Ngọc phả của Tiền Ngô vương-Dịch giả Dương Anh Dũng và Nguyễn Thị Hoa

Ngọc phả thuộc bộ Càn, Sắc phong Thượng đẳng thần.

Do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn

Thời kì đầu của nước ta, lúc người phương Nam và người phương Bắc đang tranh giành nhau, ở Đường Lâm có người họ Ngô tên húy là Quyền. Tiên tổ của ngài tên là Tùng. Lúc ấy là vào cuối đời Đông Hán, thiên hạ đại loạn, khổ vì đi lính đánh trận những nơi xa xôi, ông Tùng bèn giữ mình thanh sạch lánh thân ở đất phương Nam. Ông lấy vợ người bản xứ họ Đỗ, sinh được ba người con trai, tên là Tương, tên là Lý, tên là Đỗ. Tương sinh ra Vinh, Vinh là người đứng đầu trong làng, lấy vợ họ Lý người bản ấp, sinh được 6 người con trai, đều là những người có sức vóc, trở thành người phương Nam, dòng họ là lớn trong làng. Con trưởng tên là Xuân, là người lỗi lạc có chí lớn. Năm Đại Đồng nhà Lương (535-546), chiêu mộ thủ hạ hơn trăm người, theo Triệu Quang Phục, giúp Lí Nam Đế, dẹp yên giặc Tiêu Tư, có được công tích lớn, được chấp thuận truyền đời là tù trưởng trong vùng. Xuân sinh ra Hoa, Hoa sinh ra Côn, Côn lấy vợ họ Phạm người trong châu sinh ra Vương (Ngô Quyền). Mẹ của Vương là người hiền đức, người trong ấp đều kính trọng, yêu quý. Năm 20 tuối gả vào nhà họ Ngô, có người xem tướng nói rằng: Người đàn bà này nhất định có đại quý, nên sẽ sinh con tài giỏi. Đến khi mang thai, gần lúc sinh nở, trong giấc ngủ trưa, mơ thấy một người cầm một buồng cau, quả của nó xanh tươi, to và nhiều. Người đó nói rằng: “Ban cho để làm giống, chớ có xem thường.” Mẹ Vương vui mừng giơ tay nhận lấy. Tỉnh dậy, bỗng nhiên nhanh chóng sinh Vương. Đó là ngày 12 tháng 3. Vương sinh ra có nhiều điềm tốt, phong tư nổi bật, vẻ ngoài khôi ngô, miệng có thể ngậm được cả nắm tay, trong lòng hai bàn tay mỗi bên đều có nốt ruồi đen. Mẹ Vương làm lạ, lấy chuyện nằm mộng hôm trước nói tường tận cho bố của Vương. Bố của Vương nhân đó khen rằng cây cau là một loại cây có quả tươi tốt, to và nhiều. Ấy là điềm làm chúa tể thiên hạ, tay nắm giữ binh quyền, trong chuyện đó ắt sẽ có ý nghĩa quyền quý đấy. Đến khi Vương trưởng thành, mắt sáng như điện, tiếng vang như sấm, đi như rồng như hổ, có đức có uy của người ở ngôi cao, tài hơn người thao lược giỏi, trí dũng đa mưu, sức có thể vác được vạc, có tấm lòng bao dung rộng lớn, có cái tâm quảng đại, có khí chất của bậc đế vương. Bố của Vương đem thuật cung tên trao cho. Lấy tất cả những điều bí truyền và quan trọng của phép dùng binh dạy cho Vương. Đến lúc làm lễ “Gia quan” (lễ trưởng thành của nam giới: Lễ đội mũ), cha mẹ đều mất cả, Vương dốc lòng thờ cúng với cha mẹ. Ba năm tế tự cha mẹ không hề sơ xuất trong lễ nghi. Về sau Dương tướng công đem con gái gả cho. Khi về nhà chồng, bà họ Dương giỏi cai quản trong nhà, rất mực chăm chỉ việc cày cấy, dâu tằm dẫn đến gia sản ngày một nhiều. Trước sinh hai con trai, sau sinh một con gái. Con trai trưởng tên là Xương Ngập, con trai thứ tên là Xương Văn, đều có dung mạo cao lớn lạ thường, khí chất thông minh. Vào năm Khai Nguyên đời nhà Đường (712-756), người phương Bắc là Lý Khắc Chính và Lý Tiến làm quan cai trị, tham tàn bạo ngược, người dân phải làm việc suốt ngày không được nghỉ ngơi. Dần dần mọi người đều sinh lòng oán hận. Cướp đoạt, đục khoét dân lành, hình phạt nặng nề, pháp luật hà khắc. Hễ mệnh lệnh cai trị được ban bố, không dám làm trái. Như hái quế, tìm châu, đãi vàng, mò ngọc. Tróc thuế nặng nề. Dân không nương nhờ vào đâu mà sống được. Có người dâng cống không đủ, tội giáng lên cả dòng họ. Dẫn đến bán vợ đợ con không thể đủ cống cho chúng. Một ngày Vương suy nghĩ lo lắng ưu phiền, hiện lên nét mặt, đêm ngủ không thành giấc, ngồi không yên chỗ. Vợ Vương không biết như thế nào, thấy thế mấy lần ướm hỏi. Vương đáp rằng: “Ta có việc suy nghĩ, chẳng phải điều mà nàng có thể xét được.” Vợ Vương nói: “Chẳng phải việc nước rối tung, nhân dân nguy ngập, cực kì khốn đốn hay sao?” Vương bùi ngùi than rằng: “Nàng là đàn bà, vậy mà liệu việc như thần, huống chi là ta đây!” Vợ Vương nói rằng: “Vậy ý của chàng muốn như thế nào?” Vương nói rằng: “Ta muốn có được vàng một khối, thóc lúa nghìn thùng, cứu dân ra khỏi sự lầm than này, đặt thiên hạ vào chỗ thái bình, khiến cho trăm họ được an nhàn, muôn dân vui với nghề của mình. Nhưng lo rằng sức không có để thực hiện, tâm chí và suy nghĩ là thế đấy.” Vợ Vương cười nói rằng: “Lo lắng của chàng có thể nói là rất lớn lao. Ôi, bĩ rồi lại thái, tối thì ắt sẽ sáng, trời có tuần hoàn, là cái lý xưa nay thế đó. Hơn nữa vận mệnh nước ta, đã chịu khổ nạn lâu rồi, ắt sẽ đến ngày vui sướng. Mà người phương Bắc đắc chí thỏa mãn, sao lường được chẳng phải sẽ đến ngày khốn đốn thôi. Huống chi quan Thứ sử lại tham tàn, thần và người đều phẫn nộ. Nếu như đội quân chính nghĩa đứng lên, thì mong muốn được hồi sinh sẽ khiến tất cả nổi dậy, nhân đó mà giết chúng người người gần xa sẽ tự nhiên hưởng ứng đấy.” Vương cho lời ấy là đúng. Từ đó âm thầm làm những việc thiện đức, phát chẩn cho người nghèo, giúp đỡ người cô độc, côi cút, phân phát tiền của, nuôi những người đến ở trong nhà, cấp dưỡng rộng rãi cho những người dân lưu lạc. Những người cùng chí hướng quy tụ đến đông để giúp. Đến năm Quý Mùi, Gia tướng Dương Đình Nghệ khởi binh, có chí mưu đồ khôi phục, bái Vương làm tướng thân tín. Vương nhiều mưu và thiện chiến, ông đánh đâu thắng đó. Lúc bấy giờ, vua Hán đành trao cho Đình Nghệ tước vị, lấy Lý Tiến làm Thứ sử Giao Châu cùng với Lý Khắc cai trị phòng giữ. Lúc đó, Dương Đình Nghệ nuôi ba nghìn con nuôi, có chí mưu đồ khôi phục. Năm đó, Đình Nghệ phát binh tự tiến đánh, bèn cử Vương làm quân tiên phong. Vua nhà Hán sai Thừa chỉ Trần Bảo đem quân lính đi cứu viện. Dương Đình Nghệ và Vương đã đánh bại chúng. Bảo thua và chết. Đình Nghệ tự lập mình làm Tiết độ sứ. Đình Nghệ truyền mệnh vua cai quản châu Ái (Thanh Hóa), vỗ về chăm sóc dân chúng nơi đây. Trong nước đều yên ổn, thái bình thịnh trị. Năm Đinh Dậu, Kiều Công Tiện mưu sát bố vợ (Dương Đình Nghệ) của Vương và lên thay. Lúc bấy giờ, Vương lánh cư ở Lương Xâm, xây thành để cố thủ, chiêu gọi những người trốn lánh, thu nạp những người cùng chí hướng, để mưu tính việc tiến đánh và giành lại. Vương bèn di chuyển đến Kinh Môn, viết hịch chiêu mộ, người tài đến giúp khá nhiều. Trong đó có cả người ở huyện An Dương (về sau các xã theo Vương đều được sắc phong Vương là Phúc thần),và xã Gia Viên (trước đây là trang nhưng đến thời Trần đổi thành xã cho nên có tên xã quan) có ba mươi người. Vương lấy họ làm đội thần tử. Tháng 12 mùa đông năm Mậu Tuất, Vương cử bề tôi là Dương Tam Kha và các binh sĩ gồm năm vạn quân, đến châu Ái dấy binh khởi nghĩa, tiến đánh Tiện, tiếng tăm quân của Vương vang dội khắp nơi, hợp với lòng người gần xa. Công Tiện lo sợ vô cùng, sai người mang của đút lót, cầu cứu vua Hán. Vua Hán muốn nhân dịp loạn này để lấy nước ta, bèn cử con trai mình là Vạn vương Hoằng Tháo làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, rồi lại phong là Giao Châu Vương, đem quân cứu Tiện. Vua Hán đóng quân ở cửa Thạch Hải, để gây thanh thế và làm quân cứu viện. Vua Hán hỏi kế sách Sùng Văn hầu Tiêu Ích. Ích trả lời: “Nay mưa dầm đã nhiều tuần, đường biển khó vượt và xa, Ngô vương là người thông minh tài giỏi không thể coi nhẹ được đâu. Đại quân nên giữ lấy sự thận trọng, dùng người dẫn đường mới có thể tiến quân.” Vua Hán không nghe, sai Hoằng Tháo đem thuyền quân từ Bạch Đằng giang tiến vào, qua cửa Nam Triệu muốn tấn công Vương. Lúc bấy giờ, Vương đã đóng quân ở địa phận sông của Gia Viên, lấy đây làm nơi phòng giữ. Vương đã sai Tam Kha giết Công Tiễn. Nghe tin Hoằng Tháo đến, Vương nói với các tướng rằng: “Hoằng Tháo là một đứa trẻ ngốc mà thôi, quân tướng từ xa tới đây, binh lính mệt mỏi, lại nghe Công Tiện chết, không có người nội ứng, sĩ khí như vậy là đã bị lấy mất rồi. Ta muốn lấy sức đang mạnh để chống lại sự mỏi mệt của địch, ắt là phá được chúng.” Bỗng nhiên trong tướng lĩnh có người tiến lên nói rằng: “Quân địch mạnh ở chiến thuyền, ví phỏng không phòng bị trước thì thắng thua chưa biết thế nào. Nay đóng cọc hai bên cửa sông. Nước lên sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả vờ chạy để lừa chúng vào chỗ chết, rồi quân của Hoằng Tháo sẽ từ đó mà tan tác.” Vương cho là đúng, đưa mắt nhìn người đó, là con trưởng Xương Ngập. Lại có một người tiến lên thưa rằng: “Bề tôi tuy bất tài, nhưng rất am hiểu thủy trận, xin đem ba mươi chiến thuyền, đi thẳng đến chỗ đóng quân của giặc, lập tức chém đầu Tháo, dâng lên dưới cờ soái.” Vương khen ngợi lời nói đó, lại nhìn người vừa nói, thì ra là gia thần người xã Gia Viên tên là Nguyễn Tất Tố. Sau đó tất cả các tướng đồng thanh tâu rằng: “Chúng thần xin tận trung báo quốc, chung sức giúp Vương, quân Tháo tuy mạnh nhưng khó chạy thoát được lưới giăng của nước ta.” Vương vô cùng vui mừng, lệnh con trai Xương Ngập đưa một vạn cấm binh cùng các vị tướng lĩnh thân thuộc theo cửa sông đánh lại, Tam Kha dẫn vài nghìn quân thiện xạ, và Đào Nhuận (người làng Gia Viên) theo cửa Hàm Tử đánh tới. Tất Tố cưỡi thuyền nhẹ bao gồm hai mươi chiếc, đi thẳng đến Bạch Đằng để đón đánh. Quả nhiên, Hoằng Tháo dẫn quân tới. Vương ở trên bờ phát hiệu lệnh, binh sĩ giả  bơi thuyền chạy, Hoằng Tháo đốc quân đuổi theo. Thuyền quân đã vào bãi cọc, nước triều rút cọc lộ ra, Xương Ngập, Tam Kha hai bên phải trái cùng tấn công, Vương dẫn quân đánh tới, đại phá quân địch. Giặc thua chạy vỡ tan, Hoằng Tháo chết tại trận tiền. Dòng sông như một con đường máu, quân của Tháo chết vô số đếm không được. Vua Hán nghe thấy tin ấy gào khóc thảm thiết, thu tàn quân mà quay về phương Bắc. Từ đó người phương Bắc không dám quấy nhiễu, nhân dân trong nước thoát được cảnh khổ của chiến tranh. Quần thần văn võ mời Vương lên ngôi. Tháng giêng mùa xuân năm Kỉ Hợi, ngài mới xưng Vương, lập phu nhân họ Dương làm Hoàng hậu, sắp xếp bách quan, đặt lại triều nghi, định ra triều phục, mở tiệc khao quân, thưởng cho những người có công vất vả. Các vị bề tôi tùy theo công lao mà phong tặng thứ bậc khác nhau. Hễ là người dân trong thiên hạ đều phụng chỉ tô thuế, ân chuẩn cho xã dân xã Gia Viên là dân Hộ nhi tạo lệ (được miễn sưu thuế). Binh lương thuế khóa đều được miễn trừ. Từ đó trang Gia Viên nhà no người đủ, có thể nói là một làng giầu có, đều nhờ vào ân đức của Vương. Lời truyền thời này Vương thống nhất được thiên hạ, giang sơn về một mối, trăm họ ngợi ca, thiên hạ thái bình. Vương bèn dời về Loa thành, ở ngôi sáu năm. Một ngày Vương bệnh nặng, để lại di mệnh rằng Tam Kha giúp con trai mình. Ngày 18 tháng giêng mùa xuân năm Giáp Thìn, Vương mất. Vương thọ 47 tuổi. Vương giỏi đánh trận, giỏi dùng mưu, đã thực hiện được công lao tái tạo giang sơn, là người thực sự đứng đầu các chư hầu, mở ra nền độc lập, quần thần tôn vinh tước hiệu: Tiền Ngô vương thiên tử

Đến đời sau Ngô vương lên ngôi truy tôn Ngài là: Anh Vũ hoàng đế.

Chiếu cho các nơi trước đây Vương đã lập hành cung đều dựng miếu thờ Ngài. Lúc bấy giờ xã Gia viên nghe Vương mất, người dân ngưỡng mộ đức của Vương, ở nơi hành cung cũ trang hoàng điện phụng thờ, đề thần hiệu là: Tiền Ngô vương thiên tử, phụng thờ Vương ở đây. Đền linh thiêng lạ thường. Vào thời Lý Thái Tông, niên hiệu Minh Đạo (1042-1044), vua Lý Thái Tông thân chinh đi dánh Chiêm Thành, có đi qua đền ở Gia Viên, Vương có công lao âm phù nên được phong tặng hai từ: Nhân hậu Hoằng tín. Niên hiệu Hưng Long thứ 21 (1313), Ngài được phong tặng hai từ: Minh văn Thánh vũ. Niên hiệu Trùng Hưng thứ nhất (1285), Ngài được phong tặng hai từ: Anh dũng Uy liệt để tỏ rõ công lao mặc vận âm phù (xoay chuyển vận thế phù trợ âm thầm) vậy.

Xã Gia Viên huyện An Dương thờ phụng ngài. Đền thờ chính ở xã Lương Xâm cũ nay là Lương Thâm.

Truy tôn: Tiền Ngô vương thiên tử.

Ngày Thánh đản sinh: 12 tháng 3.

Ngày Thánh hóa: 18 tháng Giêng.

Chữ Quyền cấm không được gọi đến, chữ Ngô nên tránh âm đó.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *