TỪ VŨ VÀ BẢN THỔ PHÚC THẦN VŨ CHÍ THẮNG-Tác giả Dương Anh Dũng

Phần I- Lời nói đầu

Ngày 10-10 -2020 UBND phường Hàng Kênh và Ban Quản lý di tích Từ vũ đã làm lễ khánh thành việc tu tạo Khuôn viên và cổng Từ Vũ. Người dân làng Hàng Kênh cũ và thập phương rất vui mừng về ngôi Từ thờ Bản thổ  Phúc Thần đã được hoàn chỉnh khang trang.

Năm 2019 thành phố Hải Phòng khai quật bãi cọc cổ Cao Quỳ Thủy Nguyên đã khẳng định vai trò của cụ Vũ Chí Thắng giúp nhà Trần đánh quân Nguyên Mông trong trận chiến Bạch Đằng năm 1288. Công tích của bản thổ Phúc Thần một lần nữa sống lại trong lòng người dân đất Cảng khơi dậy lòng tự hào cho người làng Hàng Kênh xưa nói chung và người  họ Vũ nói riêng.

Sau lễ khánh thành, là người gốc làng cổ Hàng Kênh, tôi thấy còn nhiều việc phải chuẩn chỉnh lại ngay tại nội tự và ngoại vi ngôi Từ để hiểu đúng, tìm lại tên đúng và bài trí chuẩn mực cho ngôi Từ nhằm tiến tới lập hồ sơ xin cấp bằng công nhận di tích lịch sử cho ngôi Từ Vũ cổ linh thiêng của Hàng Kênh xưa và nay.

Bằng những tư liệu lưu trữ tại Viện Hán nôm; lưu truyền trong sử sách; được chép trong cuốn “Thanh bì giản bạ” một dạng “gia phả” của làng Hàng Kênh xưa,  cùng những ghi chép khảo sát trực tiếp tại ngôi Từ; tham khảo thêm các bài viết của nhóm Vũ Hiệp thuộc hội đồng họ Vũ Võ; của ban Quản lý Từ Vũ các thời, Ban quản lí Đình Đông, tôi sưu tầm, suy nghĩ và viết bài nghiên cứu này. Đây sẽ là tài liệu ban đầu, nhằm cung cấp cho các ban ngành liên quan để nhận biết đúng về ngôi Từ và tiến hành lập hồ sơ trình UBND thành phố cấp bằng di tích lịch sử cho Từ Vũ.

Phần II-Tư liệu về Từ Vũ và  cụ Vũ Chí Thắng.

  • Thần tích (Lập tháng giêng năm Hồng Đức thứ 9-1478, đời vua Lê Thánh Tông).

Thần tích Xã Hàng Kênh – Tổng Đông Khê – Huyện Hải An – Hải Phòng.

Bản phả ghi chép sự tích vị bản thổ phúc thần Vũ Tướng Công.

Ông họ Vũ, tên Thắng, là người xã Hàng Kênh, huyện An Dương, sinh vào thời vua Trần Thái Tông. Là người khôi ngô tuấn tú hơn người, thung dung có chí lớn, tài kiếm văn võ, dũng lực tuyệt vời. Tính ông ham đọc sách, nhất là càng chú tâm vào sách Binh thư. Ông thường du lãm núi sông, xóm làng, đường xá khắp nước, rồi vẽ thành bản đồ chú thích rõ ràng, treo lên tường, mọi người nhìn nhưng chẳng ai biết gì. Quan Quận thú thấy vậy, cho mời ông đến trao chức tước, nhưng ông đều từ chối. Hoặc có người khuyên ông đến, thì ông đều viện cớ nhà còn có mẹ già phải chăm sóc, chưa làm hết đạo làm con thì chưa thể làm tôi được. Bấy giờ là thời vua Thánh Thịnh trị (triều vua Trần Thánh Tông), giặc yên dân sướng, quốc gia vô sự. Ta giả sử gặp may mà được một chức quan, tưởng cũng chẳng ích gì, huống hồ chưa xứng đáng. Chi bằng yên để thỏa chí mình.

Năm Thiệu bảo thứ 4 (1282), đúng lúc nghe tin giặc Nguyên kéo sang xâm lược nước ta. Một hôm, ông nói với các bạn cùng chí hướng rằng: “Lúc này, há chẳng là lúc bọn ta đi diệt thù cứu nước sao?”. Bấy giờ, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đang giữ chức Tiết chế Thống lĩnh chư quân, ban hịch chiêu mộ nhân tài, mưu đồ đánh giặc cứu nước. Ông biết rõ Hưng Đạo – Đại Vương là người tôn hiền đãi sĩ, nên lập tức đến yết kiến ở cửa quân, dâng “Bình Nhung sách”. Đại Vương xem, lấy làm lạ, rất yêu quí ông, đối đãi ông như khách quí. Ngài lại tin dùng lời nói của ông, đặt ông vào hàng tả hữu, mỗi lần ông bàn việc binh, đều được trúng ý. Hưng Đạo Đại Vương bèn tâu xin nhà vua ban chức cao cho ông, sung chức Chỉ huy sứ. Ông vâng mệnh lĩnh quân (Năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284), 5 vạn binh mã giặc Nguyên kéo sang xâm lược bờ cõi nước ta. Nhà vua phải tạm lánh ra Hải Đông), ông chỉ huy quân sĩ hết sức nghiêm minh, dụng binh đúng phép, đóng quân đồn thú ở cửa biển Hải Đông và những nơi điểm yếu, để ngăn chặn quân giặc. Năm Trùng Hưng nguyên niên (1285). Quân Nguyên tiến chiếm Kinh thành, nhà vua phải chạy vào Thanh Hóa, xuống chiếu ban sắc cho Hưng Đạo Đại Vương hội các tướng tá bàn cách chống giặc. Ông nói: “thần có nghe rằng: Tướng ở ngoài biên ải, thì lệnh vua có thể không nghe theo. Mà nên xem xét thời thế , phá giặc cứu nước, một lòng trung trinh chuyên nhất là được. Quân địch từ xa tới, phạm vào kinh khuyết, tất ỷ vào viện binh, mà đường sống chúng ta lại có nhiều dòng lạch, không như Hải Đông. Nếu địch phòng thủ sơ sài, lưỡng đầu thụ địch, thế tất bị thua. Nay hai vua đang ở Hành cung (Thanh Hóa), Kinh sư phòng thủ chặt chẽ, quân giặc kia khó mà chống cự nổi, tất cả phải lui. Nay theo mưu kế của tôi, cắt đứt viện binh, tuyệt đường lương thảo, thì nhuệ khí của chúng sẽ bị đập tan ngay từ đầu. Quân ta thừa thắng tiến lên, bốn phía bao vây tấn công thì sẽ giành được thắng lợi vậy! Xin Đại Vương xem xét kỹ càng để chống giặc”. Đại Vương nghe xong rất mừng, cho là đã tìm được người tài. Phàm là những đồn lũy ở phía đông đều ủy thác cho ông, ông trù tính phương lược kế sách nghe theo mưu kế của ông. Tháng 5 năm đó, viện binh của giặc Nguyên quả nhiên kéo đến, binh thuyền ùn ùn tiến vào cửa bể Xích, rồi chia đường cùng tiến. Thuyền giặc vừa đến hạ lưu sông Bạch Đằng không ngờ ông dùng kế của Ngô Quyền ngày xưa bắt giặc Nam Hán, tự mình đốc quân hai mũi giáp công. Quân Nguyên thua to, một mảnh thuyền không thoát. Hưng Đạo Đại Vương sau khi dẹp yên giặc Nguyên mới nói rằng: “Trận đánh lớn ở sông Bạch Đằng lần này và trận đánh ở Vạn Kiếp là có nhiều công lao đóng góp của ông. Ông trong thì bày mưu nơi màn trướng, ngoài thì chém tướng giặc cướp cờ, tiên phong dẫn đầu quân sĩ. Trận thắng nào ông cũng đều nhường công cho tướng sĩ, nên ai ai cũng tin yêu, không lời oán thán.

Tháng ấy, Hưng Đạo Vương sai ông đến nơi Hành tại (nơi vua ở) dâng nộp tù binh, vấn an bái mệnh. Đúng lúc nhà vua ngự giá thân chinh, sai ông hộ giá làm Tiền khu. Nhà vua khen ngợi và cho phép đi theo, kiêm chỉ huy cấm binh 500 người. Ông bèn chọn mấy chục người thân tín cải trang ăn mặc như quân Nguyên, đêm khuya trà trộn vào nội bộ giặc, dùng kế nội công, thì lúc quân giặc ngủ say bèn làm ám hiệu, ông cùng các tướng hiệp đồng giáp công, liên tiếp giành được thắng lợi (trong trận đánh này đã chém được đầu Toa Đô ở Tây Kết). Sau đó, Thoát Hoan tìm đường chạy trốn về nước, Kinh thành được giải vây, ông bái tạ nhà vua xong, lại xin phục mệnh Hưng Đạo Đại Vương. Nhà vua khen thưởng ông rất trọng hậu, ban cho ông nhiều vàng bạc và sai ghi chép tên tuổi ông vào sử sách. Ông bình sinh mưu trí dũng cảm đại để là như vậy đó. Nhờ công lao to lớn, ông được gia phong chức Điện tiền Đô chỉ huy sứ, kiêm chức Chưởng cấm binh, tham dự chính sự triều chính. Sau này về già, ông xin về quê cũ, chiêu tập những người dân lưu tán, chu cấp giúp đỡ những người nghèo khó. Dân xã này càng ấm no, phồn thịnh đông đúc đều nhờ vào công lao của ông vậy.  Sau khi ông mất đi, dân xã tưởng nhớ công ơn ông đã dựng đền thờ ông, hương khói nghi ngút, linh thiêng hiển ứng vô cùng.

Tướng công thọ 72 tuổi. Mất ngày 18 tháng Giêng.

Ngày lành tháng giêng, năm Hồng Đức thứ 9 (1478).

Hà Nội, ngày 10.3.1997

Cơ quan nhận thực:

Bà Nguyễn Hoàng Quý và ông Mai Xuân Hải đều là cán bộ của Viện Hán Nôm.

Người dịch:

Nguyễn Thị Hoàng Quý

Hiệu đính: Mai Xuân Hải

(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

 ( Tháng 12 năm 2019 Thành Phố Hải Phòng khai quật bãi cọc Cao Quỳ đã chứng minh một sự thật theo lưu truyền trong dân gian và ghi nhận trong tư liệu lịch sử Hải Phòng đăng tải  trên sách báo: Cụ Vũ Chí Thắng đã dâng kế sách cho Trần Hưng Đạo lập trận địa cọc thiên la địa võng trên lưu vực sông Bạch Đằng. các cọc đóng thẳng chặn trên các bãi sông khắp vùng, không cho giặc theo sông Giá vào sông Cấm ra biển là đường gần mà lùa thuyền lớn của giặc bơi theo luồng định sẵn, phải vào sông Đá Bạc chui vào bãi cọc nhọn đóng sẵn trên sông Bạch Đằng để quân ta đón đánh. Quả nhiên như kế sách, Quân Nguyên Mông đã bị tiêu diệt hoàn toàn trên bãi cọc sông Bạch Đằng, đất nước sạch bóng quân thù mở đầu cho thái bình thịnh trị của vương triều Trần lừng lẫy trong lịch sử. Chiến công hiển hách này có công đóng góp của cụ Vũ Chí Thắng người dân Hàng Kênh ngày nay, Cụ đang được thờ là Bản thổ Phúc Thần ở Từ Vũ phường Hàng Kênh và Đình Đông phường Đông Hải Hải Phòng).

2-Thần sắc (Đạo sắc chỉ duy nhất có nói đến danh tính phúc thần)

a/ Nguyên bản chữ nho

Sắc chỉ

Hải Phòng tỉnh, An Hải huyện, Hàng Kênh xã, tòng tiền phụng sự Ngô Vương  “Dực bảo trung hưng”.

Linh phù bản thổ phúc thần, tiền đặc tứ “Chỉ huy sứ võ công chi thần”. Tiết kinh ban cấp.

Sắc phong

Chuẩn kỳ phụng sự. Duy Tân nguyên niên , tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân , lễ long đăng trật, đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí Quốc khánh, nhi thân tự điển, Khâm tai!

Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật.

b/ Dịch ra quốc ngữ

Sắc chỉ

Sắc cho vị thần Ngô Vương phù trợ cho dân đã được phong tặng là “Dực bảo trung hưng”, vị bản thổ phúc thần đã được đặc biệt ban tặng là “Chỉ huy sứ Vũ Công chi thần” do xã Hàng Kênh huyện Hải Anh tỉnh Hải Phòng phụng thờ từ trước. Các vị thần từng được ban cấp sắc phong cho phép phụng thờ.

Sắc phong

Nay năm Duy Tân thứ nhất , tấn quang đại lễ, nên ban chiếu báu, tỏ rõ ơn sâu, lễ cao thăng trật. Đặc biệt cho phép địa phương phụng thờ như cũ, để ghi nhớ ngày vui của nước và kính trọng việc thờ tự.

Hãy kính lấy.

Duy Tân năm thứ ba, ngày 11-8  (1910)

(Sắc phong do tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Hoa dịch từ nguyên bản sắc phong )

 

Hiện nay bản gốc sắc chỉ này đang lưu giữ tại Đình Dư Hàng phường Dư Hàng Kênh. Đây là sắc chỉ của vua Duy Tân năm thứ ba một trong 7 đạo sắc của hàng Tổng được luân lưu thờ tại các xã, song do chiến tranh nên làng Dư Hàng được lưu giữ 7 đạo sắc từ năm 1945 mãi đến ngày nay.

Nội dung các bản sắc là:

– Một Sắc phong của Gia Long (1811) phong Ngô Quyền là thành Hoàng của xã Lương Xâm.

– Ba Sắc phong của Tự Đức (1853;1880;1880)

-Một Sắc phong của Thành Thái (1889) đều phong Ngô Quyền là Thành Hoàng chung của Lục tổng. (Như vậy bắt đầu từ 1853 trở đi 17 xã thuộc lục tổng đều thờ Ngô Vương là Thành Hoàng. Cụ Vũ Chí Thắng chuyển về thờ tại Từ Vũ).

– Một Sắc Phong duy nhất của Duy Tân (1910) cho xã Hàng Kênh thờ Ngô Quyền và có nhắc đến Điện tiền chỉ huy sứ (Vũ Chí Thắng). “Linh phù bản thổ phúc thần, tiền đặc tứ Chỉ huy sứ võ công chi thần.”

– Một Sắc phong của Khải Định thứ 9 (1924) sắc cho xã Hàng Kênh tiếp tục thờ ngài Ngô Vương như trước.

Phần III-Lịch sử hình thành – Từ Vũ:

Vùng đất Dư Hàng Kênh xưa kia vốn là gò bãi, đầm lầy ven sông Lạch Tray, năm 938 Đức Vương Ngô Quyền chọn làm một trong những nơi đóng quân, đánh trận Bạch Đằng diệt quân Nam Hán. Đến thế kỷ thứ 10, đất đủ độ cứng, cư dân về hội tụ thành làng xóm. Năm 1215-1248 hình thành Trang ấp gọi tên là Trang Kênh Dương thuộc huyện Nghi Dương tỉnh Đông. Năm 1427 đổi tên là làng Hàng Kênh (ngày nay là Phường Dư Hàng Kênh cùng 9 phường khác của quận Lê Chân và 2 phường của Quận Ngô Quyền, Hải Phòng).

Đời nhà Mạc, năm Quang bảo thứ tư (Đinh Tỵ 1557), Nhà Vua cho sửa lại địa bạ cả nước, dân thôn Đoài đòi tách ra thành làng mới. Năm 1564 làng Hàng Kênh được chia tách thành hai làng. Thôn Bắc, thôn Đông, thôn Trung giữ nguyên tên cũ làng Hàng Kênh, một phần thôn Nam và thôn Đoài thành làng mới lấy tên là làng Dư Hàng. (theo Thanh bì giản bạ trang 26 ).

Sinh thời, cụ Vũ Chí Thắng người làng, học rộng tài cao giúp nhà Trần đánh giặc Nguyên – Mông , được phong chức Điện tiền Đô Chỉ Huy Sứ, kiêm chức chưởng cấm binh, được tham dự Triều chính. Sau này về già cụ xin hồi hương, chiêu tập dân lưu tán, chu cấp giúp đỡ người nghèo khó xây dựng Trang Kênh Dương, cụ mất ngày 18 tháng giêng năm 1325, dân làng tôn là Bản Thổ Phúc Thần, năm 1330 làng lập đền thờ cụ ở thôn Đoài (Miếu Hai Xã hiện nay).

Cụ Vũ Chí Thắng còn có tên là Vũ Vạn Thắng là thủy tổ họ Vũ Hữu (xưa kia là Vũ Vạn) ở thôn Đoài thuộc địa phận sau này là Dư Hàng. Lăng mộ cụ tổ và nhà thờ họ Vũ ở Quán Nải – Dư Hàng.

Thời Lê sơ (1427-1527) Trước khi chia tách thành hai làng năm 1564 , làng Hàng Kênh làm đình Nhân Thọ bằng tranh tre lợp cỏ gianh tại Đồng Hậu – Thôn Bắc thực hiện chức năng tín ngưỡng, hành chính, văn hóa ở địa phương đồng thời thờ cụ Vũ Chí Thắng là bản thổ phúc Thần.

Trong các tổ chức chính trị, xã hội của làng Việt cổ có hai tổ chức mà chính quyền cũng như dân làng đều kính nể, tin tưởng vì uy tín, vai trò, địa vị của nó, đó là Hội Tư văn và Hội Tư vũ.

Hội Tư văn thờ tiên thánh, tiên hiền gồm những nhà khoa mục hưu trí, những người đậu đạt trong các kỳ thi Nho học không ra làm quan, chí ít cũng là người học hành có trình độ nhất định (những làng ít văn học). Tùy hoàn cảnh làng, Hội Tư văn có văn chỉ hay Văn từ để thờ . Hội Tư vũ có Vũ từ để thờ lương tướng. (Theo Ngô Đăng Lợi, trang 14 sách “Từ Vũ Đình thờ Thành Hoàng Vũ Chí Thắng (!)”.

Năm 1564 chia tách làng, làng Hàng Kênh, được lấy đình Nhân Thọ, Tượng thần (Tượng cụ Vũ Chí Thắng), làng Dư Hàng lấy chùa Phúc Lâm và cỗ kiệu Bát Cống. Miếu không chia được, thờ chung gọi là miếu Hai Xã.

Năm 1569, thời Lê Trung Hưng, do không có Đình, làng Dư Hàng đã xây đình Dư Hàng bố cục hình chữ “Đinh” để cùng thờ cụ Vũ Chí Thắng. Làng Dư Hàng làm thêm tượng mới cho cụ Vũ Chí Thằng cùng thờ ở Miếu song được đặt thấp hơn tượng cũ của làng Hàng Kênh, khi rước ra hai Đình tế lễ thì phải đi sau, như vậy, một miếu thờ hai tượng cùng của cụ Thắng (Theo Thanh bì giản bạ trang 28 ). Làng Hàng Kênh không có chùa, xây Chùa Kênh cùng thời gian xây Đình Hàng  năm 1569 (theo văn bia tại chùa Kênh).

–  Năm 1698 , làng Hàng Kênh xây dựng Tư văn lần đầu ở thôn Trung để thờ  các vị Tiên Hiền, Tiên Thánh và lưu giữ các văn bia. Theo bia số 1 lập năm 1700 “Sáng lập Từ Vũ bi ký”, nội dung ghi công đức “Người Đời Trước” góp công sức, của cải, xây ngôi Từ vũ. Theo văn bia số 2 Lập năm 1700: “Lịch Tự Tiên Chính Bi Ký”  ghi tên các vị được thờ là Tiên Hiền từ đời Quang Thuận 7 (1466) đến đời Chính Hoà 21(1700). Người đầu tiên được thờ là cụ  Nguyễn Truân, Xã Lực Hành đỗ đồng Tiến Sĩ khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1446), mở đầu cho cả huyện An Dương xưa. Hàng năm dân làng đều tổ chức lễ tế tại Văn từ  Hàng Kênh.

       – Năm 1796 trùng tu Tư văn lần thứ nhất. (Theo bia số 5 lập năm 1796 “Trùng tu Từ Vũ bi ký”)

– Năm 1845 trùng tu Tư văn lần thứ hai, cải tạo lại theo quy mô mới chuyển ba gian thành năm gian hai trái và đổi tên thành Từ Vũ. Theo văn bia số 7 lập năm 1845 nhân tân tạo Từ Vũ gọi là Đình Vũ (宇亭). Đây chỉ là ngôi Đình nhỏ của thôn Bắc- bản chất vẫn chỉ là ngôi Văn từ của làng Hàng Kênh.

Tổng diện tích Từ Vũ là 1800m2, ngoài ra còn 480 m2 là ruộng hương hỏa để cúng bái tuần tiết (theo ban QLDT Từ Vũ).

– Năm 1853 Vua Tự Đức sắc phong Ngô Vương Quyền là Thành Hoàng làng của 17 xã thuộc lục Tổng trong đó có Hàng Kênh và Dư Hàng. Có sẵn ngôi Từ Vũ ()  mới cải tạo to đẹp khang trang, sau năm 1853 dân làng đã chuyển bài vị cụ Vũ Chí Thắng từ đình Nhân Thọ và tượng cụ ở Miếu (là pho tượng cổ của làng hàng Kênh được chia từ năm 1564) về thờ. Cùng với Đình Đông (Đình của thôn Đông) đang thờ cụ từ năm 1843, cụ được thờ ở hai nơi.

Từ đấy, miếu Hai Xã và hai Đình thuộc hai làng đều thờ Ngô Vương Quyền. Tượng Ngô Quyền được tạc hai pho mới đặt tại miếu để thờ như tượng cụ Vũ Chí Thắng khi xưa.

– Năm 1894 trùng tu Từ Vũ nguyên bản như khi nâng cấp vào năm 1845. (theo văn bia số 8 trùng tu dọi mái)

– Tròn 100 năm sau đợt trùng tu cuối cùng, tháng 7 nặm 1994 ông Đặng Đình Lượng làm trưởng ban tu tạo và bà Nguyễn Thị Nguyệt tổ chức quyên góp tu tạo lại Từ Vũ hết  273 triệu. (Hội Đồng Vũ võ chi 1/3 kinh phí). Thành lập BQL, ông Đặng Đình Lái làm trưởng ban, ông Vũ Lã Thỉ là phó ban, ông Đoàn Như  Kiến là phó ban.

– Năm 2005-2007 dân làng tổ chức sửa chữa lớn ngôi Từ có diện mạo như ngày nay. (Theo thông báo của BQLTừ Vũ 3-2011)

Như vậy nơi gọi là Từ Vũ, không có nghĩa là nhà thờ của họ Vũ, mà chỉ là một ngôi Từ, Miếu thờ Bản thổ phúc Thần. Từ (祠) là nơi thờ các Tiên Hiền, Tiên Thánh. Còn Vũ (宇) là tòa nhà lớn như vũ trụ thu nhỏ. Từ Vũ (宇) tức là  nhà thờ trông uy nghi, bề thế.

Ngôi Từ Vũ thờ cụ Vũ Chí Thắng là cụ tổ của họ Vũ  Hàng Kênh, vì vậy  khi khôi phục Từ Vũ, hàng năm họ Vũ vẫn chăm lo hương khói và cúng lễ. Những năm gần đây họ Vũ muốn nhận ngôi từ làm nhà thờ của họ Vũ. Ông thủ từ Đặng Đình Lái không đồng ý, vì đây là ngôi Từ của làng xây dựng và quản lý. Họ Vũ đã tạc tượng cụ Vũ Chí Thắng theo nguyên mẫu đang thờ và đưa đến Từ Vũ “Hô Thần nhập Tượng” rồi xin chân nhang rước về thờ tại nhà thờ của dòng họ Vũ ở Quán Nải. Từ đó họ Vũ Dư Hàng Kênh không tham gia hương khói cho cụ tại Từ Vũ nữa.

Hiện nay, năm 2020 Từ Vũ do UBND Phường Hàng Kênh trực tiếp quản lý, cử ông Hà Xuân Khuê làm thủ từ kiêm phó trưởng ban thường trực.

Sau khi hoàn chính khuôn viên di tích Từ Vũ mà ngày nay vẫn đề tên gọi là Đình Từ Vũ như cách ông Đặng Đình Lái tự nhận từ năm 1994 để sánh ngang với đình Hàng Kênh, đình Dư Hàng là chưa chuẩn.

Phần IV- Khảo sát hiện trạng Từ Vũ ( có tham khảo tư liệu của BQL Từ Vũ và tác giả trực tiếp khảo sát)

1-Về kiến trúc ngôi Từ

Theo tài liệu của Ban Quản lý Từ Vũ : Ngôi từ được xây dựng theo kiểu dáng mang hình chữ “Nhị”. Hậu cung ba gian, cửa bức bàn, có bậc cửa, ngưỡng cửa. Đại bái có năm gian chính và hai gian phụ hai đầu (5 gian, 2 trái).

Ngôi Từ kết cấu theo lối kiến trúc cổ, mang phong cách điển hình của kiến trúc thời Nguyễn. Toàn bộ phần chịu lực của công trình là hệ thống gỗ lim, cột kê đá tảng, đặc biệt 4 cột gian giữa kê đá tảng cao 0,6m, các dầm dọc ngang, thành kèo bằng gỗ lim, được ghép nối với nhau bằng các mộng chính xác đến mức kỳ lạ, trên tấm kèo xà được chạm trổ từng mảng long, ly, quy, phượng và hoa sen. Cột gỗ lim đường kính 0,4 m.

Trên mái lợp ngói hài, ngói âm dương đương đại, đặc biệt là trên hai đầu trụ mái lắp đặt hai con nghê cổ kính. Nền đình Từ Vũ được lát gạch vuông kiểu Bát Tràng, mặt gạch có men bóng. Hệ thống cửa ba gian giữa đại bái, cửa bằng gỗ lim, mỗi gian 4 cánh, trên chắn song, dưới chân quay bịt kín. (thượng song hạ bản).

Trước thềm là 5 phiến đá rộng 0,5 m, dầy 0,2 m được lát thành bậc.

Giữa hậu cung và đại bái có khoảng trống 1 thước. ý người xưa: ngước mắt nhìn lên trời xanh bao la, sâu thẳm, nhắc nhở dân làng duy trì nền nếp, giữ gìn gốc nhân nền nghĩa. (nay đã được che kín phòng nước mưa). Nội thất thờ tự trong hậu cung là một pho tượng chân dung Ngài Vũ Chí Thắng ngồi uy nghi, nét mặt hiền từ, cương nghị. Theo các cụ truyền lại, pho tượng này được tạc khi Ngài mới qua đời. Từ Vũ còn có bộ kiệu bát cống triều Lê cùng với long đình bát biểu, bàn tán chấp kích…

Khuôn viên khi xưa còn có 3 gian nhà phụ lợp ngói cổ để Thủ từ ở trông coi hương khói hằng ngày (Thủ từ phải là các vị đã kinh qua cấc chức sắc mới được chọn).

Năm 1940, khuôn viên đình Từ Vũ đã bị thay đổi. Quân Nhật đổ bộ vào Hải Phòng, bỏ bom ở Cầu Đất. Nhà cửa đổ nát, vôi thầu, gạch vỡ từ nhà đổ nát  được chuyển lấp làm đường (đường Hồ Sen bây giờ). Ruộng ao trước Từ bị san lấp, chỉ còn cầu đá nối ngôi Từ để đi ra đường  Hồ Sen .

Từ năm 1946, quân Pháp đánh phá Hải Phòng lần thứ hai. Hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến, quân dân tản cư, vườn không nhà trống, cả làng xóm đi hết, còn lại một số người trên phố xuống phá phách, tháo dỡ… Từ Vũ tan hoang, chỉ còn lại pho tượng của Ngài và cỗ kiệu. (tượng Ngài được gìn giữ kính cẩn tôn nghiêm trong hậu cung).

Năm 1953 đến 1954, trong thời gian tiếp quản, dân hồi cư về lấn chiếm diện tích khuôn viên xung quanh của Từ Vũ làm nhà ở. Ngôi Từ được làm lớp dạy học thêm của trường Nguyễn Quốc Ân gần đấy. (tác giả cũng học ở đây thời gian này D A D).

Kháng chiến chống Mỹ, do lệnh phòng không, Từ Vũ được dành cho các lớp học sinh phổ thông sơ tán. Chiến tranh ngày càng ác liệt, học sinh phải sơ tán ra ngoại thành, dành chỗ cho cơ sở Sản xuất Mây tre đan xuất khẩu. Sau khi cơ sở này chuyển đi, ủy ban nhân dân thành phố lại cho Đoàn Múa rối Hải Phòng đến làm trụ sở cơ quan, nơi tập luyện và ăn ở. Chiến tranh kết thúc, Ban Tôn giáo Chính phủ đã có văn bản 379 /TGCP yêu cầu các cơ quan, xí nghiệp mượn Đình Chùa của dân phải trả lại cho dân khôi phục và thờ cúng. Năm 1990 sau khi đoàn múa rối đi lưu diễn ở Liên Xô và Mỹ thành công, năm 1992 thành phố đã cho đoàn Múa rối chuyễn về rạp Sông Cấm ở phố Lê Lợi. Đoàn di chuyển đi nhưng vẫn còn sử dụng gian đại bái là nhà tập thể và để lại 5 gia đình chiếm dụng khuôn viên trong sân Từ Vũ làm nơi ở. Năm 1994 trùng tu lại Từ Vũ, năm 1996 ông Đặng Vũ Lái trồng mới cây đa và cây sanh ở sân Từ Vũ để chống lấn chiếm. Năm 2005-2007 dân trong Phường Dư Hàng và hội đồng họ Vũ Võ  đã trùng tu, khôi phục lại ngôi Từ Vũ như xưa.

Ngày 13-8-2020 sau khi đường Hồ Sen giải tỏa theo quy hoạch, chính quyền địa phương có sự tham gia của Hội đồng họ Vũ Võ đã khởi công giải tỏa 5 hộ dân, xây dựng lại cổng, hoàn chỉnh khuôn viên Từ Vũ, bỏ cây sanh chỉ giữ lại cây đa. Công trình được hoàn thành ngày 10-10-2020.

Tống diện tích hiện nay Từ Vũ còn là 641 m2.

  • Về di sản còn lại của ngôi Từ:

– Trong kháng chiến chống Pháp Gian hậu cung ngôi từ có ngai thờ Ngài “Bản phổ Phúc Thần Vũ Tướng Công” (武 將公本 土 福 神)được đóng kín cửa và  được bảo vệ nghiêm ngặt. Trong nhiều năm không người hương khói.Từ khi dân làng cử cụ Đặng Vũ Lái trông nom, ngôi Từ mới được tu bổ dần. Tượng Thánh gãy tay được đoàn rối khôi phục và tu sửa, Từ đấy việc hương khói được chăm lo như lệ cổ.

– Trong ngôi Từ, các bức Hoành Phi, câu đối cổ hầu như đã mất ở thời kỳ trước năm 1996, chỉ còn một đôi câu đối cổ hai bên khám thờ và ban thờ công đồng cùng với cỗ kiệu là di sản từ cổ xưa.

Hiện nay nhiều bức hoành phi, đại tự và câu đối được làm mới, nội dung chung chung nhiều câu không phù hợp hoặc không gắn bó gì với Thần chủ của ngôi Từ, có câu không chuẩn chỉnh và sai niêm luật, có đôi treo ngược vế, treo sai vị trí.

  • Bài trí hiện nay của ngôi từ

Gian Hậu cung : Chính giữa là khám thờ trong đó có Thần Tượng của ngài  Vũ Trí Thắng. Đỉnh khám có chữ “Đức Lưu Quang”. Ban phải  thờ các quan – Ban trái  thờ Thân phụ thân mẫu của ngài. Ngoài cửa cung cấm trên cao ở giữa có cuốn thư “Đức lưu quang”. Hai bên là hai bức đại tự:

Bên phải : “Ẩm Tư Nguyên” (thiếu chữ Thủy hoặc Hà)-bên trái: “Tâm Từ Thiện”

Câu đối số 1:   Hai bên khám là đôi câu đối:

– Ngũ sắc tường vân duyên thánh điện.

– Thiên thu ân vụ phú dân linh.

(Đám mây lành ngũ sắc kết thành điện Thánh và Ơn thần ngàn năm phù trợ cho  sinh linh dân chúng)

Câu đối số  2: Bốn cột ngoài cửa cung cấm có hai đôi câu đối, đôi giữa (treo ngược vế):

– Đức hợp dương âm thượng đẳng thần

– Tài kiêm văn vũ trung hưng tướng

(Tướng thời trung Hưng kiêm văn võ và Thần tối cao hòa hợp được âm dương)

Câu đối số 3: Đôi ngoài (treo ngược vế):

– Việt điện chung linh vạn cổ thần

– Lịch triều dực vận Thiên niên sử.

(Thần nước Việt linh thiêng muôn đới và Vân tốt của triều đại lưu truyền trong sử sach ngàn năm)

Câu đối số 4: Bốn cột ngoài hiên cung cấm có hai đôi câu đối, đôi giữa (treo sai vị trí ):

– Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo

– Cửu tiêu nhật nguyệt ánh trùng quang

(Trời đất muôn đời thay đổi tốt đệp và Ngôi cao như ánh sáng mặt trời mặt trăng.)

Câu đối số 5: Đôi ngoài (treo sai vị trí ):

– Linh thanh chương nhật nguyệt

– Miếu mạo thọ sơn hà

(Âm thanh linh thiêng rực rỡ ngày đêm và Các nơi thờ tự trường tồn với đất nước.)

Gian đại bái: (Trên mái ban công đồng )

– Giữa là đại tự “Vạn cổ anh Linh”, bên phải là “Tổ củng tôn bồi” bên trái là “Trần triều hiển thánh” (Câu này chỉ đúng với đức Thánh Trần)

– Cuốn thư giữa: treo cao trên ban công đồng: “Quang tiền du hậu” (Ban đầu trong sáng về sau tươi đẹp)

Câu đối số 6: Bốn cột sau ban công đồng có hai đôi câu đối, đôi giữa:

– Đức đại an dân thiên cổ thịnh

– Công cao hộ quốc vạn niên trường.

(Đức độ của Thánh yên lòng dân thịnh vượng ngàn năm và công to lớn giúp nước lưu truyền vạn năm)

Câu đối số 7: Đôi ngoài:

– Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí

– Lục đầu vô thủy bất thu thanh

(Vạn Kiếp có núi toát lên linh khí của gươm đao và Sông lục đầu cạn nước không còn tiếng lưu truyền)

Câu đối số 8: Đôi hai bên ban công đồng:

– Dân tộc chỉ truyền bia mách công ơn khôn xiết kể

– Sử sách liệt còn nguyên anh hùng tuy khuất mảnh gương

(Dân lưu truyền ghi bia công ơn mãi mãi và Sử sách viết anh hùng tuy mất nhưng gương vẫn còn)

Chính giữa gian đại bái là ban thờ công đồng, hai bên có giàn chấp kích. Phía sau là cỗ kiệu cổ.

Phía tường bên phải cỗ kiệu là ban Liệt sĩ, phía tường bên trái cỗ kiệu là ban thờ thần văn bia.

Phía đầu hồi bên phải là ban thờ có tượng Bác Hồ. Phía bên trái là ban thờ một vong linh khuyết danh của một chân linh dân làng, trên ban có tượng nữ nên người dân vào Từ hành lễ đều nhầm tưởng là ban Thánh Mẫu để hương khói và kêu cầu.

        (Theo cụ thủ từ Hà Xuân Khuê mới đây cho biết, trước kia khu thôn Trung này đa phần là người họ Nguyễn Hữu sinh sống. Một người con gái của họ Nguyễn chết tại mé gốc đa Từ Vũ ngay trong ngày ăn hỏi, cho là linh thiêng, người trong họ đặt bát hương thờ ở gốc đa của Từ. Mới đây không hiểu lí do gì, sau năm 2000 ông Đặng Đình Lái trưởng ban và ông Đặng Đình Lượng phó ban quản lý Từ đã đưa vào trong gian đậi bái thờ ở gian chái phía tả ngôi từ. Ban đầu chỉ là bệ xi măng, sau này anh Vinh thợ xây, là con cháu của chân linh đã cung tiến ban thờ to bằng gỗ lập nhang án có đặt tượng người nữ và tự ý ghi bảng giới thiệu là “Nữ thần thổ tại” Phía trên ban thờ là bức đại tự “Phúc Lai Thành”).

Hình ảnh các ban, câu đối và đại tự:

Tượng Bản Thổ Phúc Thần Vũ Chí Thắng

 

 – Các ban thờ

  1. Ban thờ chính

 

  1. Ban Các Quan

 

  1. Ban Phụ Mẫu Ngài

 

  1. Ban Công Đồng

 

  1. Ban thờ Văn Bia

 

 

  1. 6. Ban thờ Liệt sĩ

 

  1. Ban thờ Hồ Chủ tịch
  2. Ban Vong Vô Danh

 

 

 

Đại Tự và Cuốn Thư

 

  1. Quang Tiền Du Hậu
  2. Tổ Củng Tôn Bồi

 

  1. Trần Triều Hiển Thánh

(Đại tự này chỉ dùng cho Trần Hưng Đạo)

  1. Tâm Từ Thiện

 

  1. Ẩm Tư Nguyên

(Thiếu 1 chữ Thủy hoặc Hà)

  1. Đức Quang Lưu

 

 

Cầu đá cổ

 

 

Bãi cọc Cao Quỳ

 

Các câu đối

 

1B. Thiên Thu Ân Vụ Phú

Dân Linh

(Ơn Thần ngàn năm phù trợ cho sinh linh dân chúng)

1A. Ngũ Sắc Tường Vân Duyên Thánh Điện

(Đám mây lành ngũ sắc kết thành điện thánh)

2B. Đức Hợp Dương Âm Thượng Đẳng Thần

(Thần tối cao hòa hợp được âm dương)

2A. Tài Kiêm Văn Vũ Trung Hưng Tướng

(Tướng thời Trung Hưng kiêm Văn võ)

 

3B. Việt Điện Chung Linh Vạn Cổ Thần

(Thần nước Việt linh thiêng muôn đời)

3A. Lịch Triều Dực Vận

Thiên Niên Sử

(Vận tốt của triều đại lưu truyền trong sử sách ngàn năm)

 

 

4B. Cửu Tiêu Nhật Nguyệt Ánh Trùng Quang

(Ngôi cao như ánh sáng mặt trời mặt trăng)

4A. Vạn cổ càn khôn Hưng

Tái Tạo

(Trời đất muôn đời thay đổi tốt đẹp)

 

5B. Miếu Mạo Thọ Sơn Hà

 

(Các nơi thờ tự trường tồn với đất nước)

5A. Linh Thanh Chương

Nhật Nguyệt

(Tiếng linh thiêng rực rỡ ngày đêm)

 

Đôi câu đối này treo sai vị trí

 

7B. Lục Đầu Vô Thủy Bất

Thu Thanh

(Sông Lục Đầu cạn nước không còn tiếng lưu truyền)

7A. Vạn Kiếp Hữu Sơn Giai Kiếm Khí

(Núi Vạn kiếp toát lên linh khí của gươm đao)

 

8B. Sử Sách Liệt Còn Nguyên Anh Hùng Tuy Khuất Mảnh Gương

(Anh Hùng tuy mất nhưng gương vẫn còn trong sử sách)

8A. Dân Tộc Chỉ Truyền Bia Mách Công Ơn Khôn Xiết Kể

(Dân lưu truyền ghi công ơn mãi mãi)

 

Đôi câu đối này bằng chữ Nôm

Đá Tảng Kê Chân Cột

 

Trưởng phòng QL di tích Thành Phố và tác giả dâng hương

 

4- Nội dung các văn bia   (Theo  Vũ Hiệp đoàn khảo sát của họ Vũ – Võ ngày 23/5/2006). Trong Từ có hai nhà bia: nhà Bia bên phải có 2 tấm Bia đá khắc đầy chữ Hán Nôm cũ. Nhà Bia bên trái dựng 3 tấm bia có chữ như thế. Cả 5 tấm bia đá, đều còn lành lặn (gần nguyên vẹn, không sứt mẻ mấy) nét chữ đẹp, trang trí hoa xây Rồng, Phượng, Mây, Hoa Cúc, Mặt trời…nét họa tiết tinh xảo. Đây là những Bia đá ghi công Tiên Hiền (của làng xã ) ở Hải Phòng đẹp nhất địa phương này được lưu lại. Ngôi từ cũng là công trình kiến trúc đền Miếu làng xã tương đối còn nguyên vẹn ở trong Thành Phố Cảng, đến nay chỉ còn duy nhất là ngôi Từ Vũ. Nội dung các văn bia chỉ là nêu tên các vị hậu phối và tiên hiền, không đề cập đến cụ Vũ Chí Thắng. (Khi tác giả khảo sát thì nhà bia bên phải đã thành ban thờ Liệt sĩ và hai tấm bia đá không tìm thấy. Cụ thủ từ Hà Xuân Khuê cũng không biết vì sao hai văn bia đó  không còn, và hiện nay các văn bia đó ở đâu (!)).

Nhóm Vũ Hiệp khai thác được một tư liệu đánh máy vi tính gần đây (khoảng sau  năm 2003) nhan đề: Từ Vũ Hàng Kênh, nội dung giới thiệu sơ qua ngôi “đình Hàng Kênh và dịch thuật năm tấm bia đá, của soạn giả nào đó (không nêu tên). Ngoài ra tác giả còn sưu tầm được thêm nội dung 3 văn bia  số 6, 7, 8 (hiện nay không còn thấy bia đá).

Nội dung các văn bia của Từ Vũ là:

1-Văn bia số 1 (Lập năm 1700): Có tiêu đề là “sáng lập Từ Vũ Bi Ký, bia lập khi xây Văn từ Hàng Kênh (Từ Vũ) năm 1698 –1699 (niên hiệu Chính Hoà thứ 9 và 10 đời vua Lê Hi Tông). nội dung ghi công đức “Người Đời Trước” góp công sức, của cải, xây Đình Nhân Thọ và Từ Vũ  . (Bia thờ hậu phối)

(Bia này trước kia ở Từ Vũ sau chuyển về Xếp thứ III bên trái văn chỉ Hàng Kênh)

2-Văn bia số 2 (Lập năm 1700): Có tiêu đề là “Lịch Tự Tiên Chính Bi Ký” (bia ghi tên các vị được thờ là Tiên Hiền tại Văn Từ làng Hàng Kênh (Từ VŨ), từ đời Quang Thuận 7 (1466) đến đời Chính Hoà 21 (1700). Người đầu tiên được thờ là cụ  Nguyễn Truân, Xã Lực Hành đỗ đồng Tiến Sĩ khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1446), mở đầu cho cả huyện An Dương xưa.(Bia thờ Tiên hiền). (Bia này trước kia ở Từ Vũ nay chuyển về  xếp thứ II bên trái Văn Từ Hàng Kênh)

3-Văn bia số 3 (Lập năm 1731): Có tiêu đề là “Bản Xã Tư Văn Kế Lập Bi Ký” khắc 2 mặt, khổ 1,35m, cao: 0,85m rộng do ông Ngô Hữu Thường soạn ra và ông Nguyễn Sĩ Triều nhuận sắc. Bia này tạo dựng năm Vĩnh Khánh 2 (1731) đời vua Lê Phế Đế, Lê Duy Phường (1729-1732) và Trịnh Giang. . Ghi tiếp tên những người thi đỗ và có học cao, từ năm Chính Hoà 23 (1702) đến năm Cảnh Hưng 44  (1783). Rõ ràng bia dựng trước (mặt trước), rồi 53 năm sau (1783) đã khắc thêm vào danh sách các ông thi đỗ các loại ở mặt sau. Cuối cùng là các người góp tiền dựng bia, cũng được nêu danh tính. (Bia thờ tiên hiền và hậu phối )  (Bia này trước kia ở Từ Vũ sau chuyển về xếp thứ III bên Phải Văn Từ Hàng Kênh)

4-Văn bia số 4  (Lập năm 1764): Có tiêu đề là: “Bản Huyện Văn Thuộc Bi – Các xứ điền viên Ký” (Bia hàng Huyện) dựng năm Cảnh Hưng 25 (1764) cùng năm xây dựng Văn Từ đình Dư Hàng (làm Văn miếu An Dương), bia khắc 2 mặt, khổ 1,1m x 0,71m. Chỉ ghi các người thi đỗ của huyện An Duơng và nêu việc lập Văn Miếu An Dương, ai muốn được thờ cúng ở Văn Miếu này, nếu có thi đỗ và là giám sinh triều trước, phải nộp tiền mới được cúng giỗ cho hàng năm, như lối mua Hậu ở chùa, Đình xưa.

Nội dung văn bia:

– Đương thời từ sinh đồ đến các vị thi đỗ khoa trường và văn trưởng mỗi vị đóng 20 quan.

– Giám sinh và các vị đỗ đạt ở các triều trước, con cháu xin phối thờ phải đóng 10 quan.

– Những hiệu sinh có chứng chỉ muốn truy tiến phối hưởng mỗi người đóng 15 quan.

– Ngoài việc đóng góp tiền, thành viên nào có nguyện vọng kinh tế có thể bán ruộng hoặc vườn cho hội.

– Nhân dây kính thuật tính danh, nơi ở các tiến sĩ, chức sắc trong huyện và các sứ ruộng vườn của hội cụ thể là:

* Các vị đại khoa:

– Nguyễn Truân, xã Lực Hành đỗ đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466).

– Ngô Kim Húc, xã Dư Hàng đỗ đồng tiến sĩ khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478).

– Vũ Phất, xã An Chân đỗ đồng tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487)

– Ngự sử đài, phó đô ngự sử Đỗ Bảo Chân, xã Minh Kha đỗ đồng tiến sĩ khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức 24 (1493)

– Hàn lâm viện Đặng Đức Thi, xã Dư Hàng đỗ đồng tiến sĩ Khoa Kỷ Sửu (1529)

* Các vị đóng góp tiền cổ:

+ Xã Dư Hàng:

– Tri huyện Nguyễn Năng Miên đóng 10 quan

– Giám sinh Phạm Tư đóng 10 quan

– Hiệu sinh Đặng Như Khuê đóng 15 quan

– Xã sử Nguyễn Năng đóng 15 quan

– Nho sinh Nguyễn Năng Tuy đóng 15 quan

– Tri sự Phạm Hữu Tạo.

+ Xã Trung Hành:

– Vũ Bá Côn

+ Xã Gia Viên:

– Đào Tú xã An Biên, Đào Phú xã An Dương, xã trưởng Phạm Quang Minh xã Lạc Viên, Phạm Giáo xã trưởng xã Lạc Viên, Phạm Danh Văn, xã trưởng xã Lạc Viên đều đóng 15 quan.

* Các vị sinh đồ đóng góp 3 quan tiền cổ:

– Huyện thừa Phạm Du, xã Lạc Viên

– Đào Trọng Kính, xã An Dương

– Đào Đức Huy, Đào Triệt, Đào Diễm

– Tri tổng Nguyễn Thời, xã Trực Cát.

* Các vị sinh đỗ đóng 2 quan tiền cổ:

– Tri tổng xã trưởng Đặng Nguyễn Kiêm, xã Hàng Kênh

– Xã trưởng vẫn thuộc câu dương huyện Nguyễn Quý Gia

– Xã chính Nguyễn Khắc Gia và Đặng Kim Giám

– Nho sinh xã Lạc Viên Nguyễn Tất Giai

– Tri sự Lương Năng Khiêm

– Phó sử Nguyễn Công Lý

* Các vị sinh đồ đóng góp 1 quan tiền cổ:

+ Xã Hàng Kênh:

– Tri tổng Đặng Đình Kiên, Phạm Đức Vọng, Vũ Tri Đằng, tri tổng Nguyễn Đặng Trung, Vũ Huy Cường, xã trưởng Nguyễn Đức Chân, xã trưởng Vũ Công Tín.

+ Xã Phụng Pháp:

– Tri tổng Nguyễn Công Quyền

+ Xã Dư Hàng:

– Văn thuộc câu đăng huyện Vũ Đình Trực

– Văn thuộc câu đăng huyện tri tổng, xã chính Dương Nam.

– Vũ Đình Thoan, Phạm Đình Thái, Phạm Thụ, Nguyễn Bá Dung, Nguyễn Xuân Vi, Phạm Trọng Đán.

+ Xã Lạc Viên:

– Phạm Đình Phong, Phạm Trọng Hợi

+ Xã An Khê:

– Bùi Viết phú, Lương Nguyễn Vượng, Nguyễn Công Dụng.

+ Xã An Biên:

– Nguyễn Duy Khoa, Lê Nguyễn Tảo.

* Các vị sinh đồ đóng góp 6 mạch tiền cổ:

+ Xã Phụng Pháp:

– Xã chính Phạm Trọng Vi, tri tổng Phạm Xuân Vực.

+ Xã Đồng Xá:

– Nguyễn Danh Liễu

+ Xã An Khê:

– Tạ công Giai, Nguyễn Giai, Lương Viết Tú, Bàng Đình Giai, Nguyễn Văn Liên.

+ Xã Dư Hàng:

– Nguyễn Khắc Dịch, Nguyễn Vi Tương, Vũ Đinh Thăng, Nguyễn Nhiếp.

+ Xã Hàng Kênh:

– Nguyễn Thể Chí, Nguyễn Đức Thạc.

* Các vị sinh đồ đóng góp 5 mạch tiền cổ:

+ Xã Hàng Kênh:

– Xã chính Nguyễn Danh Trấn.

+ Xã Trực Cát:

– Phạm Khắc Cẩn.

+ Xã Lương Khê:

– Vũ Trọng Xuân, Vũ Thế Hữu

+ Xã An Biên:

– Xã Thế Tê.

* Các vị sinh đồ đóng góp 3 mạch tiền cổ:

+ Xã Dư Hàng:

Ruộng ở xã Dư Hàng gồm 2 mẫu tại xứ kỳ ngoại. Đông, Tây mỗi cạnh dài 30 ngũ, Nam 33 ngũ, Bắc 27 ngũ.

Vườn ở xã Hàng Kênh là 1 sào.

Ruộng 1 mẫu ở xã Gia Viên tại xứ Thượng Đồng. Đông 23 ngũ, Tây dài 29 ngũ, Nam 45 ngũ, Bắc 36 ngũ.

Có 2 mẫu 1 sào 10 thước ruộng ở xứ Đồng Bàng, xã An Dương.

Có 2 mẫu 2 sào ruộng ở xứ Đường Đoàn xã Lạc Viên. Đông, Tây mỗi cạnh dài hơn 32 ngũ, Nam, Bắc mỗi cạnh dài 33 ngũ.

Xã Đông Khê có 5 sào ruộng tại xứ Đồng Trâu. Đông, Tây mỗi cạnh dài 50 ngũ.

Ngày đẹp tháng 3 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764).

(Hai cụ Ngỗ Kim Húc và Đặng Đức Thi khi đỗ đạt là người xã Hàng Kênh nhưng khi khắc bia sau thời gian chia tách làng nên ghi hai cụ là người thuộc xã Dư Hàng – DAD)

Phải chăng xã Dư Hàng chưa có Tư văn từ  khi xây dựng Đình  nên các cụ đã chọn Dư Hàng là nơi để xây mới Văn Miếu chung của hàng Huyện  (năm 1764)  còn Từ Vũ vẫn chỉ là văn từ của riêng Xã Hàng Kênh, song các xã trong huyện đều được khắc bia này để cùng thờ tại văn từ của Xã . (Bia thờ tiên hiền và hậu phối ). (Bia này trước kia ở Từ Vũ sau chuyển về xếp số I bên trái Văn Từ Hàng Kênh, Ở nhà bia đình Dư Hàng và một số xã khác cũng có bia này)

5-Văn bia số 5 (Lập năm 1796): Có tiêu đề là: “Trùng tu từ vũ bi ký” được làm và dựng năm Cảnh Thịnh thứ tư, tức năm 1796 đời vua Nguyễn Tây Sơn, Quang Toản (1793-1802), , khổ bia: 1,4m x 0,86m do 2 ông Nguyễn Đức Uông và Đặng Thì (thời) Liêu soạn. Nội dung kể về việc trùng tu (sữa chữa xây dựng lại) ngôi từ Vũ Hàng Kênh này từ mùa Xuân năm Ất Mão (1795) và đến tháng tư, Bính Thìn (khoảng tháng 5/ 1796) thì xong. Đặt lệ cho các hội viên Tư Văn phải nộp tiền quỹ và nộp tiền khao vọng (bao nhiêu, cụ thể rõ ràng). Mặt sau bia này lại còn có thêm 1 bài văn bia nữa, tiêu đề (ở trán bia khắc chữ): “Lịch Khoa Thí Trưng Bi Ký” có lạc khoản ghi rõ: Hoàng triều Minh Mạng Bát niên (1827), nhị nguyệt, thập bát nhật (ngày 18 tháng 2 âm lịch năm Đinh Hợi (khoảng đúng 13 – 3 [Mars]-1827). Nhưng, cũng được khắc thêm bổ sung vào thế kỷ 19. Vì đã ghi thêm các người thi đỗ các loại cấp bậc ở các khoa thi cho đến năm Kiến Phúc (1884). (đây là Bia thờ tiên hiền, Bia này trước kia ở Từ Vũ sau chuyển về xếp thứ I bên Phải Văn Từ Hàng Kênh).

6-Văn bia số 6 (Lập năm 1799) Là văn bia  do Thôn Bắc Hàng Kênh khắc năm 1799. Có thể đây là bia chép khi đảo ngói dọi mái sau đợt trùng tu năm 1796).

Nội dung:

“Bởi lẽ gì mà người xưa coi trọng việc dựng đá khắc bia. Bởi văn bia là những chứng tích phản ánh những cuộc biến thiên và cả lòng thiết tha của con người muốn giữ gìn những dấu vết quý giá của người xưa để truyền lại cho muôn đời sau. Trong thôn bắc xã Hàng Kênh ta từ xa xưa đã có ngôi đền linh thiêng.Từ ngày xây dựng đã nhiều lần trùng tu mà không có bia ký. Nhân lần dọi mái tu bổ này có làm thêm gian thờ hậu phối các vị tiên linh. Bèn dựng đá khắc bia lưu đời sau tỏ tường. Những vị được phối thờ bao gồm có 63 vị có tên từng người trong bia ký .(đây là Bia hậu phối Bia này hiện ở Từ Vũ không chuyển về Đình Kênh).

7-Văn bia số 7 ( Lập năm 1845) (Tác giả sưu tầm được tại Đình Dư Hàng văn bia của Từ Vũ  lập tháng 3 năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 năm 1845 là bia hậu Thần).

    Nguyên văn nội dung:

      Từng nghe! Dẫu không có xạ cũng vẫn là vân quý! Dẫu chưa vang danh nhưng đã hiển linh chí thánh. Đức của linh thần bao giờ cũng tấu trình trước nhất. Phúc của tổ tiên ở lại cháu con. Nay tân tạo Đình Vũ, lẽ nào không nhắc đến tính danh của tổ tiên, để hậu thế tỏ tường, noi theo mỹ tục mà tôn thờ mãi mãi.

Bản thôn ta có linh từ mà trước đây đã sáng lập 3 gian để phụng thờ tôn linh thần.

Trải qua các triều đến nay cải tạo lại đền cũ theo quy mô mới thành Đình Vũ.

Truy theo trong bản thôn tính danh tiên linh để mà phụng thờ khắc bia để hậu thế tỏ tường và phụng thờ mãi mãi.

  • Tiên tổ họ Nguyễn là: Nguyễn Châu An      – Chân linh
  • Tiên tổ họ Đặng là: Đặng Phúc Thỉnh          – Chân linh
  • Nguyễn Đức Nhận tên hiệu là Vạn Phúc (con thứ của Châu An)

 

  • Đặng Thế Hưu    – Chân linh
  • Đặng Thời Dự    – Chân linh
  • Nguyễn Đức Cơ – Chân linh

* Những vị được phối thờ gồm:

 – Sinh đồ Nguyễn Đức Chiêm

– Cai hợp Đặng Đình Quỹ

– Tri sự Lê Văn Mẫn

– Xã sử Đặng Thời Dung

– Xã sử Nguyễn Thế Duyệt

– Xã chính Đặng Đình Khuông

– Xã sử Nguyễn Thế Ninh

– Xã sử Đặng Đình Quý

– Cai Hợp Nguyễn Hữu Thời

– Xã chính Nguyễn Thế Lịch

– Xã sử Nguyễn Hữu

– Cai hợp Đặng Đình Quản

– Thứ tự Đặng Thời Ý

– Xã sử Đặng Đình Hàng

– Xã sử Nguyễn Thế Bảo

– Cai hợp Đặng Đình Tiết

– Lềnh trưởng Nguyễn Thức Tại

– Lềnh trưởng Nguyễn Thời Tuyển

– Xã sử Đặng Đình Khả

– Xã sử Nguyễn Hữu

– Xã chính Đặng Đình Duẩn

– Trưởng lão Đặng Đình Lục

– Trưởng lão Đặng Văn Ấn

– Trưởng lão Đặng Thế Trạng

– Trưởng lão Đặng Đình Thung

– Trưởng lão Đặng Đình Cư

– Trưởng lão Đặng Thế Minh

– Trưởng lão Đặng Đình Hoàng

– Tú tài Đặng Văn Phan

– Xã chính Nguyễn Khắc Lan

– Xã chính Nguyễn Thế Hương

– Xã sử Nguyễn Hữu Triết

– Xá sử Nguyễn Khắc Hịch

– Xã sử Nguyễn Thế Đà

– Xã sử Đặng Thời Kỳ

– Xã sử Nguyễn Khắc Nhi

– Khán Thủ Đặng Thời Ức

– Xã sử Đặng Thời Học

– Xã sử Đặng Thừa Kính

– Xã sử Nguyễn Khắc Chu

– Lão hạng Đặng Thời Sử

– Lão hạng Nguyễn Thế An

Tháng 3 năm Ất Tỵ niên hiệu Thiên Trị thứ 5 ( 1845)

Tú tài văn chương Nguyễn Thời Thuân soạn văn viết chữ.

8- Văn bia số 8 ( Lập năm 1894)   Bia đá này có nội dung là:

 “Ngày 4-9 niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894). Năm giáp Ngọ, thân hào chức dịch cùng toàn dân thôn Bắc xã Hàng Kênh dựng đá lập bia minh khắc lại việc trong thôn. Thôn Bắc vốn là ấp Kinh Dương xưa, vốn là vùng địa linh nhân kiệt nhất làng. Trong thôn có đền linh thiêng bấy lâu nghi ngút khói hương. Năm Nhâm thìn kỳ lão trong  , ngoài công của …toàn xã cung tiến được 5 ngìn quan để thêm tiền chi phí, thôn chiếu bổ mỗi lần…toàn thôn đóng mỗi người 6 bát gạo trị giá 1 quan 8 mạch nhưng kinh phí vẫn chưa đủ, vì thế những người đi quyên giáo phải xin cả xã, nhờ thần linh phù hộ, chỉ trong 1 năm tòa nhà lớn hoàn thành tiền thông hậu thoáng làm nền móng cho hàng vạn năm sau. Ngày khánh thành thôn khắc bia lưu lại mãi mãi tính danh các vị đóng góp và các lễ vọng trong thôn, người cao nhất 80 quan, người thấp nhất 10 quan. Có tính danh 110 vị có danh tính từng người trong văn bia”. 

( Ta hiểu ghi chép như trên là dân thôn Bắc thực hiện trùng tu ngôi Từ Vũ tọa lạc tại thôn Trung tức Hồ Sen ngày nay đây là bia hậu phối hiện ở Từ Vũ không chuyển về Đình Kểnh).

V- Những nhầm lẫn của người thời nay về cụ Vũ Chí Thắng và ngôi Từ Vũ .

1-Thân thế của cụ:

– Tên gọi: ngày nay vẫn chép là Vũ Chí Thắng, song theo Thanh bì giản bạ thì cụ còn có tên khác là Vũ Vạn Thắng vì họ Vũ ở Hàng Kênh là họ Vũ Vạn.

– Cụ là người thôn nào: họ Vũ hiện ở tập trung và có nhà thờ và lăng mộ của cụ tại thôn Đoài (Quán Nải), nhưng tài liệu của ông Đặng Đình Lái chép là thôn Bắc. Theo bản giới thiệu về cụ tại Đình Đông chép cụ là người  thôn Nam. Vì chưa rõ nên ghi chung cụ là người làng Hàng Kênh.

2-Ngôi từ vũ:

– “Từ Vũ” ở Hải Phòng hiện nay chính là ngôi Miếu thờ Bản thổ phúc Thần  Vũ Chí Thắng ở làng Hàng Kênh, tại phố Hồ Sen, phường Hàng Kênh, Hải Phòng.

Theo tên gọi, bất kỳ ngôi miếu thờ thành hoàng, thần làng nào cũng có thể gọi tên là “Từ Vũ”. Do không hiểu rõ chữ nghĩa Hán Nôm nhiều người  nhầm lẫn chữ Vũ là họ Vũ Võ (!) Phân tích chi tiết hơn Từ Vũ (宇)là ngôi đền, miếu lợp ngói to lớn thờ Thành Hoàng, như các làng Bắc Bộ xưa thường gọi nơi thờ  Thần của làng là Miếu Vũ, hay Từ Vũ, Như vậy nơi đây không thể gọi là “Đình Từ Vũ” được. (Trong các văn bia  đều ghi là Từ Vũ duy có số bia 6 có ghi là “Đình Vũ” có lẽ thấy ngôi từ to nên các cụ gọi thế chăng (?). Như vậy gọi là “Đình Từ Vũ” là tên mới đặt ra gần đây chưa chuẩn không có trong tài liệu nào và có sự trùng lặp, do Đình và Từ đều chỉ nơi thờ cúng)

Cần nói thêm, nếu là miếu thờ, đền thờ vị thần họ Vũ, thì người ta sẽ gọi là “Vũ miếu”  (  ) hoặc  “Vũ từ” ( ), hay  “Vũ công miếu” ( 工廟) hoặc “Vũ công  từ” (  工祠). Không thể gọi là ( 宇亭)“Đình Từ Vũ”. Vậy hiểu đúng sẽ là tên gọi “Từ Vũ”, ( )  Thần chủ là “Bản thổ Phúc Thần Vũ Tướng Công (武 將公本 土 福 神).

Chữ “Đình Từ Vũ” đắp trên cổng vào bằng chữ quốc ngữ cách điệu là không nghiêm túc, là chữ tên của ngôi “Từ Vũ”, phải chân phương  mới phù hợp.

Theo ý của nhóm Vũ Hiệp (Hội đồng họ Vũ –Võ),  thì Từ (祠) nghĩa là: Miếu thờ thần, nhà thờ tổ tiên, sự cúng tế (như Từ đường tức là  nhà thờ Họ) Vũ () tức là  mái nhà, không gian  như Miếu Vũ ( ) tức là  chỗ đền chùa thờ Thần, Phật tức là  Từ Vũ ( ). Đây cũng là một nhầm lẫn. Thực ra chữ Vũ phải là vũ (宇) nghĩa là Vũ trụ. Không phải vũ () nhà giải vũ, gian nhà ở hai bên tả vu hữu vu của Đình. Xin lưu ý chữ Đình Vũ  (宇亭)là chữ chính thức được ghi trong văn bia năm 1845.

Trên nóc Từ Vũ ghi hàng chữ Vũ tổ thị Hoàng (隍是祖武 – tổ họ vũ là thành hoàng) Là thiếu chính xác. Nên ghi lại là “Bản thổ Phúc Thần Vũ Tướng Công” (武 將公本 土 福 神).

Mỗi làng chỉ có một Đình do vậy làng Hàng Kênh không thể có hai Đình là đình Nhân Thọ và đình Từ Vũ. Tên gọi sai lầm là đình Từ Vũ chỉ mới xuất hiện sau năm 1996, khi ông Đặng Vũ Lái làm trưởng ban quản lý Từ Vũ, mô phỏng theo tên gọi của Đình Đông nên đã lấy tên là Đình để sánh ngang hàng với đình Kênh, đình Hàng mà thôi. (Thực ra Đình Đông chỉ là đình của thôn Đông không phải của cả xã, còn tên Đình Từ Vũ thì không có ý nghĩa gì, xưa các cụ gọi là Đình Vũ có lẽ hiểu là Đình của thôn Bắc).

– Về lịch sử hình thành ngôi Từ Vũ, các tài liệu hiện nay đều viết chưa đúng về năm xây dựng, sự chuyển đổi từ Tư Văn thành Từ Vũ cũng như trải qua các giai đoạn thăng trầm…Do vậy ta cần phải lấy mốc thời gian xây dựng và tu tạo theo văn bia.

– Đây là ngôi Tư Văn, sau chuyển thành Từ Vũ, do âm đọc như thế nên có nhà sử học có tuổi lại nhầm cho đây là Tư Vũ : “Từ Vũ – Hàng Kênh  miếu Vũ duy nhất còn lại của Hải Phòng” và viết tiếp “Nếu làng nào có lương tướng thì được lập miếu thờ do Hội Tư vũ sở tại lo liệu việc thờ tự. Từ Vũ Hàng Kênh còn lại cho đến ngày nay là một trong số đó”. Do có sự nhầm lẫn giữa tên Từ Vũ mà cụ cho là Tư Vũ thờ các tướng võ của làng. Tương tự Tư Văn thờ các tiên hiền về hàng văn.

– Đoàn khảo sát của hội đồng họ Vũ – Võ ngày 24-5- 2006 của ông Vũ Hiệp đã có sự nhầm lẫn cho Từ Vũ là Đình Hàng Kênh nên đã viết: “Trước khi nhận định kết quả chuyến khảo sát tại nơi gọi là “Từ Vũ” (Đình Hàng Kênh) ngày 24/5/2006 về nhân vật có thật Vũ Chí Thắng là ai?”….

-Về công tích của cụ giúp nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông là đúng, có Thần tích, song tác giả Vũ Hiệp thuộc đoàn khảo sát họ Vũ lại cho rằng đây là sự không có thật, chỉ là tìm sự hào hùng cho địa phương mình.

– Ngay tại lễ khánh thành cổng và khuôn viên Từ Vũ, các diễn văn và các bài báo tuyên truyền đều gọi sai là Đình Từ Vũ.

Phần VI-Kết luận và đề nghị

Ngôi Từ vũ là một di tích lịch sử của làng Hàng Kênh xưa trải qua thăng trầm tu sửa nâng cấp nhiều lần còn lưu lại nguyên vẹn tới ngày nay.

Ngôi Từ có “di sản” là khuôn viên và công trình kiến trúc, Có tượng Thánh từ thuở xưa, có kiệu cổ. Còn ghi nhận được nội dung 8 văn bia ở Từ Vũ trong đó có 3 văn bia hiện còn thờ ở trong từ lập từ năm 1700 đến 1845 (5văn bia đã chuyển về văn từ đình Hàng Kênh),  đoàn khảo sát của ông Vũ Hiệp đã đọc được nội dung, đặc biệt có 4 chân đá tảng kê cột kiểu cổ bồng cao 60 cm.

Có “tích” là Thần tích lập tháng giêng năm Hồng Đức thứ 9-1478, đời vua Lê Thánh Tông và Thần sắc của Vua Duy Tân thứ 3 năm 1910 (ngày 17-8) nói rõ tên và chức vị của ngài.

Hiện nay ngôi Từ đã được tu tạo hoàn chỉnh.

Đề nghị UBND phường Hàng Kênh báo cáo UBND Quận Lê Chân có phương án trình UBND thành phố cấp bằng Di tịch lịch sử cấp Thành phố cho Từ Vũ.

Để có thể lập được hồ sơ cần chuẩn chỉnh một số việc sau.

– Lập bản đồ quy hoạch, trích đo bản đồ địa chính cho ngôi từ.

– Tháo dỡ di chuyển ban thờ chân linh vô danh ra ngoài khuôn viên gian đại bái.

– Chính sửa hoàn chỉnh các bức đại tự, câu đối cho đúng vị trí và đúng với nội dung thờ tự tại ngôi từ.

– Đặt lại tên là “Từ Vũ”, bỏ chữ Đình và đắp lại theo dạng chữ quốc ngữ chân phương (có thể ghi thêm ở phía trên bằng chữ nho là Từ Vũ (宇   ) cho có sự linh thiêng và cổ kính). Nếu muốn dùng chữ Đình thì lấy tên là “Đình Vũ” (宇亭), như các cụ đã ghi trong văn bia năm 1845.

– Đắp lại hàng chữ trên nóc từ bỏ chữ “Vũ Tổ Thị Hoàng” (隍是祖武)mà thay bằng chữ “Vũ tướng công bản thổ phúc Thần hoặc “Vũ công phúc thần” (武 將公 本 土 福 神)

– Đề nghị UBND phường Hàng Kênh kiến nghị phòng Quản lý di tich thuộc bảo tàng thành phố và Sở Văn Hóa Thông tin và Thể thao tiến hành lập hồ sơ lí lịch của Từ Vũ để lập tờ trình xin UBND thành phố cấp bằng công nhận “Di tích lịch sử” cấp thành phố cho Từ Vũ.

 

  Mùa đông năm Canh Tý(12-2020)

Cử nhân Dương anh Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phụ lục:

     1-Đình Đông thờ cụ Vũ Chí Thắng.

Tác giả đã đến khảo sát tại Đình Đông thuộc phường Đông Hải, Quận Lê Chân được bà Phạm Thị Hà phó trưởng ban thường trực quản lý di tích cho biết:

Theo lịch sử Đình Đông từ xưa lưu truyền lại thì thôn Đông làng Hàng Kênh, nơi có nhiều người họ Đặng và họ Vũ sinh sống, vào năm Thiệu Trị thứ ba năm 1843 đã  xây dựng lên ngôi Đình này để thờ cụ Vũ Chí Thắng.

Từ cái tên Đình Đông, và Đình Vũ, cho ta thấy suy nghĩ cả dân hai thôn có sự tương đồng.Thôn Bắc năm 1799  trùng tu tôn tạo Tư văn, và năm 1845 xây lại thành Từ Vũ, văn bia khắc tên là Đình Vũ (!) thì dân thôn Đông cho là thôn Bắc có Đình của thôn thờ cụ Vũ Chí Thắng, thì Thôn Đông cũng xây Đình của thôn (!) để thờ tổ tiên gốc họ mình, phúc thần của làng mình, do vậy, khi xây xong nhà thờ cũng lấy tên là Đình Đông. Đình vũ của thôn Bắc ngang hàng với Đình Đông của thôn Đông chỉ là đình của thôn, ngôi Từ vũ gọi tên là Đình Từ Vũ thì chưa chuẩn.

Năm Tự Đức thứ 7, (1854), dân thôn Đông xã Hàng Kênh sửa lại Đình Đông, ngày 3-9 và ngày 25-9 khắc 2 văn bia ghi tên các chân linh được phối thờ. (theo văn bia tại Đình).

Sau hòa bình thôn Đông xã Hàng Kênh trở thành xã Đông Hải, năm 1992 dân xã Đông Hải trùng tu lại Đình như cũ.

Năm 2002 Xã Đông Hải chuyển thành Phường Đông Hải, năm 2009 chính quyền và nhân dân phường Đông Hải trùng tu lại Đình Đông có diện mạo như ngày nay.

Đình Đông là ngôi Từ nhỏ, diện tích cả khuôn viên  khoảng nửa sào, nội Đình có kết cấu hình chữ nhị.

Trước đây Gian Hậu cung thờ Phật, thờ Tứ Phủ và ban Trần Triều. Gian Đại bái là ban thờ cụ Vũ Chí Thắng.

Ngày nay Gian Hậu cung thờ cụ Vũ Chí Thắng hai bên thờ ban các tướng và ban thân sinh của ngài. Gian đại bái chính giữa là ban Phật, Phía phải là ban Tứ phủ và Trần Triều, phía trái là ban Liệt sĩ.

Hiện tại Đình Đông còn lưu giữ 2 văn bia khắc năm 1854.

Đặc biệt Đình Đông Có pho tượng Cụ Vũ Chí Thắng quý giá bằng đá cẩm thạch do con cháu của cụ cung tiến mấy năm gần đây.

Thực chất Đình Đông chỉ là một Từ Đường thờ phúc thần Vũ Chí Thắng (Dân làng theo tín ngưỡng dân gian đã đưa gian đại bái vào thờ Phật thờ Tứ Phủ là chưa phù hợp). Nơi thờ tự này gọi là Đình thì chưa chuẩn, song trong ý thức người dân thôn Đông đây là ngôi “Đình của thôn”.

 

 

 

 

Tượng Vũ Chí Thắng tại Đình Đông

 

 

 

 

 

 

 

2- Hai bài thơ về cụ Vũ Chí Thắng

 

                 BẠCH ĐẰNG GIANG

                     Tác giả :Dương Anh Dũng

                P.Trưởng ban thường trực Đình Dư Hàng

 

Ta đứng giữa ngã ba sông

Nơi địa linh,

ông cha ta thuở xưa đánh giặc

Dòng Kinh Thầy mang nước,

hợp lưu cùng Đá Vách

Để thành sông Đá Bạc oai hùng

Bãi cọc “Cao Quỳ” chặn quân Nguyên từ ngày ấy

Tám trăm năm rồi còn ủ giữa mênh mông

Hưng Đạo Vương nghe kế sách Vũ Tướng Công

Chặn Ô Mã Nhi – Phàn Tiếp

Không cho thuyền xuôi qua sông Giá ra biển,

đường gần

Mà vào Đá Bạc – Bạch Đằng,

trận đồ ta dăng sẵn.

Dùng thuyền nhỏ Quân dân ta chặn đánh

Khi Bạch Đằng đang nước nổi mênh mông

Chọn đúng lúc thủy triều dần dần rút

Thuyền nhỏ ta lui cho lũ giặc hung tàn

Xuôi dòng chảy để thoát ra cửa biển

Khi triều “rặc” bãi cọc dần xuất hiện

Là quân ta đồng loạt tiến công

Thuyền Hung Nô đắm chật dòng sông

Theo nước xiết, vỡ tan quân tướng chết

Xác giặc, xác thuyền, Nguyên Mông

loang màu huyết…

Chỉ một chiều quân giặc đón bại vong

 

Ngàn năm sau còn khắc những chiến công

Ngô – Lê – Trần viết bài ca trên ngọn sóng

Bạch Đằng Giang, Bạch Đằng Giang

Tiếng “sát Thát” bến Rừng muôn thuở vẫn còn vang…

       Thăm bãi cọc Cao Quỳ 27-11-2020

 

 

Ghi chú: Nơi này ghi dấu tích của Vũ Chí Thắng bày mưu chôn cọc khắp vùng Cao Quỳ và  chặn đường sông Giá buộc thủy quân địch do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy phải rút theo đường sông Bạch Đằng, nơi theo kế của Vũ Tướng Công quân ta bố trí trận địa cọc khiến đoàn thuyền giặc Nguyên Mông khi rút, vướng cọc nhọn bị tiêu diệt hoàn toàn. Hiện nay còn di tích tại Thủy Nguyên Hải Phòng.

 

ĐÌNH  VŨ

Tác giả Hà Xuân Khuê

                            P.Trưởng ban thường trực Từ Vũ

 

Tự hào lịch sử ngàn năm

Lầy lừng chiến thắng Bạch Đằng quê tôi

Hàng Kênh thời ấy một người

Giúp vua cọc gỗ chôn vùi Nguyên Mông.

Hóa thân ngài Vũ Tướng Công

Thành Hoàng bản thổ người dân tôn thờ.

Thăng trầm năm tháng gió mưa

Ngôi Đình Từ Vũ bây giờ khang trang

Mặt tiền xây cổng tam quan

Đường Hồ Sen mới thênh thang rộng dài

Ngược xuôi dưới ánh ban mai

Người, xe tấp nập đan cài đông vui

Hồ Sen bóng nước mây trời

Chùa Kênh chuông mõ vọng lời cầu kinh

Tuần rằm nô nức bên Đình

Hàng Kênh điểm nhấn tâm linh đất này.

Thanh bình đô thị hôm nay

Thu về ngan ngát hương say lòng người.

 

10-2020

 Khánh thành cổng và sân tường Từ Vũ

 

 

 

       Từ Vũ – Hàng Kênh

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *