Nguồn gốc họ Đỗ-Tác giả Dương Anh Dũng

 Họ Đỗ   ()

Theo ngọc phả, thánh tích và tư liệu còn lưu giữ được, khẳng định: Họ Đỗ là một cộng đồng người Việt đã sinh tụ, phát tích trên đất nước ta cách đây trên 5000 năm, đấy chính là người Việt cổ có hậu duệ sau này cùng các vua Hùng lập nước Văn Lang.

Vùng đất Gò Thiềm Thừ (Ba La – Hà Đông) là nơi họ Đỗ nhận làm nơi phát tích của dòng họ. Theo “Cổ Lôi ngọc phả truyền thư”, “Bách Việt tộc phả” thì những người họ Đỗ xa xưa nhất tới nay được biết đến là cụ bà họ Đỗ, thân phụ là Đỗ Thương, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Cụ sinh ngày mồng tám tháng tư và hoá (mất) ngày rằm tháng bảy. Cụ thường được gọi theo họ là Đỗ Quý Thị (tức Quý bà họ Đỗ). Cụ lấy chồng người họ Nguyễn tên là Nguyễn Minh Khiết, tức là Đế Minh. Hai cụ sinh ta Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương). Họ Nguyễn Vân ở làng Vân Nội vẫn cúng giỗ cụ hằng năm với bài văn cúng: “Thỉnh tổ tổng khoa- Cúng gia tiên”. Mộ và miếu thờ cụ ghi trong thư tịch cũ trên đây nay vẫn còn ở Ba La, thị xã Hà Đông.

Cụ có 8 người em trai có tên là: Đỗ Xương, Đỗ Tiêu, Đỗ Kỷ, Đỗ Cương, Đỗ Chương, Đỗ Dũng, Đỗ Bích, Đỗ Trọng.  Do có sự bất hoà với chồng (Đế Minh), cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của cụ giúp cho Lộc Tục trưởng thành. Cụ theo đạo Bà la môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi (sau tu đắc đạo thành bát bộ Kim Cương), hết lòng giúp cháu (con của chị), cho đến khi Lộc Tục được cha là Đế Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên nước là Xích Quỷ. (Đây là cổ thư có nhiều yếu tố huyễn hoặc, ta chỉ đọc tham khảo- DAD).

Họ Đỗ (Đậu) đã đi vào lịch sử dân tộc. Thời nào cũng có hào kiệt:

-Thời Hùng Vương 18, hai tráng sĩ họ Đỗ cùng 40 tướng  theo Tản Viên Sơn Thánh đánh lại Thục Phán.

-Năm 40 SCN có các tướng Đỗ Phụng Chân, Đỗ Quang, Đỗ Công Điền, Đỗ Ả Lã, Đỗ Nương Chi, Đỗ Mẫn; Thái sư- võ sư Đỗ Năng Tế, Đỗ Thị Hảo, Đỗ Thị Dung, Đỗ Xuân Quang, Đỗ Dương đã cầm quân dưới cờ khởi nghĩa Hai Bà Trưng thu lại 65 thành trì xưng vương lập nước.

– Càng về sau, người họ Đỗ (Đậu) càng được ghi tên nhiều trong sử sách. Tiêu biểu là Đỗ Cảnh Thạc giúp Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng (938), Đại tướng Đỗ Chính Minh phò Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành; Tiến sĩ Đỗ Nhuận – phó Nguyên súy Tao Đàn thời Lê; Đỗ Lý Khiêm là Trạng nguyên (1499) nhà Lê; Đỗ Tống là Trạng nguyên (1529) nhà Mạc…

Theo chúa Nguyễn vào Nam đầu thế kỷ 19, ông Đỗ Công Tường (Đỗ Cao Lãnh) có nhiều công lập chợ và giúp dân nghèo trong vùng. Sau khi mất, ông được người dân lập đền thờ, vua nhà Nguyễn phong là Thành hoàng, và tên ông cũng  trở thành địa danh, đó là Cao Lãnh,  thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Họ Đỗ là dòng họ đặc biệt, đã tự nhận có tổ tiên là Thánh mẫu, là Bát Bộ Kim Cương trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đồng hành cùng dân tộc, họ Đỗ đã đóng góp nhiều hiền tài cho Tổ quốc.

Hiện nay, họ Đỗ cũng rất đông, chiếm 1,4% dân số cả nước. Con cháu ngày nay tôn vinh Cụ Đỗ Thương và tổ mẫu Vụ Tiên là tiên tổ của dòng họ Đỗ (Đậu).

Lời bàn:

1-Tư liệu theo Ngọc phả truyền thư là theo sách “Họ Đỗ Việt Nam” tập 1, NXB VH-TT, Hà Nội, năm 2001, trang 239-244 do PGS Đỗ Tòng chủ biên và sách “Việt Nam cội nguồn trăm họ” của GS Bùi Văn Nguyên, NXB KH-XH, Hà Nội 2001, tr 75-83.

2- Họ Đỗ những năm gần đây đã tìm được cuốn sử của dòng họ chép về lịch sử đất nước và dòng họ. Đó là cuốn “Cổ lôi ngọc phả”. Người khen cho là tàng thư cổ, người chê cho là ngụy thư.

Đây là ý kiến của họ Đỗ Việt Nam: Theo Trang tin họ Đỗ Việt Nam: “Họ Đỗ Việt Nam trong cội nguồn lịch sử”, đăng ngày 18-3-2015:

1- Thủy tổ là Đế Hòa.

2- Đế Hòa sinh Phục Hy, vợ là Trinh Nương.

3 -Phục Hy sinh Thần Nông.

4- Thần Nông sinh Tiên Đế (Đế Tiết Vương), vợ là Nữ Hoàng Vân (Có mộ và miếu thờ ở Thanh Oai – Sơn Tây).

5- Tiên Đế sinh Đế Quý Công (Đế Thừa Sở Minh công)

6- Đế Quý Công sinh Nguyễn Minh Khiết, hiệu Thái Khương Công hay Khương Thái Công, tức là Đế Minh, vợ là người họ Đỗ, thường gọi là Đỗ Quí Thị.

7- Đế Minh sinh Kinh Dương Vương (Lộc Tục).

(Tiếp theo về Đỗ Quý Thị như trên đã nói)

Với tư liệu này thì Đế Minh có vợ người họ Đỗ sinh ra Kinh Dương Vương (Lộc Tục). Ông nội của Đế Minh (Tiên Đế – Đế Tiết Vương) có mộ và miếu thờ ở Thanh Oai – Sơn Tây.

Như vậy bà họ Đỗ là mẹ Kinh Dương Vương và gia tộc Kinh Dương Vương ngược lên đến Phục Hy đều là người Việt ở khu vực Hà Nội ngày nay (Sơn Tây). Họ Đỗ còn gắn liền với đạo Mẫu- một đạo thuần Việt. Bà Đỗ Thị là Vân Cái Bồ Tát, Thánh Sơn Trang, Kinh Dương Vương là Ngọc Hoàng Thượng Đế (!).

Đây là huyền thoại và là câu chuyện ngộ nhận huyễn hoặc được Việt hóa, song điều cốt lõi đã chỉ ra rằng người xưa cho thủy tổ dân ta là người Việt, Phật Thánh đều từ người Việt tu đắc đạo mà thành. Đồng thời đã khẳng định tín ngưỡng đạo Mẫu là phát sinh từ nội tại của dân tộc Việt.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *