Phong tục làng Dư Hàng Lê Chân Hải Phòng-Tác giả Dương Anh Dũng

Phong tục Làng Dư Hàng

Tri huyện Dương Văn  Sách Cung cấp cho cuộc điều tra của hội Khảo cứu phong tục năm 1936

 

  1. Tên làng:

– Làng Dư Hàng (餘杭社) không có tên Nôm, tổng Đông Khê (東溪總) huyện Hải An (海安縣), tỉnh Kiến An (建安省), mới sát nhập vào thành phố Hải Phòng.

  1. Thần Thành Hoàng.
  2. Làng tôi thờ đức Ngô Vương thiên tử, lịch triều sắc phong hiệu ngài là Ngô Vương thiên tử thuợng đẳng tối linh đại vương. Tên húy ngài là Quyền – Ngô Vương Quyền.
  3. Ngài là một ông vua nhất thống nước Nam ta đầu tiên, ngài là nhân Thần.
  4. Sự tích ngài đã chép tường ở Nam sử, ngài làm vua đóng đô ở thành Cổ Loa, tỉnh Bắc Ninh. Khi xưa có thái tử nhà Hán bên Tầu là Hoằn Thoán cùng nhà Bắc Hán đem quân sang đánh nước Nam, ngài đem quân đóng đồn ở đất đền Giầm bây giờ, đền làng Lương Xâm (琅琛) để đánh giặc Tầu. Ngài đánh phá giết được giặc Tầu ở sông Bạch Đằng thuộc tỉnh Quảng Yên, cứu được dân nước Nam ta khỏi phải lầm than về sự nội thuộc, ngài hóa ngày 18 tháng giêng An Nam.

Vì ngài có công cứu dân khỏi nội thuộc, nên sau khi ngài hóa, dân sở tại làng (Lương – Xâm) truy tư công đức, lấy chỗ đền cũ làm đền thờ ngài, gọi là đền Giầm, rồi sau các làng trong 5 tổng là: tổng Lương – Xâm, tổng Trung – Hành, tổng Hạ – Đoạn, tổng Trực Cát và tổng Đông Khê đều thờ ngài cả.

  1. Từ đời vua Lê đến giờ như triều Lê, Lý, Trần, Tây – Sơn, Mạc, Hậu – Lê và triều Nguyễn bây giờ, đời vua nào cũng có sắc phong hết cả, có lẽ nhiều lắm không sao kể xiết vì không được phép sao ra.

Trước khi chưa thờ ngài, thì làng Dư Hàng và làng Hàng kênh có thờ chung một vị, hiệu là đức (Già – Vũ), ngài là người Họ Vũ xã Dư Hàng, ngài làm quan công thần Triều Trần, sau cả hai làng đều thờ đức Ngô Vương, còn đức Già – Vũ bây giờ chỉ có một thôn Bắc xã Hàng Kênh thờ thôi, tục gọi là Từ Vũ.

  1. Các làng thờ ngài Ngô Vương không làng nào có lệ giao hiếu giao lưu gì cả, chỉ có cả tổng Đông Khê bây giờ về bản triều đã sắc phong riêng cho mỗi làng một đạo rồi. Lại có một đạo sắc phong cho đồng tổng phụng sự. Vì thế, đạo sắc ấy cứ độ niên tháng 2 lại rước luân chuyển xã này sang xã khác, cứ để mỗi xã một năm, tuy có một xã rước, nhưng các xã đều phải có nghi – trượng ứng tiếp cả.
  2. Làng nào thờ ngài đều có tượng bài vị và long ngai cả, làng nào cũng có Miếu để thờ tượng, còn Đình thì chỉ thờ bài vị và long ngai và là nơi hội họp cúng tế của làng.
  3. Nơi thờ ngài.
  4. Xã Dư Hàng và xã Hàng Kênh thì mỗi xã có một pho tượng, nhưng thờ chung 1 ngôi miếu, nguyên là cái gò đất cao của công hai xã, tục gọi là miếu Hai Xã. Ngày trước chỉ có ngôi miếu ngói ba gian thỏi.
  5. Nay ở Miếu ấy Hai Xã làm thêm 1 cái bái đường ở ngoài, và hai bên có hai cái hành lang mỗi cái 5 gian, rộng rãi và đẹp đẽ lắm.
  6. Chung quanh Miếu đều là đất cấm địa, không ai được làm gì ô uế cả, ở Miếu vẫn có ông thủ từ để trông nom đèn hương quanh năm. Hai xã cúng tế, hội họp đều ở Đình cả. Trong một năm chỉ có 23 tháng chạp ta thì cả hai xã làm lễ dịch mã (thay mũ áo mới) ở miếu một lần thôi, hai xã tế chung. Còn ngoài ra khi nào Giời làm hạn hán thì hai Xã mới hội đão vũ ở Miếu.
  7. Tế lễ hàng năm.

Quanh năm tế lễ thì ngày trước sẽ tốn cũng nhiều nhưng khi cải lương đến nay, thì đã giảm đi mất một nửa rồi, hiện nay chỉ còn có lễ Nguyên Đán (mồng một tết ta), mồng 4 tháng riêng là lễ giao diệt  (đánh vật).

  1. Ngày 17 tháng giêng là ngày lễ ky, trung tuần tháng 2 ta là lễ Kỳ phúc 3 ngày.
  2. Ngày 15 tháng 7 là lễ trung nguyên, lễ thường tân là lễ gạo mới độ cuối tháng 10 ta, 24 tháng 11 là lễ chạp thần và tối hôm 30 tết là lễ giao thừa, ấy là các lễ thường, còn trong làng chẳng may sẩy ra tai nạn thời dân có làm lễ Kỳ yêu.
  3. Đồ lễ

a- Đồ lẽ dùng để cúng tế thời phải có lợn, gà, sôi, hoa quả, rượu và trầu cau…Từ khi theo cải lương đến nay thì lễ phẩm đã giảm đi được quá nửa thí dụ như khao lão thì ngày trước vọng 70 tuổi hết  15 đ. Ngày nay dân lấy chiết can bằng tiền hoặc 5đ hoặc 3đ cũng xong. Khao vọng phẩm hàm ngày trước phải 30đ, ngày nay nộp chiết can hoặc 15đ hoặc 10đ chẳng hạn ,tùy theo sức người giầu nghèo.

b- Thường năm, các lễ phẩm tế Thần thì người tế đám cả phải liệu, còn tiền thì đã có tiền hoa lợi ruộng tư điền, vì làng tôi không có ông mạnh bái dân cứ chiểu theo sổ hương ẩm trong làng cắt ra 20 người thanh niên làm đăng cai, còn người tế đám cả lại phải chọn kỹ hơn, con nhà đàn anh, có vật lực mới được làm.

c- Khi tế xuống thì lễ phẩm ấy giao cho Lý dịch sai bảo làm cỗ, nếu có lợn giở lên, thì phải có đủ thượng hạ từ 18 tuổi mới được vào làng trở lên tới ông lão 100 tuổi  đều được dự cả, các ông lão từ 70 tuổi giở lên đã có vọng thì mỗi ông một cỗ, Tiên thứ chỉ, Lý trưởng và các người có phẩm hàm  đã theo lệ. Khao vọng rồi  đều được mỗi người một cỗ, còn đều 4 người một cỗ cả. Đầu lợn thì một nửa chia biếu từ phẩm hàm trở lên, một nửa chia biếu từ 60 tuổi trở lên.

  1. Người dự tế lễ.

Các người phần việc dự lễ thì không có hạn định, hễ đã có quyên tiền mua thứ vị ở làng và đã có khao vọng theo lệ thì được là quan viên cả, đều được vị thứ ứng tế cả.

  1. Kiêng kỵ khi tế lễ.

Những người ứng tế đều không có tang chở gì, từ 5 tháng giở lên mới được, đã có tang thì không được ra đình và trai giới sạch sẽ 3 ngày trước mới được ra đình cúng tế.

  1. Đồ đạc tế lễ.

Các người dự tế, phải đội mũ mấn, ác tấc xanh, quần trắng, bít tất trắng, tóm tắt là phải tỏ ra là mình trai giới sạch sẽ.

  1. Hèm (húy)
  2. Tên húy của đức Thần thì cà làng nhi đồng, phụ nữ ai ai cũng biết kiêng cả, không ai phải bảo, và cũng không ai dám nói phạm húy bao giờ. Làng nào cũng có phong tục riêng của làng ấy, đều có khoản lệ thưởng phạt để cai trị trong làng ấy. Nói tóm lại nhà nước ta đặt ra làng nào cũng phải thờ một vị Thành hoàng là cốt để lấy thần đạo, thiết giáo đó thôi. Vì đã thờ Thần thì làng nào cũng có 1 khoản lệ để cai trị nhau cho có, trật tự trên dưới cho khỏi làm những việc bại hoại, phong hóa. Tục ta có câu: “phép Vua thua phép làng” là thế chỉ vì dân ta phần nhiều ít học, không hiểu lẽ đó mới sinh ra lệ nọ nghạch kia, ăn uống ức hiếp lẫn nhau, đến nỗi có tiếng “miếng thịt giữa làng” đó thôi, ấy là nói đại khái thế thôi. Đến như làng tôi thì lại khác hẳn gọi là có tiếng tế tự, nhưng kỳ thực chẳng có gì, ở Đình trung chỉ thứ vị hơn nhau có quả cau, quả chuối mà thôi, còn các lệ ngạch đều giảm bớt hết, người làng không ai phải đóng góp gì cả. Nên chi đã mấy mươi năm nay, làng tôi không hề có ai kêu ca lôi thôi đến việc ăn uống, thức vị bao giờ, không có việc đến quan phải can thiệp cả.
  3. Chỉ có khi nào có những người phạm việc gì không phải thì đồng dân tại Đình bắt lỗi cơi giầu hoặc chai rượu để lễ tạ thần và xin lỗi dân là xong. Trừ những người làm việc gì can thường phạm nghĩa, thì phạt nặng hơn một tí nữa, là anh em không bảo được, không giữ được nhau thì anh em cũng phải phạt như thế, nếu ai không tuân, là người bật thuận hương đẳng, thì ra đình không ai dám ăn ngồi với và các tư gia ai có việc mới đến làng, không được mười người ấy. Tuy rằng làng không truất thứ vị, mà cũng như là truất vậy.

Thay đổi về việc cúng tế. Gần đây thì việc tế lễ đã tinh giảm nhiều, chỉ cốt thành kính thì thôi, nơi cúng tế có sửa sang đẹp đẽ hơn nhiều, còn số người được dự tế cũng có rộng rãi, dễ dàng hơn nhiều, ngoài ra không có gì thay đổi khác trước cả.

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *