Truyền thống phường Dư Hàng Kênh-TG Dương Anh Dũng

Trên mảnh đất trang Kênh Dương xưa, tổ tiên ta đã chắt chiu xây dựng lên những công trình đồ sộ như chùa Dư Hàng (Phúc Lâm tự), đình Hàng Kênh (Nhân

* Theo Lch sử Đảng bộ phường Dư Hàng Kênh trang 10-12.

Thọ đình), đình Dư Hàng, chùa Hàng Kênh, chùa Phổ Chiếu (dân làng thường gọi là chùa Hàng, chùa Kênh, đình Hàng, đình Kênh và chùa Chiếu)… Trong đó, tọa lạc ở phường Dư Hàng Kênh là chùa Dư Hàng, đình Dư Hàng đều được công nhận là di tích lịch sử kiến trúc văn hóa nghệ thuật cấp quốc gia. Bên cạnh đó còn 1 di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia là nhà bà Đặng Thị Sáu ở xóm 7 Hàng Kênh – cơ sở nuôi giấu lãnh tụ cách mạng Nguyễn Công Hòa, Bí thư Thành ủy của Hải Phòng năm 1937 và Nguyễn Văn Linh, sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Phường Dư Hàng Kênh còn có 3 di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố là từ đường họ Dương và chùa Phổ Chiếu, chùa Kênh. Chùa Phổ Chiếu xây dựng năm 1953, trong kháng chiến chống Mỹ, thành phố lấy làm hầm chỉ huy phòng không. Trong chùa còn có nhà bà Phạm Thị Sầu, năm 1928 – 1929 có 2 con là Hoàng Sĩ Lễ, Hoàng Sĩ Yết là xứ ủy Bắc Kỳ phụ trách tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Cùng với các công trình văn hóa đó, ông cha ta còn xây dựng trong mỗi thôn một quán bằng gỗ lim, lợp ngói, sàn gỗ, mỗi quán có 1-2 cái bia bằng đá, khắc tên những người có công góp tiền của xây dựng quán (dân làng thường gọi là quán đá). Những quán đá dùng cho dân làng nghỉ ngơi khi đi làm đồng. Đến ngày nay, còn thấy dấu vết của những quán đá xưa như: Quán Đông (ở phường Đông Hải), Quán Tây (quán Nải), Quán Nam (Khu thảm len Hàng Kênh), Quán Bắc (ở ngõ Văn Minh), Quán Trung (chợ Hàng cũ), với những câu chuyện đời cảm động. Tên Quán Nải có xuất xứ là những người hành khất từ ngoại tỉnh đến và trong thành phố ra, cuối ngày tập trung ở Quán Tây cư ngụ. Người có chữ gọi là quán “nại” (chữ Nho chỉ người hành khất). Dân gian gọi những người hành khất luôn đeo “tay nải” là quán của những người đeo tay nải nên gọi mãi quen thành Quán Nải.

Trên mảnh đất địa linh nhân kiệt, thời nào cũng có anh hùng tiến sĩ, học rộng tài cao, phù nhà vua giúp nước như: Đời Trần có cụ Vũ Chí Thắng – quan võ thủy tổ họ Vũ Vạn. Đời Mạc có cụ Đặng Đức Thi đỗ đồng tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1589). Thời Lê có Nguyễn Khắc Kỷ đỗ phó bảng dạy học ở Quốc Tử Giám và Phạm Hữu Từ, Phạm Hữu Đạo đời Vĩnh Thịnh, cả hai cha con cùng thi một khoa đỗ Tiến sĩ được làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Ngô Kim Húc thi đỗ tiến sĩ giữ chức Hồng Lô tự khanh điện tiền đô ngự sử triều Trần. Ngô Kim Thùy đỗ hương cống năm Mậu Tuất làm quan liệt triều đại phủ An Dương. Họ Dương có Dương Văn Sách làm huyện quan huyện Tứ Kỳ.

Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp có Anh hùng quân đội Liệt sỹ Đặng Kim Nở; tham gia cách mạng đầu tiên có Hoàng Sĩ Lễ, Hoàng Sĩ Yết là xứ ủy Bắc Kỳ; Ngô Kim Tài bí thư chi bộ đầu tiên; Nguyễn Thế Bôn – Trung tướng Tổng tham mưu bộ quốc phòng; Mai Thuận – Trung tướng tư lệnh quân khu và nhiều sĩ quan cao cấp khác. Cả xã có trên 200 người là anh hùng liệt sĩ đã hy sinh quên mình vì Tổ quốc, làm rạng danh cho quê hương, được lưu danh tôn thờ tại đình làng. Thời chống Mỹ có anh hùng quân đội Đoàn Đức Thái, Phó chỉ huy đô đốc thủy quân Phạm Quang Nho. Trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa có Dương Anh Điền – Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng.

Với truyền thống anh hùng đó, năm 2011, cán bộ nhân dân phường Dư Hàng Kênh đã được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý là Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Pháp.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *