng Giàng, bản thân mình là con trời, con  “Giàng”. Sau này, khi người Trung Quốc mang chữ Hán sang phiên âm theo Hán tự, từ “Giàng” phát âm thành “Yáng” có nghĩa là “Dương”. Theo từ điển Thiều Chửu có 15 chữ Dương đồng âm dị nghĩa. Song Tổ tiên ta không chọn chữ Dương là trời (陽) như thế to tát quá không khiêm nhường nên đã  chọn chữ Dương “Mộc Dịch” (楊) là cây “Dương liễu” (cây phi lao hoặc cây liễu rủ) kiên cường, mềm mại, dẻo dai, hiền lương làm tên dòng họ. Chữ Dương mộc dịch theo triết tự là một bức tranh đẹp. Trong cánh rừng xanh tốt nhiều cây cối (là bộ mộc 木) vào buổi sáng (chữ đán 旦)khi mặt trời (chữ nhật 曰)lên ngang ngọn cây (ngang chữ 木) , đàn muông thú (chữ vật 勿)trong rừng vui đùa kiếm ăn trong khung cảnh yên bình phồn thực.

Làng Giàng, Dương Xá, Đông Sơn, xưa kia là Tư Phố, lỵ sở của quận Cửu Chân, sau này tách thành châu Hoan (Nghệ An) và châu Ái (Thanh Hóa). Ở nơi đấy có làng Giàng, nơi đấy có Dương Xá, (nơi ở của người họ Dương) có Thiệu Dương, nơi đấy với những địa danh mang đậm đặc các tên gọi mang tín hiệu chỉ về nguồn cội và nơi cư trú của họ Dương. Tuyệt đối không chấp nhận suy nghĩ hàm hồ là cây tổ họ ta là Dương xỉ là cây ràng ràng (!).

Vậy từ đâu có cụm từ Dương Mộc dịch ? và Dương bộ mộc. Đây là câu hỏi lý thú. Phải có suy nghĩ uyên thâm mới lý giải và thấu hiểu đước  cách gọi  của người xưa. Các cụ yêu họ ta quá nên nói “Dương mộc dịch mãn thiên hạ vô nhị tính” (Cả thiên hạ không có họ Dương mộc dịch thứ hai) con lạy các cụ vì xưa thế giới chưa phẳng nên các cụ chưa biết là bên tầu người Hán cũng có chữ Dương mộc dịch là họ của người Hán. Hiện nay đông thứ 5 trung quốc.

Ngày xưa chữ (昜)đọc là dịch, các cụ gọi chữ họ ta là Mộc dịch. Hai chữ (木) và dịch (昜)ghép lại mà thành.

Ngày nay chử tầu được chuyển hóa, chữ (昜)không đọc là dịch mà đọc là Dương như chữ dương mặt trời (陽). Chữ họ ta khi này(楊) , gồm chữc mộc (木) và chữ dương (昜), thành chữ Dương bộ mộc.

Còn chữ dịch  được viết bằng chữ (易) bỏ nét ngang và đọc là (dịch) mậu dịch, hoặc (dị) là dễ dàng…(có ảnh chụp từ tài liệu và từ điển kèm theo)

(Có người còn đùa dai gọi họ ta là Dương mộc bàng có nghĩa là chữ Dương cạnh chữ mộc (bàng tiếp chữ mộc), quả là hài hước).

Họ Dương Việt nam là tổng hòa của nhiều nguồn, nhiều dòng song tuyệt đại bộ phận mang chữ Dương Mộc Dịch (楊). Duy có người Hmông (Dân tộc Mèo) tên gọi là Dương nhưng viết bằng chữ (羊) là con dê. Ở miền nam có chi nhánh họ Dương đọc tên theo thổ âm cũ là Vòong hoặc Vương, (Theo đó thì thúy Kiều Thúy Vân có họ Vương cũng là người họ Dương chúng ta!).

Ngày nay HĐHDVN không dùng chữ Dương mộc dịch của tổ tiên trên logo và cờ là mục tiêu rất nhân văn của chủ tịch họ muốn đoàn kết tất cả những người Việt nam mọi dân tộc có tên gọi bằng chữ Dương quốc ngữ, mặc dù có triết tự thế nào.

Ngày 23-2-2019 HDVN tổ chức phiên họp bất thường Đại hội đại biểu họ Dương Việt Nam nhiệm kỳ 2018 – 2023 để sửa đổi, bổ sung một số điểm của Điều lệ năm 2018. Căn cứ kết quả chấm thi sáng tác tộc huy, tộc ký mới, họ ta đã lấy biểu quyết bằng giơ tay, bỏ tộc huy, tộc kỳ cũ, bỏ chữ Dương là chữ Nho thay bằng chữ Quốc ngữ. Lý do chữ Nho là của người Trung Quốc (?) và một chữ Dương Mộc dịch (楊) không đại diện được cho những người có tên họ viết bằng chữ quốc ngữ là Dương nếu viết bằng chữ nho sẽ đọc là Dương nhưng viết bằng các ký tự  khác như âm dương (陽), Dương con dê (羊)…), do các dòng họ ấy không thấy chữ viết tên họ mình nên không muốn sinh hoạt với HDVN vì vậy dùng chữ Quốc ngữ, các chi dòng họ Dương khác sẽ không còn thắc mắc.

Việc thay đổi chữ viết họ Dương  đã được đại hội thông qua cả họ sẽ chấp hành cho đến khi có thay đổi mới. Song điều lệ chỉ điều chỉnh cho chữ viết trên logo và cờ họ đổi từ chữ nho sang chũ quốc ngữ chứ tuyệt đối không nói gì đến cấm dùng chữ Dương bộ mộc ở các chi họ và sử dụng cho mục đích cá nhân của người họ Dương. Việc này Ồng Dương Công Minh đã nói  là trong các nghi lễ của HDVN  phải theo quy ước, còn với cá nhân mội người dùng chữ gì thì tùy. Thực tế trong điều lệ Họ Dương Việt nam không có điều khoản nào là bắt buộc người trong họ mọi nơi mọi lúc đều không được dùng chữ nho của tiên tổ viết tên họ Dương, mà phải viết bằng chữ quốc ngữ. Xin nói là tại công văn số 325/NQ-HĐHDVN Ngày 20-7-2019, của HĐHDVN tại quyết nghị thứ hai ghi :”Các đơn vị trực thuộc HĐHDVN có thể sử dụng song song tộc kỳ cũ và mới…”(tộc kỳ cũ là dùng chữ nho là chữ Dương bộ mộc). Văn bản chính thống của  họ Dương có cấm dùng chữ nho đâu. Ai đó nói sử dụng chữ dương bộ mộc ( trong ấn phẩm cá nhân) là vi phạm nghiêm trọng điều lệ họ, thì chính người đó phải học lại cho hiểu ý nghĩa của điều lệ họ ta.(nói thẳng ra là ông Dương Đức Quảng và ông Dương Văn Canh )

Đã đến lúc HDVN phải làm rõ việc này, phải cho các cán bộ thuộc HĐHDVN học lại để hiểu đúng bản chất của điều lệ. Nếu đúng như cách hiểu của cán bộ thuộc HĐHD VN thì có lẽ phải thu hồi hết chữ dương bộ mộc bằng vàng đã linh thiêng trao tặng cho người có công của dòng họ và cho tháo dỡ tất cả các chữ Dương bộ mộc ở các đền miếu nhà thờ họ Dương trong cả nước đi.Và họ ta sẽ có cuộc đại cách mạng văn hóa như bên Tầu ngày xưa và phong trào thời cải cách ruộng đất. Chính những phát ngôn này của cán bộ HĐHDVN đã dấy lên phong trào đàm tiếu chữ Dương cũ mới…trên thông tin các loại.

Cái mới bao giờ cùng có sự trăn trở, nhiều nguồn dư luận khác nhau dấy lên trong họ ta :

-Chấp nhận dùng logo và cờ theo điều lệ sửa đổi cho đến khi HĐHDVN có sự điều chỉnh phù hợp.

-Muốn dùng logo và cờ cũ.

-Muốn trưng cầu ý kiến người trong họ về chữ trên logo trên cờ và hình thức bố trí kết cấu, mấu sắc của cờ và logo. Bằng một cuộc thi công khai dân chủ cả họ được tham gia góp ý HĐHDVN căn cứ đó để lựa chọn, không dùng một nhóm nhỏ chấm thi theo định hướng.

Viết bài này tôi muốn cung cấp tư liệu cho cả họ để hiểu và ứng sử với chữ của tiên tổ. và dân tộc cho phù hợp. Mong muốn HĐHDVN có sự chỉ đạo định hướng để tạo sự đồng thuận trong dòng họ.

Chúng ta hãy chấm dứt bàn luận đàm tiếu, chế riễu trên thông tin. Hãy là người họ Dương có hiểu biết, chờ sự phân sử và chỉ đạo đúng của HĐHDVN.

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *