Nghệ thuật Đình Dư Hàng – TG Dương Anh Dũng

  1. Trang trí bên ngoài công trình

Trang chỉ bên ngoài công trình chủ yếu được thể hiện ở các hình đắp vẽ trên Nghi môn và hệ mái Đại đình. Tuy nhiên đây đều là những sản phẩm có niên đại rất muộn, từ năm 2010 trở lại đây.

– Ở Nghi môn nội: đầu cột trụ đắp theo kiểu ô lồng đèn, bốn mặt đắp phù điêu hoa văn tứ linh. Đỉnh cột trụ đắp hai con nghê ngồi trong trong thế chầu vào giữa. Nghê mang thân hình và các chi giống chó, đầu sư tử, miệng rồng, toàn thân khảm sành sứ.

– Ở Đại đình: giữa hai mái chính Đại bái là bờ nóc được xây bằng vôi vữa trang trí dải hoa chanh, chính giữa có đắp hình “lưỡng long chầu nhật”. Rồng có dáng vẻ dữ dằn, miệng mở rộng, bờm chải ngược về sau, thân dài, thon, trang trí dưới thân và chân rồng có nhiều cụm vân xoắn. Ở giữa hai rồng là mặt trời với nhiều tia lửa kéo dài hướng lên phía trên, thân trổ thủng hình tròn, đỡ bên dưới mặt trời là hổ phù, hướng nhìn chính diện về phía Nghi môn, hai chi bám vào bờ nóc. Ở bờ chảy và bờ guột cũng trang trí thêm nhiều linh thú với niên đại và tạo hình tương tự, đặc điểm chung là đều được khảm sành sứ.

Ở hai đầu bờ nóc Hậu cung, linh thú Makara với mắt tròn lồi, các bờm, đao ở gáy bay dài ra phía sau, miệng có răng nanh đang ngậm lấy bờ nóc. Chính giữa bờ nóc cũng là hình mặt trời quẩng lửa, nhưng thân không trổ thủng như Đại bái.

  1. Trang trí bên trong công trình

Những trang trí đặc sắc bên trong công trình chủ yếu tập trung trên các cấu kiện gỗ như vì nách, đầu dư, cánh gà, ván gió ở tòa Đại bái và bộ vì phía trước tòa Ống muống. Những đề tài chạm khắc ở đây chủ yếu là rồng, phượng, voi, vân mây, đao mác với phong cách nghệ thuật thuộc hai giai đoạn chính: giai đoạn năm 1866 khi đình được khởi dựng mô phỏng theo đình Hàng Kênh và giai đoạn trùng tu lớn vào năm 1907. Bên cạnh đó cũng có nhiều mảng trang trí, đặc biệt là ván bưng ở Đại bái ở các bộ vì ở Hậu cung là sản phẩm của lần tu sửa năm 2010.

– Bộ vì trục 2(A-D): Ở đầu kẻ trước, mặt bên trái chạm hình rồng với toàn thân hướng về phía cột quân. Rồng có mắt to, tròn; mũi lớn; râu bờm lượn sóng, bay ngược lên, chân khuỳnh, thân uốn khúc trên mây; đuôi là những đao dài xoắn ở vị trí đỡ tàu mái. Phần ván nong kê phía trên chạm hình lá hóa rồng với hướng nhìn tương tự. Ở mặt bên phải đầu kẻ trước, đầu kẻ sau cũng như ở thân và nghé kẻ trang trí hoă văn cụm lá. Vì nóc trục này các con rường được trang trí dạng cụm lá ở hai đầu, phần giữa soi gờ chỉ. Câu đầu bào trơn, được thay thế trong lần trùng tu năm 2010.

– Bộ vì trục 3(A-D): về cơ bản có kết cấu và trang trí giống như vì trục 2(A-D); chỉ khác một chi tiết là đầu kẻ trước bên phải cũng được trang trí rồng như mặt bên trái.

– Bộ vì trục 5(A-D): phần đầu bẩy đã có thêm sự xuất hiện của lân, rùa bên cạnh rồng, trong đó hình ảnh rùa khá nhỏ bé, ẩn trong sóng nước. Ván dong phía trên mặt bên trái có sự xuất hiện của cả rồng và phượng. Phượng được đặc tả ở phần đầu, chân và hai cánh dang rộng, phần thân được ẩn đi sau lớp cánh.

Cốn vì nách ở trục này cũng được chạm kín cả hai mặt. Mặt bên trái, các con rường cánh chạm nổi hình rồng với nhiều góc nhìn và tư thế khác nhau, xen lẫn còn xuất hiện hình hổ nhưng kích thước nhỏ hơn khá nhiều. Dường như người thợ xưa muốn gửi ước vọng sinh sôi nảy nở, con cháu đầy nhà trong những nét chạm khéo léo, tài tình này. Ở trên xà nách, bên cạnh hình rồng còn xuất hiện hình rùa, long mã và phượng tạo hình bộ tứ linh đầy đủ, làm nền cho chủ thể này là hình hoa lá và vân mây. Ở mặt bên phải, thanh rường trên cùng và cũng là đuôi dư trang trí hình phượng, phía dưới trang trí dạng mây hóa rồng lớn; xà nách trang trí hình tứ quý chạm nổi tùng, trúc, cúc, mai cùng những con chim xen kẽ. Vì nóc ở trục này cũng được chạm khắc tương tự như ở các vì trục khác; hai đầu dư đỡ dưới dạ câu đầu chạm hình đầu rồng có hình rồng phía trước phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 19, đầu rồng phía sau mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 20. Ở mặt trái vì nách sau, con rường trên cùng là đuôi dư trang trí phần thân và đuôi rồng. Cốn chạm hình hoa có nhiều đao mác tỏa ra và hình lá hóa rồng. Mặt bên phải, hình tượng con rồng tiếp tục chiếm vị trí chủ đạo và xuất hiện trang trí trúc hóa rồng; ở xà nách là hình lưỡng long chầu nhật.

Ở bộ vì mặt này, các mảng chạm ở cốn được làm ở giữa thế kỷ 19 nhưng được mô phỏng theo các mảng chạm mang phong cách thế kỷ 18 ở đình Hàng Kênh, còn những mảng chạm ở xà nách mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 20.

– Bộ vì trục 6(A-D): đầu bẩy chạm khắc có nhiều nét tương đồng với trục 5(A-D). Ván nong phía trước bên trái trang trí dạng hồi văn cụm lá mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 20. Ở mặt còn lại, rồng và phượng vẫn giữ vị trí chủ đạo. Từ đầu rồng lớn nhả ra sóng nước, ở phía dưới chạm khắc hình cá đang uốn mình cuộn theo. Ở phía dưới tàu mái là hình long mã phụ hà đồ với hình chữ Thọ trên lưng; bên cạnh là hình hoa lá, giữa những cánh hoa là hình chim đang dang rộng đôi cánh.

Trang trí trên bộ cốn chồng rường trước sống động với dày đặc các mảng chạm linh thú và hoa lá. Ở mặt bên phải, hình ảnh cá hóa rồng cũng xuất hiện với chân bốn móng, phần thân dày đặc đao mác nhưng đuôi tạo hình đuôi cá, bên cạnh là hình một con hổ đang bám vào phần đuôi này. Ở mặt bên trái, đề tài hoa lá dày đặc hơn, nổi bật là hoa văn trúc hóa rồng. Ở phía dưới là hổ và phượng đan xen. Ẩn mình trong hoa văn sóng nước là những con cá sống động trong tư thế bơi theo phương nằm ngang.

Ở bộ cốn sau, đuôi dư hình hổ phù, miệng há to trang trí hình chữ Thọ, với bờm tóc dạng đao lửa bốc lên. Phía dưới chạm khắc hình rồng và phượng. Các mảng trang trí ở bộ vì này có nhiều niên đại khác nhau, khi ghép một số không khớp nối liền mạch

– Bộ vì trục 8(A-D) và 9(A-D) chạm khắc gần tương tự như trục 2(A-D) và 3(A-D), mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 20.

– Các bộ vì nách (B(1-2), C(1-2), B(9-10) và C(9-10) cũng đều được trang trí dày đặc rồng ổ với nhiều tư thế khác nhau, đao mác thẳng nhọn kéo dài; những con vật khác như cá, hươu, hổ, phượng mặc dù cũng xuất hiện nhưng rất nhỏ bé và làm nền cho hình ảnh rồng ở vị trí trung tâm. Hầu hết các mảng chạm đều có niên đại thế kỷ 19, một số vị trí như đấu con sơn được làm vào đầu thế kỷ 20.

– Nếu như đầu dư chỉ có ở các cột cái gian giữa thì hệ thống cánh gà được trang trí ở tất cả các cột cái các gian. Cánh gà chạm hình rồng lớn với những đao mác nhọn, dài hất ngược về sau, ở phía dưới được trang trí thêm nhiều con thú nhỏ khác như hổ, rồng con thấp thoáng sau các đao mác hoặc dưới móng rồng lớn. Dưới cùng là đấu con sơn trang trí dạng hồi văn cụm lá.

Trên các ván gió và lan can cũng dày đặc các mảng chạm với nhiều đề tài phong phú như rồng, voi, mặt trời, đao mác, đấu củng mang niên đại tạo tác thế kỷ 19. Mặt trước ván bưng chạm nhiều hơn đề tài hoa lá cách điệu xen kẽ hình rồng chầu; tuy nhiên đây là sản phẩm mới được làm vào đầu thế kỷ 21, mô phỏng theo lối chạm khắc cổ.

– Bộ vì trục D(4-7) ở tòa Ống muống có con rường suốt chạm khắc hình lưỡng long tranh châu, các con rường cánh trang trí rồng chầu, hai cột trốn trang trí hoa lá. Rồng cũng là đề tài chính được thể hiện ở đầu dư và vì nách. Quá trình tháo dỡ, trùng tu di tích đã khiến một số ví trí con rường ở đây không ăn khớp về mặt bố cục.

– Bộ vì trục E(4-7) và F(4-7) có vì nóc kiểu chồng rường, chạm hình hoa lá cách điệu đơn giản ở đầu các con rường, xà nách và bẩy, hình rồng xuất hiện trên đầu dư và các con rường ở vì nách, không thấy xuất hiện linh thú khác.

– Ở tòa Hậu cung, hai vì nóc 5(G-H) và 6(G-H) cũng chỉ được trang trí hoa lá đơn giản; hai vì nách sau, bốn vì nách hồi và đầu dư trang trí hình rồng có niên đại đầu thế kỷ 20.

Nhìn chung, trang trí bên trong nội thất đình Dư Hàng chủ yếu là đề tài rồng, phượng, lân, rùa, voi, vân xoắn, trúc hóa rồng, chim, cá, không thấy xuất hiện đề tài con người. Những mảng chạm này mang phong cách nghệ thuật chủ đạo là giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, một số có niên đại muộn vào đầu thế kỷ 21 nhưng mô phỏng theo các đường nét hoa văn cổ.

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *