Thân thế sự Nghiệp Tiền Ngô Vương

 

 

Vua họ Ngô tên Quyền, người Đường Lâm, đời đời là nhà quý tộc. Cha là Mân làm chức châu mục ỏ’ bản châu . Nguồn tư liệu qua tộc phả cho biết thêm: Thuỷ tổ cùa Ngô Quyền ở châu Ái (Thanh Hoá), viễn tổ là Ngô Nhật Đại, làm nghề cày ruộng lập nên cơ nghiệp, tiếp đến Ngô Nhật Dụ chăm lo đọc sách, ham mê văn học, theo học với Sĩ vương (tức Sĩ Nhiếp, chạy loạn ở Trung Quốc sang nước ta khoảng cuối thế kỷ thứ 11). Đến đời Ngô Đình Thực, Ngô Đình Mân (tức Ngô Mân – bố Ngô Quyền), đều trở thành hào trưởng, châu mục đất Đường Lâm. Như vậy, về nguồn gốc dòng họ Ngô ở Đường Lâm có quan hệ mật thiết gắn bó với châu Ái, địa bàn sau này Ngồ Quyền cai quản.

Ngô Quyền  sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (897) và mất ngằy 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944). Ngô Quyền.khi mới sinh ra đã có quý tướng.“trạng mạo khác thường” có ba nốt ruồi ở lưng,  thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới dặt tên là Quyền. Đến khi lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng di thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc.

Từ thuở ấu thơ cho đến khi trưởng thành, Ngô Quyển gắn bó với quê hương Đường Lâm. Truyền thuyết dân gian kể rằng: Hằng ngày ông thường theo cha vào đồi Hổ Gầm, Vũng Bùn luyện tập cung kiếm nên sớm tinh thông võ nghệ, đảm lược hơn người, tiếng tăm vang dậy khắp nơi.

Khoảng năm 917, khi Ngô Quyền tròn 20 tuổi, cha mẹ đều nối nhau qua đời. Ba năm sau, khoảng năm 920, từ Đường Lâm, Ngô Quyền đem theo bộ thuộc vào châu Ái theo Dương Đinh Nghệ – một bậc hào trưởng nổi tiếng ở vùng này và là một bộ tướng của họ Khúc.

Sau khi Khúc Hạo mất (năm 917), con là Khúc Thừa Mỹ lên thay quyền Tiết độ sứ. Không đủ tài năng và uy tín như ông và cha nên Khúc Thừa Mỹ khó có thể tập hợp được các thế lưc vùng trong cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược. Vào năm 923 Đại La rơi vào tay quân Nam Hán, Khúc Thừa Mỹ bị bắt đưa về Quảng Châu.

Báo thù cho họ Khúc, Dương Đình Nghệ mang quân từ Thanh Hóa ra đánh đuổi Lý Khắc Chính. Nhà Hán đã mua chuộc trao chức thứ sử Châu Ái cho Dương Đình Nghệ. Để tránh đụng độ với đại quân của nhà Hán trong khi lực lượng chưa đủ

mạnh, Dương Đình Nghệ tạm thời chấp nhận tước vị và hòa hoãn với nhà Hán. Ông về lại làng Giàng- Thanh Hóa chiêu tập lực lượng, riêng nghĩa sĩ lúc này lên đến 3000 con nuôi. Ông đặt ra trường đánh vật, phát huy truyền thống của lò võ làng Giàng rèn luyện quân sĩ tinh thông võ nghệ, giương cao cờ đại nghĩa khuyến khích toàn quân luyện tập để chờ thời cơ lấy lại nước từ tay quân giặc. Về phía đối thủ, vua Hán giao Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu cùng Lý Khắc Chính giữ thành Tống Bình.

Khi này thực chất nhà Hán chỉ quản lý được khu vực xung quanh Tống Bình, còn vòng ngoài hầu hết do thủ lĩnh các địa phương cát cứ. Thả lỏng cho Dương Đình Nghệ về quê hương, đấy là nằm trong kế sách ràng buộc lỏng lẻo (Kimi) của nhà Hán .

Lý Tiến thấy lực lượng của Dương Đình Nghệ ngày một hùng mạnh có ý sợ hãi gửi tấu sớ về báo cho vua Hán.

Thời cơ chín mùi, thấy lực lượng đã đủ mạnh, tháng 12 năm Tân Mùi (931) vào mùa đông, Dương Đình Nghệ liền kéo đại quân “bát vạn hùng binh, tam thiên nghĩa sĩ” từ Thanh Hóa ra vây đánh Lý Tiến chiếm thành Đại La, thủ phủ của quân Nam Hán. Mũi tiến quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy, một mũi khác do Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) nắm đã kịp thời phối hợp với lực lượng của Đinh Công Trứ vây đánh quyết liệt Đại La. Thứ sử Lý Tiến vội cấp báo về Quảng Châu cầu cứu, chúa Nam Hán sai Thừa Chí Trần Bảo đem quân cứu viện. Viện binh địch chưa sang đến nơi, thành Đại La đã rơi vào tay Dương Đình Nghệ. Tướng giặc là Lý Khắc Chính bị giết, Thứ sử Lý Tiến vội vàng phá vòng vây đem tàn quân tháo chạy về nước.

Dương Đình Nghệ xoá bỏ chính quyền đô hộ do nhà Nam Hán vừa dựng lên, tổ chức chính quyển mới, tự xưng là Tiết Độ Sứ đóng ở Đại La Ngô Quyền được giao quản giữ châu Ái.Trong những năm cái quản Châu Ái ông đã tập hợp lực lượng rèn luyện quân sĩ thành một lực lượng hùng hậu.

Sau 6 năm cầm-quyền ở Đại La (931 – 937), vào cuối mùa xuân năm Đinh Dậu (937), Dương Đình Nghệ bị viên nha tướng là Kiều Công Tiễn sất hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Hành dộng phản chủ của Kiều Công Tiễn dã đưa đất nước vào tình thế chao đảo, tạo tiền đề cho quân Nam Hán tiến hành xâm lược nước ta lẩn thứ hai.

Sau sự biến Đại La, ở châu Ái, Ngô Quyền chuẩn bị lực lượng tiến quân ra trừng trị kẻ phản bội. Từ một kẻ phản chủ, Kiều Công Tiễn trở thành một kẻ phản quốc.

 

Công Tiễn sai người sang cầu cứu quân Nam Hán. Chúa Nam Hán là Lưu Cung phong cho con trai là Hoằng Thao làm Giao vương chỉ huy dại quân tiến theo đường thuỷ, men theo ven biển Quảng Ninh ngày nay tiến vào vùng cửa sông Bạch Đằng. Lưu Cung cũng thân đem đại quân ra đóng ở Trấn Hải Môn để làm hậu thuẫn, sẵn sàng tiếp ứng. Tại thành Đại La, Kiều Công Tiễn đã chuẩn bị đón rước quân Nam Hán.

Để phá thế “nội công, ngoại kích”, Tháng 9 năm Mậu Tuất Ngô Quyển giao cho Dương Tam Kha và Ngô xương Ngập tiến quân ra Đại La diệt Kiều Công Tiễn và chuẩn bị chiến trường đợi giặc trước khi chúng tiến vào. Mọi kế hoạch vạch ra đều được thực hiện chu đáo. Ngô Quyền kéo quân từ Châu Ái ra đóng quân ở vùng Hải Phòng, chiêu mộ thêm binh lính lập đại bản doanh ở vùng Lương Xâm bố trí thành lũy luyện tập binh sỹ lập thủy trận, chờ ngày giết giặc.

Dương Tam Kha diệt Kiều Công Tiễn xong cũng cùng Ngô Xương Ngập quay xuống vùng sông Cấm hội quân.

Ngô Quyền đã chọn kế sách đóng cọc nhọn dưới lòng sông Bạch Đằng để lập trận điạ mai phục (theo thần tích xã Lương Xâm, Hải An, Hải Phòng là do Ngô Xương Ngập hiến kế). Dương Tam Kha chỉ huy việc đóng cọc trên sông, sai các tướng là Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi chặt 3.000 cây gỗ lim, sến, đầu được vạt nhọn và bịt sắt đường kính 20-40 phân dài 4m đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm (hơn 1,5km). Hàng cọc được cắm xuống lòng song thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn.

Theo kế hoạch tác chiến, Dương Tam Kha chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn, mai phục sẵn, phối hợp thủy quân đánh tạt sườn đội hình quân địch. Từ cửa biển ngược lên phía trên không xa, một đạo thủy quân mạnh phục sẵn do chính Ngô Quyền chỉ huy chặn ngay đường tiến lên của địch, chờ khi nước xuống sẽ phản công.

Trận địa bố trí xong thì binh thuyền Nam Hán kéo đến. Quân ta đợi lúc nước triều cường, đem đội khinh thuyền ra cửa sông khiêu chiến rồi giả thua chạy. Hoằng Tháo quả nhiên mắc mưu, thúc quân chèo thuyền, lũ lượt tiến qua bãi cọc đi sâu vào trong sông. Khi nước xuống, Ngô Quyền đem đại quân phản công đánh quyết liệt. Dương Tam Kha cho quân bản bộ dùng mũi tên dài ở hai bờ bắn xả vào quân giặc, rừng cọc gỗ lim nhô đầu nhọn lên mặt nước. Thuyền Nam Hán bị trúng cọc bọc sắt, đua nhau chìm, lật. Ngô Quyền và Dương Tam Kha truy đuổi giặc ráo riết. Tướng giặc là Lưu

Hoằng Tháo bị Dương Tam Kha chém tại trận. Quân Hán đại bại.

Một lần nữa dã tâm xâm lược nước ta của quân Nam Hán bị đập tan. Chiến thắng vĩ đại trên sông Bạch Đằng cuối năm 938, sau này “được sử gia Ngô Thì Sĩ dành cho nhũng lời ca ngợi rất xác đáng: “…chiến tháng Bạch Đằng là cơ sở của việc phục hồi quốc thống, về sau, đến đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn  nhờ vào dư ậm lẫm liệt của trận ấy. Võ công lớn ấy cỏn vĩ đại đến nghìn năm, chứ có phải chỉ rạng rỡ một thời mà thôi đâu…”. Chiến thắng ấy chính thức đặt dấu chấm hết cho hơn mười thế kỷ đô hộ của phương Bắc và dưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài.

Mùa xuân năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền xưng vương để “chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại được”, đóng kinh đô ở cổ Loa là kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương, “để nối lại quốc thống”, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, kế tục sự nghiệp của họ Khúc, họ Dương, bắt tay vào xây dựng đất nước. Năm Giáp Thìn (944) ông lâm bệnh rồi mất, Làm vua được 6 năm hưởng thọ 47 tuổi.

Sự nghiệp vĩ đại về võ công, văn trị của Ngô Quyền được tổng kết ngắn gọn, súc tích và đẩy đủ qua lời bình luận đắt giá của sử gia Ngô Sĩ Liên: “Tiền Nạô vương nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” và sử gia họ Ngô còn đánh giá ‘Vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng dầu các vua”. Sự nghiệp vĩ đại ấy mãi mãi rạng ngời trong trang sử vàng của dân tộc Việt Nam.

Dương Anh Dũng Phó trưởng ban thường trực BQLDTLS Đình Dư Hàng

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có bỏ lỡ gì không?